Tản văn của Thanh Tuân: Từ những điều tưởng nhỏ

Từ nhỏ má thường dặn biết bao điều “con phải”: Gặp người lớn con phải chào hỏi; đi về phải thưa chào; ăn uống phải điềm đạm; nói năng phải lựa lời; đứng ngồi phải coi sau trước; ra xã hội lòng người đa đoan con phải cẩn thận…

Biết bao điều má từng thỏ thẻ, trong những bữa cơm, trong những đêm muộn, những mùa đông lạnh bên bếp lửa hay những lúc nghỉ ngơi giữa buổi làm đồng… Những lời má dặn như hành trang con mang theo trên những chặn hành trình của cuộc sống. Trong những lúc khó khăn nhất của cuộc đời, con vẫn thường nhớ về những lời má dặn.

Tác giả Thanh Tuân ở Quảng Nam

Còn ba, ba thường ít nói. Ba không nhắc con những điều “con phải” nhưng ba thường kể cho con nghe những câu chuyện về ba thời nhỏ, kể con nghe những câu chuyện về ông nội, về những người quanh ba. Nhớ những lúc trời mưa, ba cõng con trên vai đi từ trường về, ba nói ngày nhỏ ông nội cũng cõng ba như thế, tay ông nội còn bồng cô bảy. Ba thì ho, cô bảy thì sốt, ông nội phải cõng đi qua đò, đi bộ ra tới bệnh viện tỉnh. Tình cảm của con với gia đình mình bắt nguồn từ câu chuyện về gia đình của ba. Ba đã hun đúc lên trong lòng con những tình yêu thương, đoàn kết và gắn bó trong anh em con với nhau.

Rồi có những buổi trưa ngồi xem ba đan trạc, đan bội. Ba cần mẫn vót từng nan tre một. Ba dạy con cách đan, bắt nan đè nan, cách đan nan chiêng, cách lận vành… Bàn tay ba đen với những ngón tay gầy, bàn tay ấy đan được hầu hết những vật dụng trong nhà từ rổ, nia, sịa, trạc, bội… Những lúc như thế, con thường hỏi ba học đan ở đâu? Ba nói chỉ học lóm từ ông nội và từ những người khác. Ba có qua trường lớp nào đâu mà ba có thể làm được nhiều thứ và những đồ ba làm ra đều đẹp, nhà mình khỏi phải mua tốn tiền. Ba không nói với con là trong cuộc sống con cần phải tự học, phải chăm chỉ cần cù, phải kiên nhẫn trong mọi công việc, ấy thế mà qua công việc của ba, con chiêm nghiệm được bài học quý giá đó.

Ba kể, những ngày nhỏ, khi gia đình sống trong vùng địch, ba cũng đi làm để kiếm sống. Ba làm tất cả những việc gì có thể làm. Ba đã từng đạp xe đi bán kẹo rem qua tất cả các con hẻm ở Tam Kỳ ngày đó, có lúc ba đi tới tận Đà Nẵng, Quảng Ngãi. Ba đã từng đi ở cho nhà người ta phụ làm bánh mì, kẹo đậu phộng, làm đường tộ .v.v… Thuở nhỏ ba đã bươn chải để kiếm sống, có những lúc ngủ trên vỉa hè, ngủ trong sạp hàng của chợ Cồn v.v… Sự khó khăn, gian khổ đã tôi luyện ba thành một người đầy nghị lực. Ba không nhắc con phải có nghị lực để vượt qua khó khăn trong cuộc sống, ba không nhắc con phải mạnh mẽ để đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã. Ấy thế nhưng từ câu chuyện trong cuộc sống của ba, con thấy mình cần phải học những bài học về nghị lực sống.

Mỗi lần con mua một cuốn sách hay về, ba thường xem và đọc. Và mỗi lần như thế lại có thêm những câu chuyện, hay nói đúng hơn về những kỉ niệm của ba với những cuốn sách ba đã đọc qua. Ba bảo đã từng đào đất chôn những cuốn sách, những cuốn tiểu thuyết mà sau khi giải phóng, chính phủ lâm thời cấm không cho đọc. Sau này khi nhà nước bãi bỏ lệnh cấm đó thì cũng là lúc nước hồ Phú Ninh đã nhấn chìm quê hương ba và cả những cuốn sách tận đáy sâu vài chục mét rồi. Ba học chưa qua lớp một vậy mà những cuốn sách con học hôm nay, ba có thể kể vanh vách từng nhân vật. Từ các tác phẩm trong nước như: X ba mươi phá lưới, Mẫn và tôi, Chí Phèo, Lão Hạc… tới các tác phẩm nổi tiếng của nước ngoài như Cuốn theo chiều gió, Thép đã tôi thế đấy, Chiến tranh và hòa bình… hầu như ba đều biết. Con không hỏi vì sao ba biết, vì sao ba nhớ, chỉ biết rằng ba đã biết và trong ba luôn hằng một nỗi khát khao được đọc sách. Tự nhiên con thấy mình kém cỏi quá. Lẽ ra có điều kiện như con, con phải là người đọc nhiều hơn ba mới phải. Ấy vậy nhà những điều con biết trước ba chỉ là hạt cát nhỏ giữa sa mạc cát mênh mông.

Những lúc có mặt con, ba má thường kể với nhau những câu chuyện thời chiến, những khi quê hương bị khói lửa chiến tranh làm cho điêu tàn. Ba kể cảnh xóm làng ngày xưa đẹp lắm. Trong kí ức của ba, quê ba bao giờ cũng đẹp. Làng nằm dựa lưng vào núi, nhìn ra cánh đồng Nà chạy dài từ đầu làng tới cuối làng. Xa hơn là bờ tre chống càn nằm ven con sông Thất Lục, con sông hiền hòa mang bao nhiêu cá cho bà con. Bên kia con sông là đồi tranh xanh mượt… Những lời ba kể như những nét cọ vẽ làm con hình dung một bức tranh làng quê thật yên bình. Rồi má nhắc đến những trận càn của địch. Năm Sáu Tám ác liệt, Mỹ càn lên quê, nhà cửa bọn chúng đốt phá, trâu bò bị bắn chết, dân phải sơ tán mỗi người một ngã. Có những người mất nhà cửa, mất trâu bò, mất đi người thân, bà con hàng xóm nương tựa vào nhau sống qua những ngày tháng căm go ấy. Ba thường nhắc đến những người bà con hàng xóm bị địch bắt tra tấn, có người bị địch đập vỡ cả xương ống chân, đau rồi chết mà vẫn không khai cách mạng ở đâu. Trong kí ức của ba có những mảng kí là hoa là hương ngọt ngào nhưng cũng có những mảng kí ức đầy chông gai, thấm đẫm nước mắt.

Rồi hiến đất làm đập thủy lợi Phú Ninh, rồi lên vùng đất mới hôm nay, sự hoài vọng về một miền quê cũ làm động lực để má ba xây dựng, vun đắp cho làng quê mới này. Con im lặng nghe những lời kể để rồi thấy lòng ngổn ngang quá. Cái tình người và tình quê thật nồng mặn.  Ôi! Cuộc sống có bao điều quý giá, ấy nhưng những điều quý giá nhất với con có lẽ đó là những điều con học được từ ba, má.

THANH TUÂN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *