Thơ Lê Tú Lệ – những dòng thơ có lửa…

VHSG- Đó là ngọn lửa trong trái tim đầy tràn tình yêu thương. Một tình yêu thôi thúc đến nao lòng, dường như lúc nào ta cũng có thể nhìn thấy nó sôi lên, tràn trề, nôn nao và tuôn chảy… Ngọn lửa ấy dường như lâu lắm ta mới tìm thấy lại trong những trang thơ của thế hệ viết sau chiến tranh…

Nhà thơ Lê Tú Lệ

“Mờ khơi dong vút cánh buồm” nghe dường như rất bãng lãng, nhưng là ngọn lửa đã thắt cùng trái tim người đọc, từ nỗi niềm thắt thỏm nhớ thương hình bóng cũ của chính mình ở nơi đất ở, nơi mà tuổi thơ nhà thơ đã đi qua trong chiến tranh. Một Hà Nội vừa lãng mạn vừa bi hùng gói gọn trong ký ức cô bé 16 tuổi ngày xưa. Nay trở về, nhìn lại chốn cũ, nỗi nhớ nôn nao đã bật lên như tiếng thầm thì riêng với chính mình:

… Ừ thì về quá vãng ngoại ô

Lượm tiếng bom rung giấu vào hơi thở

Đàn sấu rụng vỡ mấy tầng thương nhớ

Gói mưa phùn dành ướt lúc thôi xuân…

                     (Nhớ Thăng Long)

Hà Nội là nơi đất ở, đã gói gọn tuổi thơ nhà thơ, gói cả tất cả những khúc ca bi tráng và cả một trời mơ mộng của những quả sấu, của những hạt mưa bụi li ti mà trời Nam không có. Dẫu là những dòng rất lãng mạn về một tình yêu đã xa, về một bóng hình đã nhòa trong tim, nhưng vẫn có cái gì ray rứt đến nao lòng.

Kiếp tằm

            phải trả nợ dâu

Tơ tằm

           buộc lấy ngàn sau chữ tình

Khỏa rong rêu

                    Giữa chúng mình

Lại trong ngân ngấn

                 Mắt nhìn nhau xưa…

                              (Tơ tằm)

Bài thơ là một chữ buồn, nhưng nhẹ lắm, thinh không lắm. Một  chút thương yêu, một chút vấn vương, nhưng nhẹ như mây, cái buồn rười rượi ấy làm ta nhớ mấy chữ “con mắt còn có đuôi” của cụ Phan Khôi. Nhưng tình yêu ấy cũng có lúc dâng trào như lửa, quay quắt đớn đau:

Bỏng rát gan bàn chân

Em tự cháy trong anh lanh canh lửa cát

Biển ăm ắp mà cả đời ta khát

Một phiến buồn thầm lặng xa xanh…

                              (Cát)

Tình yêu trong thơ Lê Tú Lệ chẳng bao giờ là trực diện, mà là cái nhìn xa xăm vọng vào ký ức. Viết về Cát, về Tơ Tằm, về hơi xuân mà thấy cả một tình yêu dạt dào của  ký ức được gói gọn trong trái tim thơ…

Nhưng đó chỉ là vài sợi tơ vương nhẹ trong tâm hồn, một phút lãng mạn xao lòng, cũng giống như nỗi bồi hồi nhớ tiếc một dòng kinh, một bến nước… Nhìn cảnh vật bây giờ nhớ chuyện ngày xưa như một cái nhìn sâu vào quá khứ của một thời mở cõi đất Phương Nam.

… Hàng Bàng – Hàng Bàng

Dòng kênh ấy bây giờ không còn nữa

Nước vô vọng tìm dòng

Nước long đong trên phố…

        (Khóc một dòng kênh)

Đó cũng giống như vài hạt sương rơi nhẹ, khép nép khẽ khàng bên nguồn mạch chủ đạo của những trang thơ lửa cháy. Những Thác Bản Giốc, Khoảnh khắc Thương Giang, Khúc Chi Lăng tráng ca, Hòn đảo hình mũi giáo, Lục bát đảo đá, Lính đảo, Lời cha, Những bà mẹ Gạc Ma, Gửi sóng… chính là những khúc tráng ca cất lên như những bài hịch ra trận. Đọc những câu thơ đầy lửa ấy, ai không cảm thấy sôi chảy tình yêu đất nước mình. Một đất nước ngàn năm đau thương mà vẫn ngẩng cao đầu.

Này bẫy đá ầm ầm rung chuyển

Này muôn cây lẫy nỏ rùng rung

Tiếng quân reo ngựa hí vỡ cả trời

 Xác giặc chất chồng lớp lớp

Liễu Thăng cụt đầu hóa đá vẫn còn run

            (Khúc Chi Lăng tráng ca)

Chuyện của ngàn năm xưa tới bây giờ vẫn còn nguyên ý nghĩa. Vẫn nỗi đau không dứt, vẫn tiếp tục tái hiện như một nỗi ám ảnh không nguôi trong lòng người dân Việt.

Có phải ý trời mà Trường Sa Lớn mang hình mũi giáo

Mũi giáo Cha Lạc Long Quân cưỡi sóng dữ khuất phục thuồng luồng, cá kình, cá mập…

                                                        (Hòn đảo hình mũi giáo)

Và tiếp đó là nỗi đau, nỗi đau của máu hòa trộn với dòng sông dựng nên tượng đài bi hùng của một dân tộc không lúc nào không thắt thỏm bóng quân thù…

Khoảnh khắc Thương Giang

Ngàn năm đồng hiện

Lớp lớp hồn người tay chài tay kiếm

Sóng người ôm sóng nước

Nước bẩn bao lần

                      rửa bằng máu giặc

                                          lại xanh nguyên.

                     (Khoảnh khắc Thương Giang)

Tập thơ “Mờ khơi dong vút cánh buồm” của Lê Tú Lệ

Tình yêu quê hương đất nước như sôi lên cùng sông, cùng núi, cùng biển trời… Tất cả như cùng thở trong cùng hơi thở của nhà thơ. Thác Bản Giốc như “Xói vào lòng đá một nhát chém” và rơi vào trái tim đau, nỗi đau bi tráng:

Ba mươi bốn năm trôi qua.

Anh linh liệt sĩ

Vẫn thức canh trời

Nghe thác đổ…

     (Thác Bản Giốc)

Ngọn lửa vẫn tiếp tục cháy trong từng câu chữ, dù đọc lên thấy đau như xát muối. Nỗi đau sau chiến tranh vẫn như là một vết cắt không bao giờ lành. Anh linh hàng triệu liệt sĩ vẫn còn đó. Trong từng ngọn cỏ, từng nắm đất, từng con sông, từng ngọn sóng biển Đông… Họ đang ở đâu, những con người còn rất trẻ đã sống và chết vì đất nước này? Nỗi thao thức về một người cô còn rất trẻ đã  hy sinh trong chiến tranh, về những người lính trẻ hóa thành nhành hoa trắng trên dòng sông Thạch Hãn, về nỗi đau của người mẹ Gạc Ma cùng những anh linh trôi dạt ở biển Đông 24 năm xưa… Tất cả bện lại thành một dòng nước mắt tuôn chảy, dòng nước mắt cả dân tộc khóc cho nỗi đau trên chính cơ thể mình.

Con thay mẹ ra thăm anh

Thay mẹ gửi hoa cho sóng

Thay mẹ xoa mềm đá khóc

Chẳng thể nào cất đỡ mẹ gánh đau…

Những bà mẹ Gạc Ma vẫn chong đèn đợi cửa

Đêm dày thêm mỗi ngày

Nhớ đầy thêm mỗi khắc

Gió thốc vào nhà lại trở ngược ra khơi

Biển giấu các con mẹ ở đâu, ở đâu

Để người bạc đầu thay sóng

            (Những bà mẹ Gạc Ma)

Đọc Lê Tú Lệ như nhìn thấy cả trái tim tha thiết, nồng nàn trong từng câu từng chữ. Con chữ như nhập vào anh linh người đã khuất, cất lời của gió, của sông…

… Con không thấy mặt cha

Nhưng cha đang nhìn con rất rõ

Cha nhìn con bằng rưng rưng mắt gió

Bằng ngân ngấn lung linh đốm nước

Nhìn con qua hơi thở dài hun hút bốn mươi năm

Qua khát vọng lưới chài người ngư dân lụi cụi

Tôm cá sông Thạch Hãn này cùng tắm máu lớn lên

                                      (Lời cha)

Những câu chữ như xoáy vào trái tim người đọc, bắt người ta phải sống cùng, thở cùng nỗi niềm mà chị đang trang trải. Đó là sức hút của lửa, lửa trong tim chị cháy bỏng và chị bắt mọi người phải tan chảy cùng chị…

Nhưng cũng có lúc ngọn lửa ấy chỉ còn hơi ấm nồng nàn dịu nhẹ khi tiễn biệt một con người vĩ đại của dân tộc.

Chiều nay

Cây khế tiễn người lặng lẽ chít khăn tang

Tổ quốc tiễn người bằng niềm kiêu hãnh

Chúng con tiễn người bằng quân lệnh trong tim!

                    (Hành trình mới của Đại tướng)

Đọc thơ chị để thấy cả tâm hồn chị. Một tâm hồn có lửa…

NGÔ NGỌC NGŨ LONG

____________________________

Nhà thơ Lê Tú Lệ sinh ngày 26 tháng 9 năm 1959 tại Hà Nội, nguyên quán ở Mỹ Tho, Tiền Giang. Tốt nghiệp Đại học Luật, bà từng giữ hàm Phó ban Tuyên giáo Thành uỷ – Trưởng phòng Văn hoá văn nghệ của Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật – Ban Tuyên giáo Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh, Uỷ viên Ban Kiểm tra Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh khoá VI (2010-2015), Phó Chủ tịch Hội đồng Thơ khoá VII (2015-2020).

Hiện nay, nhà thơ Lê Tú Lệ là Phó Chủ tịch Thường trực Liên hiệp các Hội VHNT Thành phố Hồ Chí Minh.

Tác phẩm đã xuất bản:

– Giấc mơ – thơ, NXB Hội Nhà văn, 1993.

– Gươm đàn nửa gánh – thơ, NXB Trẻ, 1999.

– Lỡ tay rượu đổ thềm người – thơ, NXT Trẻ, 2002.

– Văn học nghệ thuật – đôi điều nói lại – tiểu luận, NXB Văn Học, 2011.

– Mờ khơi dong vút cánh buồm – thơ – NXB Văn Hoá Văn Nghệ, 2013
– Những ngày không gió – tiểu luận, bút ký – NXB Văn Hoá Văn Nghệ 2017.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.