Truyện ký của Trần Khởi: Sau cuộc chiến

Thành cho tay vào túi áo lôi ra một vật gì trăng trắng rồi vội nhét vào bâu áo mình nói:

– Cái Tâm nó gửi thư cho mày đó!

Mình trố mắt:

– Tâm nào?

Thành cười mỉa:

– Giả vờ nữa! Tâm Văn thư cháu ông Quang Sư trưởng Sư đoàn mình đó!

Thành lại nói tiếp:

– Nó bảo nó yêu mày. Mình cười nói:

– Mà tau yêu nó khi mô? Mày yêu nó thì có, đã có lần tao nghe mày kể:

– Hồi ở Đồng Đế Nha Trang, mày sốt nặng, nàng ngồi suốt đêm hát và ru cho mày ngủ đến sáng mà.

Thành cười giục:

– Thì cứ xem đi hẵng biết nó yêu ai!

Nghe Thành nói tôi cứ lờ đi vì khẳng định chẳng bao giờ có chuyện đó xảy ra cả. Thành bật đèn pin lại giục:

– Thì mở ra! Xem đi! Nó yêu mày thiệt đó!

Nhà văn Trần Khởi ở Quảng Bình

 

Tuy chẳng mấy tin lời Thành nhưng nghe tin đồng đội lòng dạ cứ bổi hổi bồi hồi đến lạ . Ồ ! Một bức thư ngắn ngủi chỉ vài dòng , nét chữ đẹp rất nữ tính lại có cả một tấm ảnh màu đen trắng có hai người lính đang khoác vai nhau. Ở đằng sau bức ảnh có ghi dòng chữ “Anh Khởi ơi ! Em đã phóng tấm ảnh này to gấp 20 lần đợt bị tai nạn đi viện về 2.2003 bổng dưng nhớ đồng đội vô cùng, cứ sợ mình chết đi rồi không còn gặp được ai. Hai người anh đã từng cưu mang chăm chút em, em hằng kính trọng”. Lật qua lật lại bức thư, rồi mắt ngỡ ngàng dừng lại ở dòng thư:

– … Em còn giữ bức ảnh của anh bằng 2 đốt ngón tay, như thường lệ và trở thành thói quen mỗi khi trước lúc đi ngủ em lại đưa ra ngắm nhìn…,

– Em còn giữ mấy dòng chữ của anh coi đó là báu vật…

– “Tâm em, em đừng rên nữa, làm anh sốt ruột lắm rồi , anh nằm đếm từng giọt Xirum rơi – Trời Khẩn” , Chỉ vẻn vẹn ngần ấy chữ thôi mà để lại trong em một kỷ niệm khó quên , cứ thao thức mãi hoài, những dòng chữ đó đã theo em và động viên an ủi em trong cuộc sống mỗi lúc vui buồn… Anh Khởi ơi ! Em nguyện con em lớn lên, em xin gia đình họ Nguyễn một miếng đất để đưa đồng đội về…

Dầu chưa biết chưa rõ thực hư thế nào của những dòng thư trên nhưng nói thật tôi bị sốc và lảo đảo với những dòng thư đó. Ngồi bệt xuống bên vệ đường bên dòng Nhật Lê, người tôi nóng ran, tự dưng lạnh rùng mình, cảm thấy thất thần như bị ma ám. Biết bao câu hỏi chồng chéo đặt ra trong trong đầu không thể lý giải nổi:

– Sao cô ta viêt thư cho mình mà như đang nói với người đã khuất vậy? Mà người trong ảnh đứng với mình là ai? Mình tặng ảnh cho cô ta lúc nào? Và mình viết thư cho cô ta từ bao giờ? Sao cô ta lại biết rõ cả biệt danh của mình dùng trong chiến trường là “Trời Khẩn” nhỉ?.

Thái Văn Thành thấy mình ngồi im như tượng đá chẳng nói năng chi nó càng trêu tợn, tay xoa xoa lên đầu mình cười:

– Hi Hi! đã thấy chưa! Nó yêu tao hay yêu mày? Hết chối chưa?….

Đang bực bội vì chưa lý tìm được nguyên nhân lý giải những điều trên lại nghe Thành trêu nữa mình chửi toáng lên:

– Yêu Yêu cái đéo gì! Tao yêu khi mô, nó viết cho thằng mô lại nhầm sang tao!…

Thấy trong người khó chịu, mình vội tạm chia tay Thành trong đêm Nhật Lệ lung linh huyền thoại với nỗi niềm bồi hồi , lưu luyến, nhớ thương, giay dứt.

Một thời gian dài, mình lẩn thẩn không tài nào ngủ đươc, có nhiều đêm thao thức ngồi một mình nhìn lên Trường Sơn thăm thẳm, nhớ một khoảng trời, nhớ chiến trường đạn bom, đau đáu, xót xa với hơn 22.000 đồng đội của sư đoàn mình vĩnh viễn hóa thân nằm lại nơi đó.

Mình như người thất thần. Thế rồi, thơ lại đến với mình, đến với đồng đội thân yêu:

” … Chao ơi chỉ mấy dòng thơ

mà nghe ngọt lịm nước dừa Tam Quan

Trường sơn lội suối băng ngàn

Để ta ôm ấp đa mang một đời

Tìm nhau góc bể chân trời

Chờ nhau tóc đã bạc rồi còn đâu

Bạn nằm giữa chốn rừng sâu

Có nghe ai goi đêm thâu cháy lòng….”

Phải vài tháng sau mình mới lấy lại hồn vía và cố lục lọi tìm tòi trong ký ức những điều gì có liên quan dính dáng đến bức ảnh và những dòng thư của MinhTâm.

– A lô! Thành đâu! Mày có biết cái cậu đứng phía trái trong bức ảnh Tâm gửi cho tao là ai không?

Thành nói:

– Vậy mày không biết thật à?

– Không, tao chẳng biết!

Thành bảo:

– Thằng Đức ở Ban Văn thư ở cùng cái Tâm đó!

Thành kể thêm:

– Hai chúng nó yêu nhau tha thiết lắm, sau đó Đức bị buộc phải đổi về đơn vị chiến đấu và trong một trận chiến đấu hết sức ác liệt Đức đã hy sinh.

Câu chuyện dần đã được hé mở. À! Nhớ ra rồi! Có một lần, mình về đơn vị, vội sang chổ Tâm Văn thư nhờ cô ta đánh máy bài thơ mình vừa viết,  thì thấy một nhóm người đang đứng túm tụm chụp ảnh, Tâm khẩn khoản kéo tay mình vào chụp ảnh chung cùng với một cậu cao cao, dong dỏng, trắng trẻo, dáng thư sinh, cũng nói thật, lúc đó mình cũng chưa biết cậu ta và còn không biết quan hệ của Tâm và cậu ta như thế nào nữa, mà cũng đúng thôi! Cuộc đời của lính trinh sát tụi mình nay đây mai đó, có trở về đơn vị cũng vội vàng chẳng kịp nuốt trọn miếng cơm và nhìn rõ mặt ai đâu!

Bìa sách của Trần Khởi

Như vây, đã lý giải với những dòng thơ hết sức khó hiểu của Tâm , dòng thư như lời trăng trối, như khát vọng tình yêu thiết tha, cháy bóng của người lính-  phát ra từ trái tim nồng nàn yêu thương –  phát ra từ chốn tâm linh sâu thắm được vắt ra từ máu và nước mắt ấy tưởng chừng như nói với mình nhưng lại nói với người đã khuất –  nói với Đức – người đồng đội – người bạn tình yêu dấu của Minh Tâm .

Còn mấy dòng chữ mình viết cho cô ta thì sự thực như thế này : Khoảng tháng 6 năm 1975 , mình bị thương đang điều trị tại Quân Y viện Nha Trang, một buổi trưa, thấy các y tá sầm sập đẩy một bịnh nhân vào phòng, không biết đau bịnh gì nhưng người đó rên la đến nóng ruột . Bệnh nhân đó nằm cùng dãy, cách mình 4 giường. Thấy ngờ ngợ như người quen, mình với cô y tá lại:

– Cô ơi! nhờ xem hộ  cho bệnh nhân vừa vào tên gì? Và ở đơn vị nào vậy?

Đi một lúc cô ta quay lại báo tin:

– Cô ấy tên Nguyễn Thị Minh Tâm, Sư đoàn 3 Sao Vàng anh ạ!

Cô y tá còn cười trêu:

– Người yêu của anh à?? Mình phân bua:

– Không phải đâu! Đồng đội thôi cô ạ!.

Tuy chẳng thân nhau mấy, nhưng thấy đồng đồng đội đồng chí, lại cùng đơn vị đang trong cơn ốm đau, lại đang rên dữ mình quá lo lắng và nóng ruột, nhưng tội toàn thân của đang bị bó bột, không thể lần sang chổ ấy để thăm Tâm được đành nằm ngửa người kê vở lên đùi viết cho Tâm mấy chữ nhằm động viên cô ta:

” – Tâm em, em đừng rên nữa, anh sốt ruột lắm rồi, nằm đếm từng giọt Xirum rơi…” và cuối dòng thư ngắn ngủi đó mình viết hai chữ nói lái và cũng biệt danh tên mình “Trời Khẩn” để xem cô ta có đoán ra được mình không và nhờ chính cô y tá đó đưa sang cho Tâm. Cái động lực góp phần không nhỏ để cho mình viết thư cho Tâm nữa là mới chiều qua , mình cũng vừa nhận được thư của Phó Tư lệnh Quân Khu Huỳnh Hữu Anh – Bố nuôi của mình và Tâm cũng gọi ông ta bằng Ông, Bà của Tâm và vợ ông Huỳnh Hữu Anh là chị em ruột. Bức thư và cả một gói quà đường sữa được người ở khung hội nghị mang đến cho mình, bức thư có đoạn “… Con có đỡ không? Ba bận quá không thể đến thăm con được, nếu con ra Bắc cho Ba gửi lời thăm toàn thể gia đình và bà con ngoài đó nhé… Có cái Tâm vào nằm viện chổ con, con nhớ động viên nó với nhé…”

Nghiêng người liếc mắt nhìn sang theo dõi thái độ Tâm thế nào, thì thấy cô ta đọc dòng thư của mình xong lại dướn cao người nhìn sang phía mình một lúc rồi nằm im re chẳng còn thấy rên la gì nữa . Đến hôm sau, người ta chuyển Tâm đi đâu mình cũng không biết, vậy là xa nhau từ đó .Mình cũng không ngờ những dòng chữ ngắn ngủi của mình ngày đó để cho người lính – đồng đội Minh Tâm còn đeo đẳng mãi hoài đến ngày hôm nay. Đúng con gái nhớ giai thiệt! Tài thiệt!

Không thể có một tình yêu nào, nỗi nhớ cao cả , chân thành, thiết tha bằng tình yêu đồng đội .

Không hiểu lý do gì và sức viết tiềm tàng ở đâu ra mà 3 tháng Minh Tâm lại viết cho tôi đến 12 lá thư, có bức dài 8 đến trang mà bức nào cũng hay, cũng có sức cuốn hút người đọc, trở thành những tác phẩm nghệ thuật viết về nỗi đau, sự mất mát của người lính sau chiến tranh hết sức tuyệt vời, đến một giáo viên dạy chuyên văn PTTH như mình cũng giật mình và thán phục.

Mình thật thà, ngây ngô, đường đột lại đem thư Tâm khoe và đọc cho mọi người nghe, nhằm để mọi người san sẻ và cảm thông với cuộc đời của người lính . Mình đọc cho nhà thơ Đỗ Quý Dũng, nhà thơ Lê Đình Tới , đọc cho PCT Đỗ Trung Tuân, mang cả một cặp thơ vào kinh thành Huế đọc cho Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ và nhà thơ Ngô Minh. Lâm Thị Mỹ Dạ đọc xong thơ sụt sùi khóc, Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường phu quân của Mỹ Dạ nhận xét ” Thật cảm động, một giọng văn hay hết sức mới lạ,… “Lâm Thị Mỹ Dạ và Ngô Minh điện vào thăm hỏi Tâm còn in cả bài thơ “Ký ức tháng Ba” của mình đem vào tận Vũng Tàu tặng cho Minh Tâm. Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật nghe nhà thơ Đỗ Quý Dũng kể anh dặn Quý Dũng:

– Nói với Khởi đừng vội vào cứ để treo lơ lửng trên cây thì mới có thơ hay được…

Cũng nhờ Minh Tâm mà Ngô Minh có bài thơ “Vũng Tàu”, Trần Khởi có hai bài thơ được đăng trên nhiều báo như Tạp chí Văn nghệ Quân đội, TC Sông Hương, TC Vũng Tàu, TC Nhật Lệ, đó là bài “Ký ức tháng Ba” và bài “Khoảng trời” và bài thơ “Chim cu xanh và Đá mồ côi”, nhà thơ Đỗ Quý Dũng có bài “Nhớ một khoảng trời”, Lê Đình Tới có bài “Một chữ Tâm”….

Mình sướng lên đọc cả cho bà con nội ngoại, vợ con và cả bà con xóm chợ nghe, ai cũng đều ngậm ngùi xúc động tấm tắc khen, tuy vậy cũng có một số người chưa trải qua cuộc sống của người lính, chưa hiểu hết tâm tư, tình cảm chân thât nồng nàn cháy bỏng và rất đổi thiêng liêng của người lính và họ nghi ngờ mà hỏi những câu thật khó trả lời mà cũng rất có lý rất đỗi nhân văn:

– Tui xin hỏi anh:

– Một người con gái đã 3 con viết thư cho người con trai đã có gia đình 12 lá thư, có bức thư đến 8 trang có lạ không?

Tui hỏi anh lại còn dám viết:

– Như thường lệ, trước lúc đi ngủ đem ảnh ra ngắm nhìn. Có lạ không? và anh còn mang thư họ đem khoe khăp mọi người có lạ  có nên làm thế không?.

Chính những suy nghĩ tưởng chừng như có lý mà rất vô lý đó, vô tình làm tổn thương tình yêu đồng đội, đã khoét vào nỗi đau của người lính “Sau chiến trận”.

Đúng như Minh Tâm đã linh cảm và dặn dò:

– … Anh đừng đem thư em đọc cho mọi người nghe nhé….vì cuộc sống bon chen với kinh tế thị trường hôm nay chắc chẳng  còn mấy ai nghĩ đến người lính chúng ta nữa đâu anh!”

     ***

Mình thấp thỏm, khát khao có một ngày nào đó,  đồng đội đến thăm mình, hai đứa ngồi bên dòng Kiến Giang thơ mộng, bâng khuâng kể chuyện đời mình sau chiến tranh cho nhau nghe và có cái phút giây ngồi im như tượng đá, nhìn lên Trường Sơn thăm thẳm với nỗi tự hào, xót xa, ngậm ngùi, nhớ thương, đắng đót vô cùng vô tận và mình đọc cho Tâm nghe bài thơ “Bên sông Kiến” của mình viết tặng nàng cùng đồng đội thân yêu:

 

BÊN SÔNG KIẾN

 

Gặp nhau bên sông Kiến

Bâng khuâng chuyện đời             mình

Dòng sông quê òa khóc

Đôi mắt chiều rưng rưng

 

Dòng sông đôi bờ mộng

Thao thức muốn tìm về

Nhìn Trường Sơn thăm

thẳm

Hoa lau trắng lời thề

 

Thôi đừng khóc nữa em

Rừng đang yên giấc ngủ

Mây trắng bay cuối trời

Chỉ mình- ta nỗi nhớ .

   TRẦN KHỞI

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *