Từ thời học phổ thông, được biết ở thế kỷ XIII, vó ngựa Mông Cổ của Thành Cát Tư Hãn đã tung hoành làm cho bao nước trên thế giới kinh hoàng, khiếp sợ “Vó ngựa Mông Cổ đi đến đâu, ở đó cỏ không mọc được”. Chỉ đến Đại Việt vó ngựa Mông Cổ mới phải khuất phục. Từ thời đó, tôi đã xây ước mơ khám phá vó ngựa của đất nước Mông Cổ.

Chúng tôi đi qua Nội Mông, qua cửa khẩu Erlien của Trung Quốc, sang cửa khẩu Zaminin của Mông Cổ, dọc theo con đường quốc lộ độc đạo về Thủ đô Ulanbaatar. Quãng đường hơn 500 km, mênh mông bao la, tít tắp tít tắp đến tận chân trời là đồng cỏ thảo nguyên. Cỏ ở đây không mướt xanh vì khí hậu sa mạc khắc nghiệt khô và lạnh nên đất đai khô cằn, chủ yếu cỏ màu bàng bạc, vàng vàng như đất. Về gần Thủ đô có mưa nên cỏ xanh hơn. Trên sa mạc, từng đàn bò, ngựa, lạc đà hai bướu, dê và cừu, từ vài chục đến vài trăm con thi nhau gặm cỏ. Chúng được thả rông không cần người chăn, tối chúng tự về chuồng. Thỉnh thoảng chúng tôi dừng xe đến gần để chụp ảnh, nhưng thấy người đến là chúng bỏ chạy, ngựa và lạc đà phi nhanh thành hàng dài thật đẹp.
Người Mông Cổ cưỡi ngựa, bắn cung rất tài. Ngựa phi như bay, họ không quay đầu lại phía sau để ngắm đích mà mũi tên vẫn bắn trúng hồng tâm. Ngựa chở người và hàng nặng leo dốc đồi núi, sỏi đá vẫn đi cả ngày không mệt. Họ có cách nuôi dưỡng và huấn luyện ngựa rất riêng, rất độc đáo, đặc biệt là ngựa kỵ binh của người Tatar. Họ được coi là bậc thầy trong việc nuôi dưỡng và huấn luyện ngựa chiến Mông Cổ.
Việc chọn lựa nuôi dưỡng ngựa chiến của người Tatar cực kỳ công phu. Họ bắt loại ngựa hoang ở vùng núi Altay, nơi khí hậu khắc nghiệt có loại ngựa móng cứng như đá để đi trên địa hình gồ ghề sỏi đá không cần đóng móng sắt. Họ chọn loại lông dày hai lớp để chống nhiệt độ lạnh dưới âm 40 độ C, loại ngựa dáng thấp ngực nở để có trọng tâm thấp, cân bằng tốt, loại có tính gan lì không hoảng sợ trước chó sói, tiếng động mạnh, tiếng la hét…
Họ nuôi ngựa bán hoang dã, thả tự do trên thảo nguyên theo đàn từ 20 đến 30 con, chúng tự kiếm cỏ ăn. Ở đây có nhiều loại cỏ có giá trị dinh dưỡng cao như cỏ lúa mạch đen, cỏ bấc đèn, cỏ lăn…Vào mùa đông ngựa được bổ sung thêm thức ăn như thịt cừu khô, mỡ và sữa ngựa cung cấp đạm, năng lượng để ngựa chống rét.
Cách huấn luyện ngựa cũng rất bài bản và khắc nghiệt. Ngựa non được cho uống nước có thả băng để tăng sức chịu lạnh. Ngựa trưởng thành được xoa tuyết lên người hàng ngày để có lớp da dày, lông bóng mượt, người ta gọi là tắm tuyết. Họ huấn luyện ngựa chạy trên đồi núi, trên những địa hình phức tạp, vượt qua sông lạnh, buộc da sói quanh cổ để tập phản xạ khi gặp sói thật. Một tháng hai lần bắt ngựa nhịn ăn cả ngày để tập cho dạ dày co giãn tốt. Họ buộc ngựa non vào đuôi ngựa mẹ, phải chạy theo mẹ qua mọi địa hình, mọi tốc độ cho quen. Họ đốt lửa gần chân ngựa, đập chiêng kêu thật to để ngựa không sợ lửa, không sợ tiếng động lớn. Họ phóng lao qua đầu ngựa cho chúng tập tránh né, đeo vòng da quanh mõm để di chuyển ngựa không hí vang.
Họ chăm sóc ngựa hết sức đặc biệt. Mùa Xuân cạo lông để kích thích mọc lông mới, tiêm nước sắc rễ cây hoàng liên để phòng bệnh. Mùa Hè, cho tắm sông ngày 2 lần, bôi dầu cá lên khớp gối để chống viêm nhiễm. Mùa Thu, họ tẩy giun bằng hạt bí ngô nghiền và cho ăn nho khô để tăng sức bền. Mùa Đông, ngựa được quấn da cừu quanh bụng để giữ ấm, được bôi mỡ trăn lên móng để chống nứt.
Người ta quan niệm ngựa là chân thứ ba của kỵ sĩ. Một con ngựa chiến giỏi phải hiểu ý chủ, như tay chân của chủ. Người đối xử với ngựa bằng tình cảm, không roi vọt, giao tiếp với ngựa bằng cách thổi vào mũi ngựa, hát cho ngựa nghe. Như vậy ngựa vừa thân thiện, vừa không quên chủ. Người có thể ngủ cùng ngựa trong lều để xây dựng lòng tin.
Trước khi xung trận, người ta không cho ngựa ăn no, chỉ ăn ít cỏ khô và muối hồng Himalaya để bụng nhẹ, tỉnh táo, cho uống nước pha rượu sữa ngựa giúp ngựa hưng phấn. Họ còn xoa bóp cho ngựa bằng hỗn hợp nghệ, gừng, mật gấu để giãn cơ, phòng chuột rút.

Cách nuôi và huấn luyện ấy đã tạo cho ngựa có thể phi khoảng 30 – 40 km một giờ, có thể đi liên tục trong cả tuần, có thể sống dưới âm 40 độ C mà không cần chuồng, có thể vượt sông sâu, có thể quay đầu 180 độ trong chớp mắt.
Có lẽ tất cả những điều đó đã giúp kỵ binh Mông Cổ chinh phục thế giới và kỹ thuật này được Unesco công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể. Ngày nay việc chăm sóc và huấn luyện ngựa vẫn được duy trì nhưng huấn luyện ngựa thường không khắt khe bằng huấn luyện ngựa chiến.
Hàng năm, khoảng giữa tháng bảy, người Mông Cổ tổ chức lễ hội Naadam – một lễ hội truyền thống lớn, thể hiện tinh thần thể thao từ ngàn xưa, nó còn là đời sống văn hóa tinh thần được giữ gìn và phát huy. Lễ hội có ba môn thi đấu: đấu vật, đua ngựa và bắn cung. Đua ngựa là môn cuốn hút nhất, thường là các vận động viên nhí từ 5 – 13 tuổi tranh tài trên quãng đường dài 15 – 30 km. Nhìn hình ảnh trẻ em cùng ngựa bay trên thảo nguyên thật mãn nhãn và càng tự hào, ngưỡng mộ người dân Mông Cổ, càng khâm phục vó ngựa Mông Cổ.
Ngựa Mông Cổ tuyệt vời thế nên nhiều nước rất thích và muốn được sở hữu. Năm 2023, chính phủ và nhân dân Mông Cổ đã tặng Bộ Công an Việt Nam 105 con ngựa, 70 con được huấn luyện làm ngựa chiến, 35 con để làm ngựa giống. Chuyên gia Mông Cổ cũng sang Việt Nam để hỗ trợ nuôi và huấn luyện ngựa. Đó là cách người Mông Cổ thắt chặt mối quan hệ hợp tác, hữu nghị mật thiết, bền chặt với chính phủ và nhân dân Việt Nam. Trong lễ kỉ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ 7/5/2024 ở thành phố Điện Biên Phủ và trong cuộc diễu binh 30/4/2025 tại thành phố Hồ Chí Minh kỷ niệm 50 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước, đội kị binh đã xuất hiện thật oai phong, góp phần vào đội quân hùng hậu của quân đội ta.
Đoàn chúng tôi được trải nghiệm cưỡi ngựa thật thú vị. Ngựa Mông Cổ có màu vàng nâu, nâu sẫm, đen, trắng, tôi được cưỡi con ngựa loang nâu trắng trông thật lạ mắt. Gần cả tiếng di chuyển trên triền núi dốc, sỏi đá gồ ghề. Cảm giác nếu mình đi bộ dễ bị trượt ngã, nhất là lúc xuống dốc đứng. Dù chở người nặng nhưng ngựa vẫn đi băng băng không hề bị trượt chân. Họ bảo ngựa rất thích phi nhưng chúng tôi sợ nên chỉ dám đi nước kiệu, nhưng cũng khá nhanh. Đường núi nên người cứ nhảy trên lưng ngựa, muốn bay khỏi yên ngựa, có đoạn phải nắm hai tay vào yên thật chặt, ngựa đổ dốc phải ngả người phía sau cho khỏi ngã. Dù lần đầu cưỡi ngựa đi xa trên đường xấu nhưng ai cũng mẩn mê như mình là dân du mục được hòa mình giữa thiên nhiên, được ngắm rừng thông xanh mướt, những ngọn núi đá sừng sững, những ngọn đồi thoai thoải, thật quá đỗi mãn nguyện.
Chúng tôi gặp đoàn học sinh hàng trăm cháu, khoảng 7- 8 tuổi đi dã ngoại, lưng đeo ba lô vẫy tay chào chúng tôi. Chúng tôi học được tiếng chào của người Mông Cổ chào các cháu để giao lưu, các cháu chào lại thật vui, thật hạnh phúc.
Chúng tôi được hít không khí thoáng đãng trong lành của thảo nguyên, được hít cả bụi và mùi phân ngựa. Một cảm giác thật khó tả cứ đọng mãi trong tôi. Đây là trải nghiệm tuyệt vời nhất trong chuyến đi này.
Quả thật, qua tìm hiểu và trải nghiệm, chúng tôi càng khâm phục và ngưỡng mộ vó ngựa của người dân Mông Cổ.
PHẠM THỊ HỒNG THU

















