Truyện ngắn Bảo Thương: Người trở về

VHSG- Thằng Tráng hỏi: chú nhớ gì thêm không. Cũng chẳng nhớ gì, chỉ là một bãi đá. Nó to không. Bằng cả cái làng. Như thế đích thị gần biển, có cây gì không. Một cây to bằng con tàu, như thế đích thị cũng gần rừng. Thằng Tráng cứ lim dim mắt mà luận, nó lấy hết kiến thức sách vở, cùng những trải nghiệm nhỏ nhoi trong chặng hành trình ba mươi năm cuộc đời trong đó có mười lăm năm đi làm thuê ra mà luận. Nó luận thế nhưng sáng hôm sau ông lại bảo, không phải rồi Tráng, cây đó không phải là cây đa, mà giống cây lim. Trời ơi, chú làm cháu vẽ ra một đáp án y hền hệt rồi lại thay đổi giấc mơ là sao. Nhưng giấc mơ chứ có phải là gì đâu mà không thay đổi được. Nó lẩm bẩm, rồi đi xuống nấu cơm cho bố.

Ông về nhà nó đã ba mươi năm.

Trước đó ông mất trí nhớ, khi tỉnh dậy chỉ thấy những người chẳng nói cùng ngôn ngữ. Hỏi họ ở đâu, họ bảo Căm bốt. Căm bốt ở đâu, họ bảo Campuchia. Tôi ở đất nước nào, họ bảo Việt Nam. Là họ nói tiếng Việt, còn ông không biết nói tiếng họ, nhờ ngôn ngữ bất đồng mà ông biết mình là người Việt. Còn ông đến từ đâu, làm gì, bao tuổi, từng ở nơi nào, ông đều không biết.

Thế là từ đó đi đâu, người ta hỏi tên gì, ông bảo Tê. Tê là ê ẩm hết cả người, nằm đâu cũng ê, lúc nào cũng ê, đầu ê và ù ù, như có một tiếng nói từ bên trong xuyên qua. Ông đến từ đâu, cuộc đời ra sao, câu hỏi cứ xuyên qua thời gian, qua không gian, từ quá khứ dội vào một dấu chấm treo lửng lơ không biết, không hiểu.

Nhà văn trẻ Bảo Thương

Cứ thế làm lụng vất vả nhọc nhằn, ngược xuôi, đổi miếng cơm, manh áo. Một lần có người bảo, mày là người Việt không phải Cam, mày có muốn về bên ấy cùng tao không. Thế là theo về. Làm thuê cho họ ở rừng cao su. Làm ăn thất bát, họ đưa cả gia đình về xuôi một đêm tối trời, bỏ lại mười công nhân đói meo chờ lương ông chủ. Ông chủ bỏ của chạy lấy người, những người khác cũng bỏ chạy để cứu lấy tính mạng. Còn ông, biết chạy đi đâu, trong đầu không một ý niệm về thân phận, gia đình. Đến đâu, gặp ai cũng muốn nhòm sát mặt để hỏi, anh biết tôi là ai không, nói cho biết tôi là ai. Nhưng chẳng ai biết ông là ai. Đến mình còn chẳng biết mình là ai, thì hòng gì một chấm nhỏ người giữa đại dương. Nên thôi chẳng tìm nữa, yên phận làm thuê. Cho đến ngày gặp được cặp vợ chồng nghèo ở cánh rừng cao su.

Người chồng hỏi ông tên gì, ông bảo tôi là Tê. Người vợ hỏi gì Tê, Nguyễn Văn Tê, à, không phải, Trần Văn Tê. Cũng không phải, là Ngọc Văn Tê. Người chồng cười, có họ Ngọc sao. Ông bảo, là tôi nghĩ ra. Người vợ bảo sao nghĩ là Ngọc. Ông bảo là tôi muốn giàu. Người chồng cười chua chát, ông ơi là ông, tôi họ Vàng còn vàng cả mắt đây.

Rồi họ cho ông theo cùng trong những chuyến làm thuê. Nhưng ông cũng chẳng kiếm được đồng nào. Bởi những ngày trái gió, đầu ông đau buốt, ông không ôm đầu rống lên, ăn được là vui, nói chi làm. Rồi họ cho ông theo miết những chuyến đi xa. Đời người sống bao lâu, bấu víu vào nhau cũng là vui. Nhờ niềm vui đó ông được ở thêm năm tháng, rồi năm năm, mười lăm năm và giờ đây đã ba mươi năm. Ông trở thành chú của hai đứa con họ, trở thành em nuôi ruột thịt. Sao lại nuôi ruột thịt? Hai đứa nhỏ lớn lên thắc mắc. Vì nuôi nhưng vẫn như ruột thịt, bố nó giải thích. Thế chúng con là gì của nhau? Là ruột thịt, được bố mẹ nuôi. Thế là từ đó chú Ngọc Văn Tê là em nuôi ruột thịt của anh Vàng Văn Quý, là chú Tê cụt, chú Tê què, chú Tê ngơ ngẩn, chú Tê mất trí, chú Tê đờ đẫn của bọn nhỏ. Thế nhưng cũng vui, ông có cái tên, có thêm những đứa cháu.

Ngoài những lúc trái gió trở giời, ngày khỏe ông cũng làm lụng cật lực để nuôi hai đứa cháu nuôi ruột thịt cùng anh chị. Thằng Tráng ngày càng lớn. Từ chỗ ông toàn sờ chim nó, đến chỗ nó rúc vào sờ lại ông. Rồi cười bảo, cái này dùng làm gì? Để đái chứ làm gì. Còn gì nữa? Mày biết rồi mà hỏi tao. Cháu chưa biết mới hỏi chú. Tao chưa biết, mày đi mà hỏi bố mày. Thế là hai chú cháu cười rinh rích.

Thằng Tráng lớn lên, ngày càng ra dáng cứng cáp. Nó ít cho ông làm việc. Nó bảo, người già xương cốt không cứng, làm chỉ tổ gãy rời ra lấy gì mà nối. Ông nạt nộ, xương tao còn khỏe. Nó bảo, khỏe thì lấy vợ đi. Ông bảo lấy vợ liên quan gì yếu khỏe. Nó bảo, lấy vợ mà không liên quan yếu khỏe thì bố cháu lấy thêm mười bà, bố nó lườm cười.

Những đêm ngủ chung, thằng Tráng luôn rờ vào người chú và cười khi khí. Nó bảo, đừng phá như bố cháu lại hỏng nhanh, chú giữ bền, nhưng giữ quá cũng không tốt. Nó đưa ông đi mấy chỗ để giới thiệu. Ai lấy chú cháu không, ai muốn làm thím cháu không. Thím cháu về sẽ được chiều hết mức. Chú cháu cụt, chú cháu què, ngẩn ngơ, nhớ nhớ, quên quên nhưng được cái hiền lành, yêu thương, biết chiều chuộng, chăm sóc. Trừ lúc trái gió trở trời, mảnh đạn bên trong không chịu nằm im, cứ dựng đứng lên, xoay ngược xoay xuôi, làm chú cháu đau lộn óc mà hét lên thôi, còn đâu hiền lắm. Sao mảnh đạn lại dựng đứng được, “thím” tương lai nghe câu chuyện của nó cười ỏn ẻn. Cái gì còn ngóc dậy được, chứ gì món ấy, “thím” càng cườt tít mắt. Là “thím” nghĩ đến những điều thầm kín nhất của loài người. Cứ cố che đậy đi cho bí hiểm, cứ úp úp, mở mở kích thích lắm. Đặc biệt “thím” đã ngoài bốn mươi rồi mà chưa biết gì, nhưng bảo muốn biết thì lấy chú Tê lại nhất định không, mà chỉ nghĩ đến thằng Tráng. “Thím” muốn biết nó, chứ không muốn biết chú nó. Một thời gian sau, chú nó bảo, thôi Tráng ạ, chẳng cần tìm đâu. Chú yên phận chú rồi, mày lấy vợ đi chú trông con cho.

Ối trời, ngữ này trông cái gì, nó lại chẳng ị lên đầu ấy chớ, thôi lấy vợ, để nó chăm sóc.

Đã quá quen với thằng gọi mình bằng chú, nhưng tình thì hơn cả anh em, ông lại cười méo mặt.

Nghĩ thì thế thôi, trên đời chẳng ai tốt bằng nó. Ngày trái gió nó đi bộ những hai mươi cây vào rừng sâu đào rễ mật nhân về ngâm để ông uống. Hì hụi đánh vật với những ấm thuốc nam để ông có cái ngậm vào mồm những khi cơn đau hành hạ, là nó chăm ông chứ ai. Bố nó chỉ bảo, tao và chú Tê nuôi chúng mày lớn. Tao già rồi, nhưng sức khỏe còn, không cần chúng mày chăm. Chỉ chú Tê, không chăm được chú, tao đánh tuốt xác.

Nói thì nói vậy, đứa nào chẳng thương ông, con Ha cũng thế, lấy chồng rồi vẫn chạy sang thăm bố và chú thường xuyên, có gì ăn cũng để phần. Âu cũng có môt gia đình để nương tựa. Vui thì vui thế, nhưng ông chưa yên lòng, thằng Tráng càng không yên lòng, bố nó cũng thế. Càng khi về già, người ta càng nghĩ nhiều về bản quán, gốc gác. Cóc chưa chết đã quay về hướng núi rồi. Bố nó bảo, tao giờ chết đi không ân hận, nhưng tao sợ chết trước chú Tê thì ai sẽ tìm quê cho chú.

Và ông hay suy nghĩ. Càng về già, càng mong biết được bản quán mình nằm ở khúc sông, bờ suối hay con kênh nào. Mỗi lần thấy một ngôi làng, ông cố vận óc tưởng tượng, đây có phải là con sông mình tắm ngày xưa không, có phải cây cầu mình vẫn ra hóng gió, và gốc đa kia là chỗ mình buộc trâu. Nghĩ và tưởng tượng thế thôi nhưng vận đến nát óc vẫn không thể gắn được một ông già xù xì, răng đã rụng vài cái, vào với cây cầu, gốc đa, và con sông ấy. Nhưng không nghĩ không được, nhất là thằng Tráng. Nó muốn làm tròn trách nhiệm với bố và chú. Nó là đứa hiếu thảo, tuy bề ngoài xù xì, góc cạnh như con cóc nhưng con cóc biết châu về hướng núi, với tổ tiên, nguồn cội. Nó bảo, phải mọi cách tìm quê cho chú. Đi đến đâu nó cũng hỏi người ta, có cái làng nào như thế không. Nó canh chừng từng giấc mơ của chú, chỉ để hỏi, hôm qua chú mơ gì. Tao mơ đi ỉa. Người ta hỏi thật thì chú đùa. Nhưng quả thực, ông không mơ gì cả, dù đêm nào nằm xuống cũng cầu trời cho một giấc mơ có tuổi thơ, có ngôi làng, có bóng mẹ già nhưng kí ức chưa chịu hiện về.

 

Sáng nay thằng Tráng lại hỏi, nhớ gì không chú? Không! Không! Không! Hỏi gì nhiều thế!

Nhưng nó vẫn không quên hỏi vì chưa tròn trách nhiệm với bố và chú, nó chưa muốn lấy vợ.

Lấy vợ thì cứ lấy, tao còn khỏe, còn trông được cháu. Nhưng chú có chịu nhớ đâu mà lấy vợ. Liên quan gì? Thì tìm được quê chú mới yên lòng lấy vợ chứ!

Có lẽ niềm mong ước thằng cháu lấy vợ lớn quá mà ông buộc phải phọt ra được giấc mơ. Khi ngày nào nó cũng như cầm sổ nợ, tra hỏi xem ông có mơ gì không, ghi ghi chép chép, phân tích, vận đủ kiến thức của những gì đã biết, đoán xem ông ở vùng nào để lên đường đến đó.

Cho đến ngày ông cũng phọt ra.

Thọ Lập, Thọ Xuân, Sông Chu, Đồng Cói. Thọ Lập, Thọ Xuân, Sông Chu, Đồng Cói. Nó bật mầm trong đầu ông sáng sớm hôm ấy trong một giấc mơ về con sông Chu hiền hòa. Ông nhìn thấy cả nếp chòi lá đơn sơ nằm bên bờ, xa xa là ngôi nhà lợp ngói âm dương. Nó in trong ông kĩ lắm, đến nỗi tỉnh dậy mà vẫn rõ mồn một.

– Lạ thế sao – thằng Tráng reo lên – cuối cùng cũng bắt được, nhưng cũng chẳng mừng quá đâu, ông già này chắc bịa hết.

– Bố mày, tao không bịa.

– Không bịa thì cũng do ép quá mà phọt ra.

– Bố mày, tao nhớ như in, chưa bao giờ tao mơ như thế, chưa khi nào.

– Thế thì lạ nhỉ. Chú, chú cứ nằm mơ nữa đi nhé. Cháu nghĩ, đã khơi thông được dòng, tự nó khác chảy ra thôi. Hay rồi, còn hay nữa đây!

Nó nói rồi vuốt đầu ông như thưởng cho một đứa trẻ.

Và ông vận công cuối cùng, hay chẳng cần vận công, như thằng Tráng nói, mạch nguồn được khơi thông, tự nhiên nó đổ về. Chẳng cả cần mơ ông nhớ rõ con đò chạy dọc khúc sông. Trên đó là Thoan, phải rồi, Thoan, và một người con gái khác, ngồi cùng Thoan, nhưng là ai thì ông chịu. Nhớ cả cành cam lòa xòa chỗ cái giếng đào, rong rêu bám đặc xung quanh, nhiều lần ông suýt ngã. Và mảnh đất trồng rất nhiều cây răng cưa, cây mã đề. Phải rồi, mẹ ông, bà mặc áo nâu, đang múc nước, từng giọt nước trong vắt được múc lên từ giếng. Bà đang kéo nước, bà vục cả đầu vào gầu nước mát, ra sức uống.

Cuông ơi, bà gọi, Cuông ơi, và ông chạy ra, phải rồi ông là Cuông. Thế còn ai kia nữa đang chấp chới từ trong góc vườn đằng xa, bên cạnh cây mít na, cả một góc sân thơm nựng mùi mít. Cuông ơi, có ăn không, tao ăn hết này, ha ha ha. Mày có chờ em ăn với không? Tiếng mẹ ông tiếp theo. Ông líu ríu chân. Càng sợ thì chân càng như không nhấc nổi.

Cang, mày có phần em không? Tiếng mẹ ông quát. Phải rồi, Cang, người đó là anh Cang. Anh Cang phần em, ông cũng hét lên to lên, rồi cứ thế chạy thục mạng vào góc sân nơi có quả mít chín rụng xuống nát bét, ông cùng anh Cang bốc ăn. Cơn mơ ăn mít tan dần trong ông.

Thằng Tráng ngồi cạnh, mắt không rời ông nửa phút, hau háu, như để đợi ông tuôn giấc mơ ra cho nó xem. Nó đang thèm bộ phim đời ông quá, nó bảo thế chú thêm được gì không?

– Tao là Cung, anh tao là Cang.

– Trời ơi, có thế chứ, tuyệt vời lắm. Lần này nó lại vuốt tóc ông. Chú tuyệt vời lắm. Cháu chuẩn bị về đến làng chú rồi. Chuẩn bị mà gặp cô gái đó đi.

– À, đó là Thoan.

– Trời, cháu đã hỏi đâu mà chú khai, có cả Thoan cơ à?

– Chắc thế!

– Xinh không?

– Xinh!

– Đẫy đà chứ?

– Chắc thế!

– Chú nhớ rồi à?

– Ừ!

– Còn gì nữa không?

– Hết, à có cả con sông dài, cả cánh đồng bên con sông ấy.

Thằng Tráng ngồi nghe không sót một từ, ghi cũng không sót một từ vào quyển sổ.

Thế là chú hoàn thành nhiệm vụ rồi đấy, giờ thì cứ việc nghĩ thêm thôi, còn lại để cháu lo.

Và từ đó, ông chỉ có nhiệm vụ ăn để ngồi nghĩ, có ăn no mới nghĩ được nhiều, nó bảo thế.

Và từng thước phim kí ức cứ chầm chậm đưa ông về ngôi làng bên bờ sông Chu không sót một chi tiết nào. Và người ngồi bên Thoan trên chiếc thuyền chính là chị gái ông. Năm đó chị gái mười tám, còn Thoan mười sáu, bằng tuổi ông. Ông vẫn cùng chị và Thoan chèo thuyền dọc con sông mùa nước lên. Để đi bắt cá, để chở lúa của làng từ bên này về bên kia, và chở cói, chở ngô. Và tình yêu nảy nở từ bờ sông Chu đó. Ông còn nhớ như in, đêm cuối cùng trước ngày ra trận, Thoan đứng ở góc sông và khóc. Ông cầm tay bảo, ở nhà chăm mẹ cho anh, đợt này chị Mi lấy chồng, anh Cang cũng ra trận, chỉ còn lại mẹ thôi. Đừng khóc rồi anh sẽ về…

Thoan cứ khóc, nước mắt dầm dề, rúc đầu vào vai ông, làm rung cả người. Ông ôm lấy bờ vai Thoan đang thổn thức mà cũng muốn khóc theo. Giờ thì ông nhớ như in cái mùi con gái tỏa ra từ mái tóc, làn da, vòm ngực… Giờ thì ông đã nhớ ra mùi con gái và sự mềm mại của Thoan sau mấy mươi năm chẳng nhớ được gì.

– Ấy à, cũng kinh phết đấy nhỉ – thằng Tráng nháy mắt khai thác – đã làm gì chưa?

– Làm gì thì tao phải nhớ chứ, ngày đó đâu như chúng mày bây giờ.

– Bây giờ sao bằng ngày đó chứ.

– Bậy nào.

– Ấy à, kinh nhỉ, chỉ một cơn mơ nữa thôi là ra hết – nó nói xong rồi cười khằng khặc.

Và nó đưa ông về đúng ngôi làng bên bờ sông Chu đó. Nó đưa ông về sau những cuộc điện thoại nối hai đầu đất nước, khi chính quyền công nhận có một ông Cung đi hơn ba mươi năm, có giấy báo tử về, người anh đã thờ và nhận trợ cấp liệt sĩ từ ngày ấy.

Báo chí vào cuộc, họ về tận nơi để tìm hiểu. Cả nước sục sôi vui mừng có một liệt sĩ trở về sau hơn ba mươi năm, các bài giật tít hay lắm. Bài nào thằng Tráng cũng đọc cho chú nó nghe. Bố nó thì vui ra mặt, đọc xong mỗi bài nó đều bảo, thành người hùng cả nước biết đến, như cháu đây vô tăm tích, nó nói rồi lại cười. Nhưng ông đâu cần nổi tiếng, chỉ cần mau mau chóng chóng được về với quê hương. Đêm nào kí ức cũng dội về như những thước phim dồn chật cứng lại ở một toa tàu nào đó, đợi khi khơi thông là ào ạt chảy. Trong kí ức có thằng Nam y sĩ, có thằng Thắng nuôi quân, có anh Kiêm, tiểu đoàn trưởng, có trận đánh ở Takéo. Có cả thằng Lân cụt đầu đêm nào cũng theo đóm đóm vào dọa ông trước trận đánh ở Campuchia. Đồng đội, người thân hiện về không thiếu một ai, kỉ niệm cứ ào ào như nước lũ…

Bố con thằng Tráng được sự hỗ trợ của chính quyền, thuê một chuyến xe đưa ông về. Hai đầu cầu đều có sự đón tiếp rầm rộ của báo chí, chỉ thiếu truyền hình trực tiếp thôi. Ông hạnh phúc, thằng Tráng cũng hạnh phúc. Nó khóc còn nhiều hơn ông, khóc vì thương chú, mừng cho chú, mừng cho nó nữa. Những cái ôm chặt, bắt tay, ghì sát, nức nở. Rộn cả làng quê, xáo động không gian chật chột nhà ông Cang anh ruột ông và một vùng quê bắt đầu đô thị hóa. Con sông cạn dần, bãi đá không còn, cánh đồng cũng biến mất, chỉ còn mấy nhà máy sừng sững ngày đêm thả khói. Không còn cô thiếu nữ chở đò dọc, đò ngang, chở cói, chở lúa từ bên này sông sang bên kia mà các cô cưỡi xe, ngồi ô tô đến công ti. Đời sống đổi mới rồi, chỉ có ông là lạ lẫm, mặt cứ ngẩn ra hết chuyện này đến chuyện khác. Sau mười ngày, bố con thằng Tráng cũng về, sau khi dặn dò, ôm ấp, khóc lóc hồi lâu – cái thứ tình gắn bó ba mươi năm ấy, biết đến cả của quý của nhau thế nào, thì làm sao không xúc động.

Và hôm nay, nó gọi điện ra dè dặt hỏi, chú ơi, nhớ Tráng không, chú khỏe không? Chú nó nói yếu ớt trong điện thoại, giọng của người không nhớ mà quên. Ai, ai, à, không nhớ…

Tin chú nó mất trí trở lại làm chấn động những người trong nhà nó. Cánh báo chí xao lên một chút, rồi không vào cuộc nữa. Chuyện một ông già liệt sĩ, mất trí nhớ, trôi dạt hơn ba mươi năm mới trở về quê hương, rồi lại mất trí nhớ, cũng là thường. Chỉ thằng Tráng là xúc động mạnh. Bố nó sững sờ đau đớn, bố nó nhấc máy dè dặt hỏi: Em ơi, nhớ anh không? Phía đầu dây kia ngơ ngác, là ai, tôi không nhớ, không nhớ….

Nó dè dặt hỏi: Chú ơi, nhớ Tráng không nè? Phía đầu dây kia hỏi, là ai, mà tui không nhớ, Tráng nào, nói rõ ra. Phía bên này nức nở, nó cúp máy rồi cứ nức nở. Thế là giờ đây hết sạch, không còn gì nữa, cả những lần chú nó cứng đơ mà không lấy vợ. Nó thì kịp lấy rồi, đã đẻ con, định đợt này mang cả cháu ra thăm ông nuôi ruột thịt, nhưng làm gì mà nhớ. Nó khóc, vợ con nó cũng khóc theo. Sau tiếng ngơ ngác, Tráng nào, để tôi nhớ xem Tráng nào.

Thằng Tráng nghe tin chú nó chết vào một chiều tháng mười, khi trên cánh rừng đổ bạt ngàn những đóa hoa màu đỏ, nó và bố vội vàng bắt xe đi.

Cả nhà như đợi bố con nó về để tắm rửa cho ông cụ. Bà chị dâu của ông bảo, trước khi mất, chú ấy không cho ai động vào, cứ khư khư ôm bọc quần áo cũ như đợi ai đó…

Nó lột người ông ra, lột hết từ trong ra ngoài. Nó nhớ từng đoạn nào xương chú nó trồi ra, nó nhớ ở đoạn nào chú nó có cái sẹo bé tí, nó nhớ đoạn nào chú nó kêu đau như còn mảnh đạn, nó nhớ đoạn nào chú nó bảo, Tráng cọ nhiều hơn, đấm nhiều hơn cho chú… Đây là lần cuối nó tắm cho chú, vừa tắm, vừa nhớ, và khóc.

Chú, cái sẹo này là của cái lần con trâu mộng húc chú, khi chú dắt chăn ngoài đồng.

Chú, chỗ tật này là của lần chú cháu mình trèo cây chùm ruột hái trái bị té.

Chú, đoạn thịt này chẳng bao giờ còn cứng được nữa, chẳng ai biết được có thời nó từng sung mãn. Cháu có lỗi với chú nhiều quá.

Nó cứ tắm, cứ kì cọ, cứ trò chuyện, rồi lục tung cả đống tư trang để tìm bộ mới nhất. Nó tìm được cái túi ni lông buộc chặt, bóc hết lớp ngoài, lớp trong, và trong nữa, nó đọc được những dòng:

Tráng ơi, hôm nay nghe điện thoại mà nhớ cháu quá!

Tráng ơi, hôm nay nghe bố cháu khóc mà thương quá!

Tráng ơi…

Tráng ơi…

Tại sao bảo, chú nó mất trí?

Nó bất giác lắng nghe ngoài kia. Tiếng người bác cắt cử công việc, tiếng máy quay sè sè của một đài truyền hình địa phương, tiếng lợn kêu eng éc, tiếng cười nói của những người đến hộ đám ma.

Nó bất giác nhìn ra, đứa cháu gái con anh ruột chú nó, mắt môi xanh đỏ, đang cười và miệng liến láu. Đôi mắt vừa lườm vừa cười sắc hoẻn của mẹ nó, lấy chồng đi, không chết già như thằng chú, chẳng có gì mang về, chỉ mang theo được bộ xương cùng cánh báo chí.

Nó bất giác nhìn lên cánh cò trên cao chao đảo. Nó thấy mặt trời màu đỏ ối, ráng mây màu xám ngoét, nó thấy những hốc mắt mọc dài tua tủa từ mặt trăng, nó thấy chú nó chới với trên cao, nhìn nó khóc, rồi lại cười, Tráng ơi…

 BẢO THƯƠNG

(Giải nhì Cuộc thi Truyện ngắn Lửa Mới – Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội 2018-2019)

One thought on “Truyện ngắn Bảo Thương: Người trở về

  1. Nguyễn Hồng Minh says:

    Văn bản Bảo Thương tạo lên một tính cách
    Là một thạc sĩ ngôn ngữ và là một cô giáo cùng nhiều thành công trong trong sáng tác …gì nữa, nhưng tôi không hoặc chưa đạt được mức xem xét và hiểu rõ về tác giả thông qua cả đời sống và các tác phẩm mà ở đây chỉ nhìn nhận vào một truyện ngắn này mà thôi. Một tác phẩm được giải thưởng của cuộc thi Truyện ngắn Lửa Mới – Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội 2018-2019.
    Để nhận xét về giá trị nhận thức thì con người thường lý trí xem xét về thông tin mà tác phẩm ấy nói về, tức là đưa tới cho chúng ta quy luật đời sống nào đó. Ngoài ra, đọc tác phẩm chúng ta có cảm xúc về giá trị thẩm mĩ đời sống nào đó tạo ra và ra sao. Thái độ của chúng ta như thế nào với tính tái hiện hiện thực hoặc sáng tác nghệ thuật của tác giả vừa nằm trong tác phẩm mà chúng ta dùng cả lý trí và tình cảm để cảm thụ như thế nào? Ngoài ra, biểu hiện nội tâm của con người bên trong nhân vật mà tác giả đã thể hiện bằng các mối quan hệ và sự diễn giải tinh thần bằng ngôn ngữ ra sao? Bởi vì ngôn ngữ tác động vào tinh thần với truyện ngắn sẽ theo hai xu hướng: một là tác giả nhập tâm vào tác phẩm, nhân vật trong tác phẩm; và hai là: người đọc nhập tâm vào tác phẩm và nhân vật được tác giả thể hiện từ đó các giá trị nhận thức của tác phẩm được khám phá ra. Tôi chỉ đọc và xem xét bằng giả định, đoán định các tình huống để có thể nắm bắt được điều gì đó như đã nói ở trên.
    Đi vào tác phẩm thì chúng ta thấy tác giả Bảo Thương đã nhập tâm 50/50 vào các nhân vật. Không dành ưu ái tất cả cho một nhân vật nào đó trong truyện ngắn này. Người bố và gia đình theo tôi hiểu là gia đình di dân, thực hiện kinh tế mới gặp nhiều khó khăn đã cưu mang nhân vật Tê. Người bố gắn bó và thương người, thương Tê, nhận như là người em mình và nói với con cái bằng những câu từ hết sức nhân văn. Thể hiện được tính con người với con người trong những hoàn cảnh khó khăn. Sau này, mục đích theo câu nói “có già quay đầu về tổ” mà không có ý định giữ Tê ở lại.
    Người con tên là Tráng sự nhập tâm của tác giả cũng 50/50 nghiêng về biểu hiện không nặng về miêu tả nhiều nhưng tác giả vẫn chiếm lĩnh được thực tế ngây ngô và trẻ thơ không thật lắm. Như những đoạn dò hỏi liên tục, ghi chép, sự bâng quơ khi nhân vật Tê nhớ lại một vài thông tin ban đầu. Từ tinh thần của người bố, mà người con lĩnh hội được cuộc sống yêu thương con người, gắn bó với chú Tê. Tôi đọc những đoạn viết giữa hai nhân vật và dám chắc những người đọc khác cũng sẽ nhớ về tuổi thơ của mình, nhớ về cái tính trẻ con mà bản chất thương người, giúp đỡ người lớn khi người lớn bị mất trí nhớ, bị bệnh về thần kinh. Nếu đã gần gũi thì hết mình, còn nếu không thì sẽ trêu để làm người ấy phải tức lên, phải giận hoặc phải thể hiện tính khác người lớn để lấy đó là trò chơi, lấy đo làm vui cho chính cái tính trẻ con của mình. Tác phẩm chỉ chú tâm vào nhân vật Tráng, mà không nhắc tới môi trường xung quanh, môi trường những đứa trẻ khác. Không đi sâu để khắc họa sự thay đổi và tác động của nhân vật Tê tới tâm hồn và tính cách của nhân vật Tráng. Có lẽ đây không phải ý đồ của tác giả trong tác phẩm này.
    Về nhân vật Tê, tác phẩm đặt ra cho người đọc vấn đề lựa chọn sự yêu thích của mình: Tê hay Cung? Ở nhân vật này tác giả thâm nhập nội tâm nhiều hơn khi miêu tả những cảnh quê hương, người thân thích khi nhân vật hồi phục lại trí nhớ. Sự bí ẩn do tinh thần đã đưa tới và nghiêng hướng về miêu tả, hồi tưởng nhiều hơn những gì tác giả có thể thể hiện, biểu hiện, chế biến để mở rộng biên giới nghệ thuật trong nội tâm nhân vật Tê sau khi đã biến thành Cung.
    Huyết mạch nhân ái của con người, xung lực tiềm thức cũng như thế thái nhân tình của thời gian được tác giả khai thác dọc dài theo nội dung của truyện ngắn này. Một sự trở về là mong muốn của người trong cuộc hay là không? Khi mà cả cuộc sống và cuộc đời trong xã hội tác giả sử dụng bằng hình thức dựa hẳn vào câu con cóc. Có lẽ đó là nhu cầu bình thường của con người, và muôn thủa nữa. Tác giả không nhấn mạnh vào việc này cho dù có nhắc đi nhắc lại hai ba lần về câu ngữ này. Việc con người ở trong một xã hội bị nhận thức và các quy định sẵn có, hoặc truyền thống, lối suy nghĩ mà làm thành ra vậy. Mong ước, và mục tiêu sẽ phải thuận chiều, không dám thoát ra, không muốn thay đổi những điều đã áp đặt vào đó.
    Hình ảnh Tê như bị đứa trẻ yêu quý của mình dò hỏi. Phải là nhiệm vụ của người bố giao cho hay là tự Tráng hiểu và nhận biết điều này? Tráng không như những đứa trẻ khác. Đến cả lấy vợ cũng phải chờ đợi chú Tê bình phục. Nhỡ không bình phục thì sao? Vai trẻ con, rồi vai thanh niên, rồi tới vai người lớn, trên cái vai ghánh vác ấy Tráng đã sống với chú Tê 30 năm trời quên cả bản thân, tuổi thơ, và cuộc sống. Tác giả đã khai khách chiều sâu nghệ thuật, và đẩy tình tiết lên mức cao của nhận thức giá trị nhân ái của con người bên trong một đứa trẻ. Đứa trẻ khác thường? Người đọc sẽ phải nhận biết ra điều đó, từ đó nghĩ về lý do của nó, và rồi không phải nói tới thì nhân vật Tê vẫn hiện lên cho dù tác giả có miêu tả, có khai thác xung lực tiềm thức của nhân vật này hay không. Bảo Thương có lẽ cũng không khai thác điều này khi mà chủ đích miêu tả nhân vật Tê còn nhiều hơn cả nhân vật người bố, người con tên Tráng.
    Tác giả miêu tả nhân vật Tê và nói về Tê nhiều đến vậy để khỏi thấy được sự khác thường từ nhân vật Tráng, người bố của Tráng, làm người đọc sống trong một không khí không muốn Tê thay đổi hay là muốn Tê thay đổi thành Cung để thực hiện đúng theo câu nói về cóc kia mà cũng là câu nói về đời con người không thể khác được. Không chấp nhận một thực tế, không thích ứng với nó hoặc phải thích ứng với theo cái cách phải như thế, người đọc hiểu được điều này và bắt buộc phải đi theo dòng tư tưởng của tác giả để đi tới bi kịch, hoặc là hài kịch, hoặc chí ít là sự kiện nào đó mà tác giả mong muốn.
    Theo tôi thì truyện ngắn đã không có sáng tạo ở điểm này, đã chưa khai thác theo tiềm năng mâu thuẫn của suy nghĩ nhận thức của con người, chưa thoát ra được quy luật chung cá thể bị đặt nặng vào bên trong tình huống truyền thống, lối mòn mà chưa bật lên, chưa chiếm lĩnh tình huống, chưa sống thực với chính mình bằng thôi thúc bên trong khác biệt, khác thường mà từ đó biên giới nghệ thuật được đẩy lên cao hơn và xa hơn. Có lẽ đây không phải là mục đích của tác giả?
    Hình ảnh làng quê với giếng nước, cây mít, người mẹ, người anh…trong trí nhớ của nhân vật Tê trở về sau những năm tháng dài của thời gian có lẽ được tái sinh và sống động lại chính là nhờ sức mạnh của động lực tinh thần mà nhân vật có được. Đó là môi trường sống, là tình yêu thương, là huyết mạch nhân ái giữa con người với con người đã tạo ra những ý thức nhận biết nào đó, ngoài ra còn phải nói tới những hành vi công ép của cả con người, sự kiên trì trong 30 năm, và mong muốn trở về bên trong nội tâm từ lịch sử con người Việt Nam dân gian trong câu “con cóc quay đầu về núi” về tổ ấy mà người đọc thuận theo tài năng miêu tả, hơn là để cho nhân vật biểu hiện các tính cách, các chuyển biến. Điều này khó nhận biết ra nếu không thực cảm động và đặt mình vào từng nhân vật. Người đọc sẽ không làm như thế, sẽ chỉ cảm nhận bằng trực giác ban đầu trong không gian xung quanh mình đang sống và tác giả đã làm tốt việc này.
    Nếu hiểu đúng, nếu lo lắng thật sự vượt ra khỏi quy luật gắn bó con người với con người, thời gian với thời gian thì chưa chắc người bố và gia đình, người con là Tráng hoặc nhân vật Tê, Cung muốn rời xa nhau. Sự trở về được tung hô trong cảm xúc chia rẽ mà sự chia rẽ ấy là đương nhiên cho dù gắn bó thế nào. Bảo Thương khôn khéo dùng từ ngữ chú nuôi ruột thịt, và những từ ngữ giải thích của người bố với Tráng và tất cả như thỏa mãn khi họ chi tay, khi nhân vật trở về với cái tên thân Cung của mình. Chúng ta phải trở về và trả lại cuộc sống cho một con người mà không cần biết cuộc sống ấy có thích hợp với người đó hay không? Chúng ta không cần biết là người đó có thích hay là không? Chúng ta chỉ dựa vào thói quen, dựa vào những gì chúng ta nghĩ, chúng ta bị xung quanh làm cho nghĩ như thế và rồi kết quả của truyện ngắn là cái nhìn và những lời nghe được ở cuối truyện ngắn.
    Cung đã không muốn là Cung mà muốn là Tê có đúng không? Chúng ta không biết, tác giả cũng không đề cập tới. Truyện ngắn không đi sâu về tinh thần và nội tâm để nói tới nghệ thuật mà chỉ chú tâm vào các hiện tượng thông qua tình huống, thông qua các hoạt động xã hội của con người. Tức đã làm giảm giá trị nhận thực của tác phẩm một phần.
    Hình thức hoạt động xã hội của con người được miêu tả với một số hiện tượng như: việc đối sử với người yếu thế, mất khả năng lao động của những người cùng tiếng Việt với nhau. Bị bỏ lại giữa rừng, bị lợi dụng hay được tồn tại thì cả hai đều đúng. Nhận thức của nhân vật Tê là phải trở về là cái mong manh và sự nảy mầm của tiềm năm hồi phục lại trí nhớ. Rất công bình mà nói rằng điều kiện sống, tình yêu thương con người với một mầm sống như thế sẽ có tác động rất lớn, và truyện ngắn này đã làm rõ được vấn đề này khi Tê đã hồi phục trí nhớ, đã biến thành Cung.
    Tiếp tục với các hoạt động xã hội, coi như thế nào đối với những người bị thiển năng, bị thương tổn tinh thần, bị yếu tố mất trí nhớ, những người yếu thế trong xã hội, môi trường là vùng ven biên giới, nhưng đó có lẽ nao lại không phải là đất nước? Gia đình nhân vật bố và Tráng đã cùng chú Tê 30 năm ấy là lời giải của cá thể, của con người tốt còn tồn tại trong xã hội. May mắn là vậy, và mạch người tốt gặp may trở về với văn bản của Bảo Thương. Cho dù tôi biết văn bản của Bảo Thương viết về làng quê, và các mối quan hệ về số phận người phụ nữ rất tốt và chân thực.
    Khi đã trở về, tác giả khai thác cảm xúc giữa con người với con người khi ở khoảng cách xa. Đó là tâm trạng của người bố, của Tráng, và người đọc nhẹ nhõm khi gia đình nhỏ của Tráng đã hình thành với một đứa trẻ. Thở phào nhẹ nhõm khi cuối cùng đứa trẻ đã trở về và biến thành người trưởng thành bình thường. May quá là may. Nhưng Cung lại không bình thường. Cung chối bỏ sự thật bởi giờ đây Cung đã quên cái tên Tê của mình trước đây. Cái quên này là chủ đích của tư duy, là chủ đích của Cung, hay cũng là chủ đích của cuộc sống thực hiện đại, chủ đích của tác giả. Nhớ tới những điều tốt đẹp làm gì khi mà xã hội xung quanh đang chẳng tốt đẹp gì? Hy vọng làm gì khi mà xung quanh chỉ toàn là một màu tối, cũng không nhận thức được màu tối ấy là một đóng góp để có màu sáng? Cũng không yêu cầu cao được cho một nhân vật đã hồi phục trí nhớ mà bên trong các vết thương của chiến tranh vẫn còn, nó hiện hữu là cái miếng sắt thép bên trong cơ thể con người, lúc nó lại đứng lên, lúc nó lại nằm xuống theo thời tiết. Chẳng có ký thức chiến tranh nào ùa về hoặc có nhưng Bảo Thương chỉ lướt qua nhắc tới những cái tên, những thân hình không đầu, những hình ảnh của đồng động trong chiến tranh, không có ý niệm về hòa bình và những chiều sâu của bên trong chiến tranh bởi Tê như thế nào khi vào chận chiến không được nhắc tới, bởi vì là truyện ngắn nên khó có thể thể hiện được hết, hoặc như thế sẽ loãng đi tầng tư tưởng mà có lẽ là những hành động của xã hội xung quanh đã tác động vào nhân vật Cung như thế nào.
    Cung đã không muốn thành Tê bởi đã nhận thức được việc mình làm khó khăn cho người khác. Cung không muốn nhận làm Tê bởi vì chưa biết người anh, người cháu là Tráng muốn mình là Tê, muốn mình ở bên cạnh và muốn hiện thực và sống với hiện thực ấy là hạnh phúc, là niềm vui mà phải bắt Tê thành Cung, bắt Cung phải như thế này thì mới chính là mong muốn, chính là ý muốn của người anh người cháu. Nhân vật không biết có suy nghĩ theo hướng này hay không hay theo hướng hy sinh bản thân mình vì nghĩ mình đã là ghánh nặng cho gia đình người tốt kia. Con người có khi không biết mình gây ra những gì, mà chỉ dành suy nghĩ cho hiện tại là sống, là các hoạt động yêu thương giữa con người với con người thì có phải là hay hơn không? Tức là chỉ cần biết ở bên nhau, vui, cười, đùa, sờ nắn, quan tâm, và nhất là môi trường con người yêu thương nhau là đủ còn những điều khác có cần thiết không?
    Môi trường trở về đã làm Cung thay đổi. Nhận thức hay ý thức đã làm con người ấy mất đi niềm tin vào cuộc sống, mất đi niềm tin vào mối quan hệ tốt đẹp giữa con người và con người, có lẽ là vài năm ấy để so với 30 năm, thói quen và tính cách đã bị thay đổi mà người đọc và tôi vẫn chấp nhận, vẫn thấy hợp lý, và vẫn thấy hay thì đó là cái tính văn bản của Bảo Thương hiện rõ ràng.
    Hoạt động xã hội không thông qua nội tâm hoặc nội tâm đi theo một hướng bị các hành động xã hội chi phối, ở trên tôi có nói tác giả ít đi theo nội tâm mà dùng hình hảnh hoạt động xã hội mà nhân vật nhìn thấy để viết và tạo ra bi kịch ở cuối truyện ngắn. Tác giả giấu nội tâm của Cung bên trong những dòng chữ gi lại, bởi vì các hành động xã hội đã thay đổi và tác động mạnh quá, con người là cá thể lại quá nhỏ bé để thoát ra được, để giải quyết được và tới đây cho dù huyết mạch nhân ái bị đứt, xung lực tiềm thức đã tỉnh những lại muốn bất tỉnh, giữa thích hợp và mâu thuẫn của thế thái nhân tình bị lộn phèo lên chiếm lĩnh thực tế. Điều này là thích hợp với truyện ngắn, và điều này là thích hợp với cả những gì tác giả nhập thân vào nhân vật và các tình huống tạo ra cho người đọc cũng nhập thân mình vào từng nhân vật và tình huống nhưng nghệ thuật vẫn là nghệ thuật, sự chiếm lĩnh nghệ thuật chưa được sử dụng mà vẫn để cá thể con người phải nằm trong cái quy luật chung của đời sống, không thoát ra được sự thay đổi và một vài biểu hiện của xã hội đời sống, mà những biểu hiện ấy là bình thường, ai vào tình huống ấy, con người nào nằm trong hoàn cảnh ấy cũng phải làm như thế, cũng phải nghĩ như thế. Nếu ruột thịt là gắn bó thì giờ đây không ruột thịt mới gắn bó nếu thời gian 30 năm ấy, từ trẻ nhỏ tới trưởng thành mà may vẫn trưởng thành của Tráng ấy đổi được với nhau. Xa vẫn là láng giềng hơn thân thuộc, xa vẫn là tình người hợt ruột thịt, và câu nói giọt máu đào hơn ao nước nã không được dùng ở đây mà vẫn phù hợp.
    Đương nhiên rồi, câu nói cuối để khép lại truyện ngắn và hình ảnh hiện đại hiện lên không phải là cái tội, không phải là cái phải lên án nếu đặt mình vào để thấu hiểu điều gì đó có quy luật, nghệ thuật không nghệ thuật, hay nghệ thuật phải là nghệ thuật mới được chúng ta cảm nhận được, hiểu được giá trị của nó mà không ngạc nhiên?
    Bài viết có yếu tố gì chưa phải với tác giả Bảo Thương và cuộc thi viết truyện ngắn Lửa mới thì tôi xin mong được lượng thứ và bỏ qua, hoặc cũng mong có được những trao đổi bởi tôi chỉ là một người đọc như bao người đọc khác muốn khám phá tác phẩm này.
    Hòa Phong.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *