Truyện ngắn Đặng Thị Thúy: Con chim bay lạc

Tự ngật ngưỡng ngồi bên bàn. Cái bàn ngổn ngang chén đĩa, vung vãi những mẩu diêm và nham nhở tàn thuốc lào. Mùi rượu cay nồng, mùi tanh của thức ăn, mùi khai của nước điếu quyện vào nhau, tạo nên một bầu không khí đặc quánh, tanh lợm. Với một người nào khác bước vào đây là cảm giác ấy. Nhưng với Tự, gã chẳng còn thấy gì. Gã đã sống chung với mùi ấy cả tháng nay rồi, kể từ khi con vơ hư đốn của gã dứt áo ra đi. Cả tháng nay rồi, gã vùi mình trong men rượu. Gã muốn quên đi nỗi nhục nhã đớn đau quặn thắt của thằng đàn ông bị phụ bạc. Gã uống như chưa bao giờ được uống.

Gã nốc tì tì thứ nước cất trong veo, cay nồng. Ngày này qua ngày khác, gã chẳng thiết làm gì, chẳng thiết ăn, gã chỉ muốn uống cho quên cái nỗi đời đen bạc. “Khốn kiếp! Thật khốn kiếp” – gã lè nhè một mình, lập bập cầm chai rượu và rót. Dòng chất lỏng trong chai ồng ộc chảy ra, loằng ngoằng đổ vào chén, toé xuống bàn. Đầu óc Tự bồng bềnh ngả nghiêng, nhìn cái chén lúc mờ lúc tỏ, gã cầm lên và tợp gọn một hớp. Dòng chất lỏng trôi tuột vào dạ dày, chẳng thấy cảm giác gì cả. Tự lại rót và cay cú tợp gọn một chén nữa. Gã nấc lên: -“Mẹ kiếp! Rượu gì mà cứ ngọt lịm thế!”. Gã lè nhè rủa. Tiếng rủa loang trong căn nhà trống, đập vào màng nhĩ của  gã, âm âm. Tự với chai rượu, toan rót tiếp thì nghe tiếng khóc ti tỉ của con, càng lúc càng gần. Gã ngất ngư đảo mắt nhìn ra cửa. Đứa con gái lớn đang bế em lếch thếch đi vào. Tự gằn giọng:

– Cái gì thế?

Con chị đặt em nem nép dựa vào bức tường đối diện, đáp rụt rè:

– Cái Mơ… nó đòi ăn bánh của thằng Huy. Thằng Huy không cho, nó khóc. Bố… từ sáng đến giờ …

Con bé chưa nói hết, Tự đã thấy tức sôi lên, quát:

– Đòi! Đòi cái gì? Chúng mày chỉ biết đòi hỏi thôi hả? Có giỏi thì đi tìm con mẹ mày mà đòi. Đi đi, cút hết đi…

Nhà văn Đặng Thị Thúy ở Hải Phòng

Tự cầm chén rượu vung mạnh, cái chén vuột khỏi tay gã, phóng vào bức tường đối diện. Sau tiếng “Choang” khô khốc, từng mảnh chén bắn toé xuống sàn. Đứa em khóc thét lên trong khi con chị nhìn gã trân trân bằng cặp mắt thất thần, sợ hãi. Mắt gã hoa lên, tối sầm lại. Gã lắc mạnh cái đầu, cảnh tượng lại hiện ra, rõ mồn một. Trước mắt gã bây giờ là một thằng con trai chạc mười tuổi đang nhìn gã trừng trừng căm giận. Đúng là một thằng bé con, khuôn mặt nó chập chờn, gã thấy như quen lắm. Gã không hiểu bằng cách nào mà nó lại có thể đứng ở đây, nhìn gã bằng con mắt căm giận đến nhường này. Cổ gã nghẹn lại, nỗi căm giận của thằng bé như đang trào lên trong gã. Gã gục xuống bàn, như một tàu lá úa. Gã thấy thằng bé vùng chạy ra ngoài, phóng đi thật nhanh, gót chân gã đang bồng bềnh theo giấc mơ đang trôi về quá khứ nghiệt ngã của những ngày thơ ấu.

Thằng bé ấy là Tự của hai mươi sáu năm về trước. Cái bát rượu được ném đi từ bàn tay của người cha nghiện ngập khi ấy cũng giống như nỗi căm giận uất ức được dồn nén bao lâu nay trong lòng nó, giờ được dịp vỡ toang ra. Nó chạy hối hả, như thể muốn thoát thật nhanh khỏi căn nhà địa ngục đó, cho đến khi nó thấy ngực thắt lại, như có ai đó đang bóp mạnh vào, Tự mới dừng lại thở hồng hộc, gấp gáp. Khi quả tim trở về với nhịp đập đều đều, nó mới tiếp tục đi bằng những bước chân vô định. Ra khỏi cổng làng, Tự không biết mình sẽ đi về đâu. Đi tìm mẹ, ấy là điều đầu tiên loé lên trong óc nó. Nghe đâu mẹ ở Thị xã, nó chỉ biết có thế. Tự lần ra đường cái, vẫy những chiếc xe khách qua đường, chẳng cái nào dừng lại cho đến tận khi trời tối nhá nhem, người lái xe tải buộc phải phanh gấp trước một thằng bé giang tay đứng giữa đường và mủi lòng khi nghe nó mếu máo kể rằng muốn đi tìm mẹ ở Móng Cái, nơi chiếc xe phải đến trên chặng đường dài sắp tới. Nó được lên xe sau khi khẳng định rằng nó có thể tự tìm được chỗ ở của mẹ nó khi đến nơi. Người lái xe tốt bụng cho nó một mẩu bánh mì và giấc ngủ ngon lành trên chiếc đệm dài sau ghế lái. Khi trời vừa sáng, nó được đánh thức dậy và thả xuống lề đường. Nó ngơ ngác nhìn quanh, lạ lẫm. Bác tài tốt bụng hỏi:

– Cháu có biết chỗ này không?

Nó nhìn quanh, luống cuống mất mấy giây rồi gật đầu.

– Mẹ nó ở đâu? – Bác hỏi dồn.

Tự chỉ đại về phía cuối phố:

– Ở đằng kia.

– Chắc chứ?

– Chắc ạ! – Tự đáp quả quyết, như thể nó đã quen nơi này lắm rồi.

Bác tài yên tâm cho xe chuyển bánh. Tự rảo bước theo hướng nó đã chỉ. Theo lời kể của mẹ, nó tưởng Thị xã cũng như cái làng của nó mà thôi, cái nơi nó đã thuộc từng ngóc ngách như lòng bàn tay. Có khác chăng, Thị xã nhiều nhà hơn và không có những cánh đồng như làng của nó. Tự hăm hở đi, hết con phố ấy lại có những dãy phố dài khác hiện ra, nó bắt đầu thấy luống cuống. Nó hỏi nhiều người nhưng chẳng ai biết mẹ nó. Hoá ra ở nơi này, mọi người không biết nhau. Không như ở làng, tìm một người chẳng khó khăn gì, chỉ cần nói tên, người ta sẽ chỉ đến tận nhà. Đằng này, ai cũng bảo nó phải nói địa chỉ. Người ta nhìn nó ái ngại, còn nó thấy nỗi sợ hãi đang lớn dần.

Tự mải miết đi như thế, qua không biết bao nhiêu con phố. Cho đến khi đôi chân nó không thể nghe theo sự chỉ bảo của cái đầu. Nó ngồi bệt xuống thảm cỏ trong công viên bên bờ sông. Trong cơn đói, khát và sợ hãi, nó thấy khuôn mặt của mẹ. Khuôn mặt hốc hác, sạm đen với đôi mắt thâm quầng luôn ngấn nước mỗi lần về thăm nó. Mẹ bảo khi nào có thể, sẽ đón nó đi cùng. Mẹ bỏ đi bởi bố suốt ngày bài bạc và say xỉn bởi mẹ không thể chịu nổi nữa những trận đòn bầm dập mặt mày. Nó nhớ mẹ quá! Nhớ cả mùi bánh rán ngầy ngậy mẹ vẫn mua về. Nó liếm môi và nuốt khan. Mùi bán rán và đôi mắt của mẹ cứ chìm dần, chìm dần…

Khi Tự cảm thấy một dòng nước mắt lạnh chạm vào môi, nó hối hả uống và dần hồi tỉnh. Trước mắt nó là khuôn mặt già nua, lạ lẫm của một ông già.

– Cháu tỉnh rồi! Nhà cháu ở đâu?

– Cháu không biết – nó đã thều thào.

– Sao cháu lại ở đây?

– Cháu đi tìm mẹ .

– Mẹ cháu ở đâu? – Ông già kiên nhẫn hỏi.

– Cháu không biết, mẹ cháu bảo ở Thị xã Móng Cái, cháu đã tìm nhưng…

Ông già gật gù như hiểu điều nó muốn nói. Ông cười hiền:

– Thôi được, về nhà ông đã, từ từ rồi tính.

Tự theo ông già bán tò he về ngôi nhà cót ép trong xóm tạm trú. Nó kể cho ông nghe về mình. Ông già lo lắng thở dài, thủ thỉ như nói với mình:

– Đàn bà phiêu bạt ra cái đất này, vốn liếng không có lại chẳng chỗ cậy nhờ, buôn thúng bán mẹt là may, không thì đi xách hàng thuê cho bọn chủ cũng đủ qua ngày. Sợ nhất là bị lừa bán đi sang Trung Quốc, nếu thế thật thì có giờ mà tìm được. Mong là không đến nỗi ấy.

Tự hiểu lời ông cụ nói. Nó cũng hi vọng sẽ tìm được mẹ giữa cái Thị xã vùng biên nhộn nhịp này. Hàng ngày, nó theo ông già đi khắp các đường phố bán những con tò he đỏ xanh sặc sỡ. Nó không còn nhớ quê nó là nơi nào. Ông già Tò he trở thành người thân duy nhất của nó nơi đây. Nó biết ơn và gắn bó với ông. Chỉ có điều, nó chẳng bao giờ được nghe ông kể về chuyện đời, vì sao một mình ông phiêu bạt nơi đây. Ông chỉ nói rằng ông không có phúc được nhờ con nhờ cháu.

Ông ra đi khi Tự mười bảy tuổi, với ước nguyện nắm xương tàn của ông được về với quê cũ là làng ấy, xã ấy, huyện ấy. Ông ra đi để lại cho Tự căn nhà cót ép trong xóm tạm trú ven Thị xã và lời trối trăng: “Bởi cuộc đời này đã lắm nỗi đắng cay, đừng mang đến cho người khác những gì từng làm mình đau khổ”.

Tự khắc cốt ghi tâm ước nguyện của ông già. Dẫu không theo nghề Tò he của ông nữa nhưng cách tốt nhất để báo đáp ơn nghĩa sâu nặng ấy là  sống cho ra sống, Tự nhủ thầm như thế. Với sức vóc lực lưỡng của mình, nó xin xuống bến Lục Lầm làm cửu vạn. Sức khoẻ và sự cần mẫn đã làm cho cuộc sống của Tự dần ổn định. Căn nhà được xây lại khang trang khi Tự tròn hai mươi tư, đó cũng là năm nó cưới được con Thêu làm vợ. Năm ấy, Thêu vừa tròn mười sáu, ngày nào con bé cũng theo bố mẹ trèo đò dọc sông Bắc Luân để bán hàng. Dãi dầu mưa nắng là thế mà làn da con bé cứ trắng mịn, cặp mắt lóng lánh như biết cười. Đôi má bầu bĩnh lúc nào cũng hồng rực. Biết bao cặp mắt thèm thuồng nhìn theo mỗi khi đò hàng nhà con bé đi qua. Thế mà con bé lại ưng lấy Tự. Có lẽ bởi Tự nổi tiếng ở cái bến này về sự  chăm chỉ, hiền lành tu chí làm ăn. Lấy được vợ rồi, Tự càng vun vén cho gia đình hơn bao giờ hết. Tự coi gia đình như là báu vật. Mà là báu vật thật. Ai ngờ được một thằng bé cầu bơ cầu bất như nó mà lại có một gia đình đàng hoàng thế, thậm chí còn sung túc và êm đềm nhất trong cái xóm tạm trú ấy. Ai cũng khen con Thêu tốt số vớ được chồng ngoan hiền, chiều chuộng. Từ ngày cưới xong, Tự không cho vợ đi bán hàng nữa. Tự ghét phải nhìn thấy những cặp mắt mơn trớn của bọn cửu vạn trên sông cứ dán vào thân thể vợ mình. Con Thêu chỉ việc ở nhà ăn và đẻ. Hai mươi nhăm tuổi, đã có ba mặt con mà trông nó cứ phơi phới ra, đẫy đà và sung sức. Tự càng tham việc hơn, hắn tận dụng thời gian làm thêm cả buổi tối. Ngày nào đi làm về, dẫu mệt nhoài mà hễ nhìn thấy vợ là Tự lại thấy phát thèm. Thế nhưng đêm nào cũng như đêm nào, vồ vập xong là Tự lăn ra ngáy pho pho mãn nguyện. Chỉ có con vợ hắn là trằn trọc, hết lật bên này lại lật bên kia, thở dài thườn thượt.

Năm nay, vợ chồng Tự toan tính mở cái quán bán hàng ở nhà. Vốn liếng cũng cần vài ba chục triệu. Đang toan tính xoay xoả thêm cho đủ thì thằng cai cửu của Tự ngỏ ý cho vay. Vợ chồng Tự mừng lắm. Thêu cứ xuýt xoa:

– Anh tốt thật đấy, thời buổi này, anh em ruột cho nhau vay còn so đo tính toán. Ấy thế mà anh cho chúng em vay cả chục triệu đồng cứ như không, lại chẳng tính lãi xu nào. Anh tốt thật đấy!

Thằng cai cửu nhe bộ răng vàng khươm, cười hềnh hệch:

– Ấy là anh coi cô chú như anh em trong nhà, giúp được thì giúp, có thiệt đi đâu mà lo.

Gã nói và vuốt ve Thêu bằng tia nhìn qua đuôi mắt một mí dưới cặp chân mày đen xì. Thêu thấy ngực mình nóng ran phập phồng, nhồn nhột.

Dạo này, Tự thấy vợ mình ngày càng trẻ trung tươi tắn hơn. “Chắc vì có công việc làm ở nhà nên nó vui, chứ như trước đây, suốt ngày chỉ trông con với nấu cơm nấu nước mãi cũng buồn” – Tự nghĩ thầm như thế. Nhưng Tự lại nghe phong phanh rằng thằng cai cửu hay đến nhà chơi lúc Tự đi làm vắng. Ban đầu, Tự nghĩ chắc thằng này coi mình như anh em, thỉnh thoảng đến chơi, mua thuốc nước cho anh em trong đội, cũng là ủng hộ cái quán hàng nhà mình. Nhưng người ta xì xào nhiều, Tự cũng đâm ra nghi hoặc, Tự hỏi vợ, chỉ nhận được cái ngấm nguýt của Thêu. “Rõ điên, người ta tốt quá lại thành ra mang tội, hơi đâu nghe bọn rách chuyện đơm đặt làm gì”. Nghe vợ nói thế, Tự lại thôi không nghĩ ngợi gì nữa.

Một tháng trước đây, ấy là một ngày mữa dầm gió bấc, rét cắt thịt cắt da. Tự đang vác hàng dưới bến. Nước sông tuy cạn nhưng vẫn phải lội đến ngang đùi, lạnh buốt. Cục cao su nặng trịch đã được bọc một lớp giấy ni lon mà vẫn bốc lên mùi khăn khẳn nồng nặc, bao năm rồi mà Tự không sao quen được cái thứ mùi này. Tự dồn sức vào đôi tay, nâng cục cao su vàng nhạt trên vai, đáp lên sàn xe để thằng Tân xếp thành từng lớp. Tự khịt khịt mũi phía trong lớp khẩu trang, định quay lại đò vác tiếp thì nghe tiếng Tân gọi giật lại:

– Tự, lại đây bảo.

Tân ghé sát vào tai hắn thì thào. Mặt Tự đỏ dần lên rồi tái đi. Hắn lập tức chạy ra chiếc xe Dream tàu, tra khoá, lập bập đề ga và mải mốt phóng về nhà. Lũ con đang chơi với bọn trẻ ở sân nhà hàng xóm, cửa xếp đóng một bên, chiếc xe của lão cai cửu dựng phía ngoài. Tự kéo cửa và xộc vào nhà. Buồng ngủ đóng chặt, có tiếng lục sục bên trong. Mắt Tự vằn lên những tia đỏ, hắn lên gân đạp cửa liên hồi. Cánh cửa bật ra, trời đất như sập xuống đầu hắn. Máu trong người sôi lên, hắn xông vào túm lấy thằng cai cửu mặt cắt không còn giọt máu đang luống cuống xỏ quần. Một cú đấm trời giáng, thằng khốn khiếp bật ngửa xuống giường, máu mũi túa ra. Tự lại xông đến, điên cuồng như con hổ say máu. Thêu la hét van xin, túm chặt lấy chồng để thằng cai vọt ra ngoài, nhảy lên chiếc xe của Tự chưa kịp tắt máy ở cửa, cuống cuồng phóng vụt đi. Tự giật được khỏi vợ chạy đuổi theo nhưng không kịp. Tự hộc lên như con thú bị thương, gầm ghè quay lại:

– Con Thêu, tao giết! Tao giết…

Nhưng con vợ khốn nạn đã kịp quấn chăn chui qua rào sau nhà, trốn biệt đằng nào. Tự sục sạo rồi điên cuồng lôi hết quần áo của con đàn bà thối tha quăng ra trước cửa và châm lửa đốt. Ngọn lửa cháy bùng bùng giữa đám người bu đến càng lúc càng đông, chỉ trỏ, xôn xao bàn tán. Tự đau đớn như ngàn mũi tên đâm  thấu ngực mình. Tự đập phá hàng quán cho đến khi không thể vùng vẫy nỗi giữa những cánh tay xiết chặt của ba người đàn ông lực lưỡng. Hắn rũ xuống, nước mắt trào lên, rưng rức.

Khi bố mẹ Thêu sang đến nơi thì tất cả đã tan tành cả. Tự đang nốc rượu ừng ực, lũ trẻ thút thít bên góc sân. Sự có mặt của ông bà càng làm cho Tự nổi xung lên. Hắn có cớ để chửi rủa, hắn cấm  ông bà đụng vào con hắn. : “Tao nuôi, tao nuôi hết, nhà tao không có giống lăng loàn” – Hắn hét vào mặt bố mẹ vợ như thế làm cho ông bà sượng sùng quay về. Hắn chửi cho hả giận thế thôi chứ hắn nào nuôi được con. Hắn còn phải vùi mình trong rượu, cho quên đi cái đen bạc cuộc đời. Hắn rít thuốc lào sòng sọc, nhả khói lên trời. Nhìn nó uốn éo trong không khí, hắn lại tưởng tượng thấy cảnh đôi gian phu dâm phụ quấn lấy nhau, hắn hộc lên đập tan chiếc điếu, nước điếu khai nồng tung toé khắp nơi. Hàng xóm không biết khuyên nhủ Tự thế nào, đành giúp hắn bằng cách cho lũ trẻ ăn nhờ. Ông bà ngoại lén mua thức ăn sang cho chúng. Cả tháng rồi, con vợ hắn vẫn biệt tăm, bỏ lại ba đứa con nheo nhóc, đứa lớn nhất vừa chín tuổi, đứa bé nhất mới lên hai. Nhìn ánh mắt ngơ ngác bơ vơ của chúng, không ai nén được nỗi xót xa.

***

Tự vẫn nằm nghiêng, vắt người lên mặt bàn. Tiếng ngáy khùng khục nảy đều trong cổ họng. Hắn thấy ông già đi vào, tay xách chiếc thùng gỗ với những con tò he xanh đỏ cắm trên đầu que tre. Ông già cười hiền. Rồi khóc. Rồi thở hấp hối: “… Đừng mang đến cho người khác những gì từng làm mình đau khổ”, ông đặt vào tay hắn những con tò he sặc sỡ. Hắn nhặt từng con giơ lên. Con này là cha hắn, đôi mắt vằn đỏ, cái miệng sực mùi rượu với những câu chửi rủa. Con này là mẹ hắn, khắp người đầy những vết bầm dập xanh lè, ánh nhìn khắc khoải, nhẫn nhục. Con này chắc là vợ hắn, không mảnh vải che thân, khuôn mặt nhau nhúm, đôi mắt hốt hoảng, van lơn, cầu cứu. Còn đây, ba con nhỏ xíu này là con

của hắn. Ngơ ngác. Mếu máo. Hắn thấy lòng chùng xuống, đưa tay định kéo chúng lại gần. Chúng sợ sệt lùi xa, xa nữa. Hắn cố rướn người với tay theo.         “ Choang!” Tiếng động đột ngột làm hắn giật bắn người choàng dậy. Thì ra hắn vừa ngủ mê, đẩy chiếc cốc trên bàn làm nó rơi xuống sàn, vỡ tung toé. Tự cục cựa cái đầu nặng trĩu, đôi con mắt nhức nhối như muốn lồi ra. Hắn đưa mắt tìm kiếm khắp căn nhà trống vắng, tĩnh lặng. Tia nhìn của hắn nhìn lại ở chiếc giường kế sát bên cửa sổ, hắn rón rén bước lại gần. Ba đứa con đang ôm nhau say giấc, nhịp thở đều đều. Tự thấy khuôn mặt chúng như tóp lại, nhem nhuốc. Con bé út thút thít khóc trong mơ. Tự đưa tay khẽ vỗ lưng ru cho con yên giấc. Rồi cứ thế hắn ngồi trầm tư cho đến sáng.

Mấy ngày sau, nhà Tự lại mở cửa . Tự một mình xoay xoả bán buôn với cái quán ấy. Hàng xóm không bao giờ thấy Tự uống rượu nữa. Các con hắn được chăm bẵm đầy đủ, tinh tươm. Cuộc sống lại trôi với nhịp điệu vốn có của nó. Chỉ những buổi chiều, khi bóng tối đuổi theo cánh lũ chim bay về tổ, người ta mới thấy Tự thoáng buồn, thẫn thờ nhìn hút theo bóng một con chim lạc bầy đang chấp chới, chập choạng giữa hoàng hôn.

ĐẶNG THỊ THÚY

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *