Tản văn của Phạm Phương Liên: Bánh chưng xanh

Màu xanh của chiếc bánh chưng trong mâm cỗ ngày Tết luôn là thứ khiến tôi chững lại. Nó lặng lẽ như nhịp thở chậm giữa dòng đời tất bật, và mỗi lần nhìn vào tôi lại thấy hiện về tiếng cười của cả nhà trong những chiều cuối năm.

Năm nào nhà tôi cũng gói bánh. Đó không chỉ là việc để có bánh cúng gia tiên, đi Tết họ hàng và để dành ăn Tết, mà còn là niềm vui của cả nhà khi quây quần bên nhau. Vào độ hai mươi lăm, hai mươi sáu Tết, bà nội đã tất bật đi chợ mua lá dong, gạo nếp, đỗ xanh và mấy ống giang để ông tôi chẻ lạt buộc bánh.

Nhà văn Phạm Phương Liên ở Hà Nội

Thứ bám rễ trong trí nhớ tôi lâu nhất có lẽ là hình ảnh những chiếc lá dong được bà chọn lựa kỹ càng. Bà dạy muốn bánh đẹp thì lá không cần quá to, cũng không được quá nhỏ, quan trọng là phải lành lặn, không bị rách. Hai chị em tôi được giao nhiệm vụ rửa lá. Giếng nước đầy ăm ắp, hai đứa mỗi đứa một chậu to, mỗi đứa một cái giẻ lau, vừa làm vừa cười đùa rôm rả. Nước lạnh buốt, đôi tay nhỏ xíu của đỏ ửng lên vì giá nhưng chẳng đứa nào kêu lạnh vì niềm háo hức đã át đi tất cả. Lá dong được rửa sạch rồi đặt lên rổ úp ngược cho ráo nước, bà tôi lại cẩn thận buộc từng bó lá treo lên giàn để gió hong khô.

Đến ngày hai mươi tám, hai mươi chín Tết, không khí nhà tôi rộn ràng nhất. Bà nội dậy từ rất sớm đãi đỗ xanh, nấu chín, nắm thành từng nắm tròn đều tăm tắp. Mẹ đãi gạo nếp trắng tinh, còn bố thì đi đụng lợn với mấy bác trong xóm. Bố trở về với bao nhiêu là thịt, kể chuyện vui vẻ về việc cả xóm chung nhau mổ lợn, khiến không khí càng thêm ấm áp. Rổ thịt được bố ngả ra nào tai, mũi, nào chân giò, nào ba chỉ… tất cả đều được phân chia cẩn thận như cách những người lớn trong xóm tôi chia nhau cả niềm vui và trách nhiệm. Phần xương để dành nấu canh măng, phần tai, mũi để bố gói giò… phần thịt ba chỉ bố chia làm hai phần: một phần ướp gia vị để gói bánh chưng, phần còn lại mẹ làm thịt quay giòn rụm cho bữa cơm tất niên và những ngày trong Tết.

Chiếc chiếu nhỏ trải giữa nhà, cả nhà quây quần bên nhau. Mẹ bê thau gạo trắng phau, bà nắm đỗ, bố ướp thịt, còn hai chị em tôi hào hứng cắt lá dong. Bố gói bánh khéo léo lắm, chẳng cần đến khuôn mà cái nào cũng vuông vắn, đều đặn như nhau. Tôi thích thú nịnh bố cho thử gói một cái. Nhưng nhìn thì dễ, làm lại khó vô cùng. Chiếc bánh tôi gói loay hoay mãi vẫn méo mó cuối cùng phải nhờ bố chỉnh lại mới  xong. Gói xong những chiếc bánh to, bao giờ bố cũng gói thêm vài chiếc bánh nhỏ cho hai chị em.

Luộc bánh chưng có lẽ là cả một nghệ thuật. Bố tôi cẩn thận lót cuống lá dong dưới đáy nồi để bánh không bị cháy. Nồi bánh to bắc lên bếp, lửa đỏ rực, khói bếp nghi ngút bay lên hòa vào tiết trời se lạnh ngày cuối năm. Hai chị em tôi thay phiên nhau trông nồi bánh, vừa trông vừa tranh thủ lùi thêm vài củ khoai nướng. Những củ khoai to bằng nắm tay được ủ trong than lửa chín đều, xém vỏ, bẻ đôi ra chao ôi bùi béo và thơm ngậy làm sao. Mặt mũi hai chị em đều tèm lem vì nhọ than nhưng má đứa nào cũng đỏ hây hây như trái bồ quân. Vừa ăn vừa xuýt xoa, miệng thở đầy hơi khói mà sao cảm giác sung sướng đến lạ. Có lẽ khoai nướng là món ăn giản dị, dân dã nhưng vô cùng thơm ngon trong ký ức của đám trẻ quê mùa chúng tôi những ngày thơ ấu…

Có năm nhà tôi gói bánh vào chiều muộn, nồi bánh phải luộc qua đêm, hai chị em ngồi canh bếp mà mắt cứ díp lại vì buồn ngủ nhưng vẫn cố thức vì muốn đợi khoảnh khắc được nhìn bố vớt bánh. Khi chiếc bánh đầu tiên được đưa ra khỏi nồi, làn khói nóng bốc lên nghi ngút mang theo mùi thơm đặc trưng của lá dong và gạo nếp, tôi thấy lòng mình rộn ràng khó tả.

Bánh vớt ra được bố dùng tấm ván to ép cho ra bớt nước rồi để ráo hẳn mới đem dâng cúng tổ tiên. Đôi bánh đẹp nhất luôn được bố chọn để đặt lên bàn thờ, thắp nén nhang thơm dâng lên các cụ. Những chiếc bánh còn lại bố sẽ lựa thêm vài cặp để mang đi biếu họ hàng các nơi.

Háo hức là thế nhưng dường như trong mâm cỗ Tết với vô vàn lựa chọn thì bánh chưng không phải là món được ưu tiên hàng đầu vì đó là thứ có thể để dành được, là thứ mẹ có thể mang chiên lên thật giòn làm đồ ăn sáng cho cả nhà những ngày sau Tết.

Giờ đây, bánh chưng có thể mua quanh năm, chẳng cần chờ đến Tết, nhưng đối với tôi những chiếc bánh chưng ngày Tết do chính tay bố mẹ gói vẫn luôn mang hương vị thật đặc biệt. Hương vị ấy đong đầy tình thân, đong đầy những ký ức đẹp đẽ của tuổi thơ. Nhiều năm nay gia đình tôi vẫn duy trì được nếp nhà như vậy. Khi lớn lên, học đại học xa nhà, những ngày cuối tháng Chạp, bố mẹ luôn mong chờ tôi về để cả nhà cùng quây quần bên nhau gói bánh và cho đến bây giờ khi đã có gia đình riêng, năm nào tôi cũng được bố gửi cho vài đôi bánh ăn Tết. Thi thoảng về quê tôi vẫn nghe ông bà nội dặn bố mẹ tôi rằng “Sau này bố mẹ già rồi có đi theo các cụ thì dù có bận đến đâu, mấy ngày giáp Tết cũng cố gắng gói lấy vài đôi bánh để cúng gia tiên các con ạ!”

Cách đây không lâu tôi đọc được ở đâu đó câu nói, còn người lớn trong nhà là còn Tết. Tôi không tin hoàn toàn. Tôi chỉ tin vào hình ảnh của bố mình cặm cụi ngồi chẻ lạt bên hiên từ ngoài hai mươi Tết, bóng bà nội liêu xiêu ngoài ngõ, tay nội cắp chiếc rổ tre bên trong là những thếp lá dong xanh ngắt, mẹ tôi tất bật bên rá gạo nếp và bơ đỗ xanh thơm lừng. Tết của tôi vẫn nằm ở đó, trong nhịp thời gian, trong nếp nhà cũ và trong nỗ lực cố gắng giữ nó lại. Tôi tin, Tết không chỉ là một dịp lễ, mà còn là khoảnh khắc sum họp, là những ký ức quý giá đọng lại trong tâm hồn như cách người ta vẫn neo giữ những điều ấm áp, bình yên trong cõi vô minh này.

PHẠM PHƯƠNG LIÊN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *