Tản văn của Trần Tâm: Dụng cụ bắt cá

Không giống người Mông sống trên vùng núi cao, người Thái lại thường tập trung ở vùng đồi núi thấp, thung lũng, gần sông suối. Lương thực chủ yếu tự cung tự cấp còn thực phẩm cải thiện bữa ăn, họ đã biết làm ra các dụng cụ săn bắn, cạm bắt tôm cá mà không ảnh hưởng lớn đến môi trường.

Nhà văn Trần Tâm ở Quảng Ninh

Lang xỏn là dụng cụ đánh bắt tôm cá ở khe suối. Chọn cây nứa to dài chừng gần hai mét, đường kính bốn năm phân, chẻ đều, dùng các nan đan hình phễu. Một đầu để nguyên thân có đốt dài khoảng bảy phân. Lang xỏn dài nên không cần hom được sử dụng như đó ở nhiều vùng quê đồng bằng Bắc bộ.

Họ tạo ra vợt xúc đánh bắt tôm cá ở sông suối, cải thiện bữa ăn hàng ngày. Vợt xúc cá có hình túi, mắt vợt nhỏ, đáy vợt tròn, miệng rộng chừng nửa mét, được cạp với thanh tre nhỏ uốn thành hình tam giác.

Trước đây, vợt được làm từ vỏ cây pán, cây po mọc tự nhiên trong rừng. Vỏ cây có hai lớp, cạo phần vỏ ngoài lấy phần trong phơi khô, se thành những sợi nhỏ, dẻo chắc, để đan vợt. Công việc nặng nhọc do đàn ông đảm nhiệm. Bây giờ người dân không mất nhiều công làm sợi po, sợi pán nữa mà chuyển sang dây dù bán sẵn ngoài thị trường ngâm nước được lâu bền hơn. Phụ nữ và trẻ nhỏ cũng đảm nhiệm công việc làm vợt. Vợt dùng xúc cá ở khe suối, bờ ao…

Đến Chiềng Khoa (Quỳnh Nhai, Sơn La), hay gặp là nhóm người tụm ba, tụm năm bên hiên nhà, dưới bóng cây với những đôi tay thoăn thoắt luồn những sợi dây dù đan vợt xúc cá.

Lúc đầu, họ chỉ dùng trong gia đình, sau thấy nhiều người hỏi mua nên đan nhiều để bán. Dăm ngày xong một cái. Người già, trẻ nhỏ từ mười tuổi trở lên hầu như ai cũng biết đan. Mỗi chiếc bán năm mươi nghìn đồng. Tranh thủ thời gian rảnh rỗi, cả nhà cũng đan được hơn chục cái mỗi tháng, thêm thu nhập phục vụ sinh hoạt gia đình.

Trong phong tục của người Thái, vợt xúc cá là một nét độc đáo trong đời sống tinh thần được sử dụng trong các lễ cúng bái, lúc tiễn đưa chôn cất người chết. Khi xong việc, họ dùng vợt khua quanh mộ người chết để Khék khuon, Xỏn khuon nghĩa là Gọi hồn hay Xúc hồn người đưa đám về, không cho đi theo người chết.

Khoảng dăm năm trở lại đây, việc đan vợt xúc cá do người Thái làm ra được nhiều nơi đến đặt mua. Vợt đan rất chắc, bền, làm ra đến đâu bán hết đến đấy. Sản phẩm được bày bán tại các phiên chợ huyện hoặc ngay cửa nhà.

Nhiều gia đình ở Thạch Sơn (Anh Sơn. Nghệ An) đã gắn bó với nghề dùng rọ thả sông bắt tôm. Hàng ngày, người dân vẫn miệt mài, vừa đan vừa thả rọ kiếm thêm nguồn thu nhập. Theo mùa và con nước, họ còn thả rọ bắt cá lăng. Để bắt cá lăng, họ sử dụng một loại rọ khác. Rọ này cũng đan từ tre nhưng thưa và kích thước lớn hơn nhiều. Còn một loại cũng đan bằng tre gọi là đụt. Hàng ngày, những chiếc đụt nhỏ gọn này dùng bắt cá chạch. Kích thước nhỏ nhưng sử dụng nó rất hiệu quả và thường có trong mỗi nhà dân Anh Sơn bên dòng sông Giăng.

Đánh bắt cá vùng gần sông suối thường diễn ra trong những ngày nông nhàn. Có nơi, dăm bảy người chọn khu vực đánh bắt rồi cùng ngăn một đoạn suối, tát cạn. Họ dùng nơm để úp, dùng rổ xúc, bỏ cá vào giỏ đeo bên hông. Mùa khô nước cạn, người ta thường dùng cây rừng có độc như thàn mát, đùng đục… làm cho cá say thuốc. Cá bị say thuốc nổi lên mặt nước, cua ếch say nằm bò đờ đẫn, chỉ việc vớt lên. Làm cách này một năm chỉ thuốc một, hai lần trên một khúc suối cạn. Ở những quãng sông to, nước sâu, cách đánh cá phổ biến là dùng chài. Ngay cả những người Mường, Thái… ở trên núi cũng dùng chài đánh cá trên các dòng sông, dòng suối. Lưới này được đan bằng sợi loại cây trồng trong rẫy tước ra. Vì lưới quá nhẹ không chìm khi quăng lưới, họ đã buộc xung quanh những mảnh đồng, hoặc những mảnh gốm, sử dụng thuyền độc mộc, mủng… quăng chài đánh bắt cá.

Người Thái ở Tây bắc đánh bắt cá

Ở ven những vũng sâu ngày đông ken nhiều cá nhỏ, người ta còn lấy đá rêu rong đắp thành bờ, vây lại. Sau đó, dồn bờ, dùng vợt xúc. Cuối mùa khô, người dân đốt bãi, dọn rác lá. Lúc mưa nước dâng lên, cá vào ăn tro thì dùng đơm úp. Dân làng còn rủ nhau xếp đá, đắp những con đập nhỏ, dùng nứa đan những tấm rào chặn ngang dòng nước, đặt đó để bắt cá. Dụng cụ đánh bắt cá được đan bằng tre, mây: hom làm bằng que tre nhọn, sắp hình chóp, đặt ở những nơi ngược dòng nước chảy chừa lối cho cá, lươn… vào nhưng không ra được.

Việc đánh bắt cá lúc đầu chỉ bổ sung thực  phẩm vào bữa ăn, ướp mắm hoặc phơi khô dự trữ. Sau này đồng bào đã biết dùng cá, tôm,… đổi lấy muối, vải, lúa… Ở một vài nơi, mùa xuân nhiều người chuyên đi bắt cá sấy khô để dùng hay làm vật trao đổi rồi mới đến mua bán bằng tiền.

Dụng cụ đánh bắt cá của các dân tộc không gây hại lớn tới môi trường sống của các loài thủy sản. Nói chung không thể kể hết những dụng cụ truyền thống mà các dân tộc Việt Nam đã sử dụng những vật liệu thô sơ đơn giản để săn bắt cá trên sông suối.

Những công cụ, dụng cụ được ngư dân sử dụng để khai thác, đánh bắt các loại thủy, hải sản bằng phương pháp thủ công, cổ truyền.

Nhiều loại ngư cụ được người Việt sáng chế, sử dụng từ xa xưa còn truyền lại đến ngày nay với số lượng rất lớn, đa dạng, phong phú về loại hình gồm: đó, lờ, te, câu, đăng, đáy, ống lươn, vó, dậm, mơm, chài, lưới, giỏ… Họ đã sáng tạo ra những dụng cụ tiện lợi hữu ích nhằm tăng thêm nhu cầu sinh hoạt trong đời sống từ mỗi địa phương.

TRẦN TÂM

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *