Có một chuyện kì lạ xảy ra chưa lâu, khiến cho vợ chồng Tuấn suy nghĩ mãi. Hai tháng trước, Thu đem kể với ông ngoại của sấp nhỏ, năm nay đã 84 tuổi. Nghe xong cụ lẳng lặng mua nải chuối, bó nhang, bảo đưa ra chỗ ấy van vái. Cũng từ đó, cụ trầm trầm ưu tư, mỗi chiều lại nhang khói lâm râm, được mươi hôm cụ bỏ cơm, rời cõi tạm. Thu thương cha khóc miết, có khi đừng kể cho cụ biết thì hay hơn?
Hôm ấy tàu vừa cập cảng Phú Lạc, Tuấn và Hải nhảy rật xuống bãi, ý ới gọi anh em xúm vào, hai chiếc đông lạnh mở toang cửa đón cá. Vui một năm được mùa ngừ, tàu về ăm ắp, mỗi tàu đạt sản lượng có khi trên 1.5 tấn. Cá ngừ tiêu thụ mạnh, nhất là các tỉnh trong nam, anh em có thu nhập khá nên háo hức, mỗi chuyến chỉ nghỉ có vài ngày lại ra biển.
Lão Năm Râu vỗ vai Tuấn: “Ê để tau con gù mắt to kia nghen, mày cân thử coi sao”.

Gì chớ tiền bạc rõ ràng, dân thu mua bây giờ linh hoạt mau mắn, toàn áp dụng 4.0 vào buôn bán. Cân đo, trả giá xong… rẹt rẹt chuyển khoản. Hải phụ Tuấn vác con gù mắt to xuống bến cho lão Năm Râu, ui chà… đúng là hàng đặc biệt, màu da đen đồng láng bóng, khiêng vã cả mồ hôi, cân lên gần cả tạ. Lão Năm trầm ngâm một hồi rồi thống nhất chín triệu tám. Chuyển khoản xong, lão há miệng cười phô cả hàm răng nhẵn trụi, dang tay ôm con gù: “ê Hải, chụp tao vài kiểu đi mày!”.
Chị Thu vợ Tuấn lọ mọ chui vô khoan tàu, mang ra một mớ hải sản câu dặm. Cầm con bạch tuộc thiệt to với cặp mắt lồ lộ.
“Ổng ưa món này lắm! Để tui luộc hết cho tối nay mấy ông bồi dưỡng lấy sức”.
Thằng Hải chêm: “ổng nhậu xong, tối nay biến thành bạch tuộc… cho chị khiếp luôn á…”.
Cả đám cười rân, Thu nheo mắt che miệng, le te xách giỏ về nhà chuẩn bị cho buổi tối. Bóng chị đổ xiên lên bãi, chuyển động nhấp nhô theo bờ cát trắng xoá như đang múa may vui vẻ.
Gió biển ùa vào trong cảng lao xao, mồ hôi tứa ra ướt đẫm… Dạo này cá ngừ được giá, thương lái vào tận cảng chờ hàng. Thi thoảng có cả người Nhật, người Tàu đến cảng thu mua, tiền bạc thoáng lắm nhưng lại kén hàng, chỉ trầy một chút là chê. Tháng trước có hai ông mập ú không rõ nước nào, vô cảng tìm cá, tranh mua cho bằng được mấy con gù mắt to mà đánh nhau trong cảng, sưng đầu chảy máu.
Mãi đến gần sáu giờ chiều thì xong việc. Anh em lau mồ hôi, ngồi tụ lại nói cười râm ran, nghe mùi biển hoà trong những luồng gió mát rượi từ khơi xa thổi vào, âm âm tiếng sóng như người hát. Một đổi, chị thu và ông nhóc khệ nệ khiên ra đủ thứ.
“Nè mấy ông uống vừa vừa thôi hỉ. Đừng để nẫu sốt ruột chờ ha. Cả ngày mệt về nghỉ sớm cho lại sức…”.
Thằng Hải vừa tu xong chai nước, cười khà: “chị yên tâm! Soái ca Tuấn sẽ về sớm để hoàn thành nghĩa vụ trả bài… he he”.
Cả bọn cười phá lên, đứng dậy vươn vai, hít làn gió chiều vi vu dưới vòm trời thẫm.
***
Tuấn và mấy anh em kéo nhau ra bờ cát trắng phau, khi trăng vừa lên toả ánh vàng lấp loá trên mặt sóng. Hải bảo: “mọi người nhìn kìa! trăng đang uống biển…?” rồi chạy ào xuống, hụp lặn một hồi trong sóng biển vập vồ khoả lên tấm lưng trần đen bóng. Thằng Hùng bắt đầu khui bia bôm bốp và bày mồi trước mặt soái ca Tuấn. Mấy anh em đều quý Tuấn, xem Tuấn là người anh cả, như soái ca thực thụ trên biển khơi, như hiệp sĩ của đại dương băng qua sóng cả, chỉ huy một đội quân săn tìm hạnh phúc ấm no cho nhiều người, mang trong tim sự thấu cảm và chân ái.
Có một chút bí ẩn từ những đám mây ở đằng đông, như đoàn người đi ngang phía biển. Hình như có tiếng vọng từ mênh mông hoang dã, hoà theo tiếng sóng khi xa khi gần, thành bản giao hưởng của biển đêm đầy huyền bí. Tuấn khoát tay ra hiệu: “tụi bây im lặng, có ai đàn… đâu đây?”. Từng giai điệu ngược xuôi theo gió, càng lúc càng dìu dặt và rõ hơn, nghe như khúc hùng ca chiến trận. Anh em vừa uống bia vừa trố mắt hướng về bờ cát xa xăm, nơi phát ra tiếng đàn.
Gió biển thổi từng hồi, lạnh và ẩm ướt hơi sương. Hải ngừng nhai, miếng mực trong miệng làm phồng to bên má, mặt chồm về sóng biển, đưa tay chỉ: “kìa… tui thấy người, đó… đó…”. Một bóng người âm u ẩn hiện, vừa đi vừa đánh đàn, lần bước về chỗ mấy anh em đang ngồi. Thanh âm lại biến tấu ngân nga như làn điệu bài chòi, mộc mạc như lời ru.
Hình bóng lạ lẫm cùng tiếng đàn đã dần dần hiện rõ, mong manh trong gió và trăng.
“Chào các bạn trẻ”- người lạ bước đến, mĩm cười thân thiện như bè bạn từ phương xa trở về. Qua màn sương giăng giăng, Tuấn nhìn ra một dáng hình gầy gò dong dỏng cao, của một người trai trẻ trông dãi dầu sương gió. Anh đưa tay ra nắm lấy bàn tay khô gầy sạm đen và chợt rùng mình, cảm nhận sự sần sùi của vỏ cây và những gồ ghề của sẹo. Người ấy trò chuyện làm quen:
“Tui xa quê đã lâu, nhớ làng nhớ nước quay về, nhìn nhà cửa khang trang, mọi người no ấm… thiệt là mừng!”.
Hải cười cười mà mắt vẫn nhìn người lạ chăm chăm, một lát sau mới hỏi: “anh có quen ai ở làng biển này à?”. Người lạ gật đầu: “có biết chị Tư Mến, mà không biết giờ chị sao, ở đâu?”. Tuấn phân vâng:
“Ủa… chị Tư Mến? Làng này chỉ có bà Tư Mến, năm nay trên tám chục. Chồng theo cách mạng ra đi sớm, từ ngày chồng mất cứ ở vậy, không con cái gì… một thân một cõi, sáu mươi năm nay thờ chồng”.
Anh ta hỏi han khá kĩ về bà Tư Mến, biết bà cô đơn và hay ốm đau bệnh tật, thì bỗng buồn và lặng im hồi lâu, khoé mắt rưng rưng.

Trăng lên cao tròn vạnh, khuôn mặt người mới đến càng lộ rõ, đẹp và lạ lắm, như khuôn mặt của vị tu sỹ trẻ vô vi và khổ hạnh. Vị tu sỹ lại ngó Tuấn chăm chăm rồi nở một nụ cười, vừa bí ẩn vừa trìu mến, thật khó diễn tả. Có vẻ như đã biết Tuấn từ lâu và cuộc hội ngộ hôm nay không phải là tình cờ mà được sắp đặt?
Câu chuyện lại tiếp nối xung quanh sự đổi mới của quê hương. Mặc dù vị tu sỹ lang thang không biết cá ngừ đại dương là gì, bia là gì, thuỷ điện là gì, nhưng khuôn mặt bỗng lộ vẻ vui tươi khi biết ở Tuy Hoà có một nhà máy bia đóng góp cho ngân sách hàng trăm tỷ mỗi năm, cá ngừ đại dương đạt doanh thu hàng ngàn tỷ năm ngoái, đập thuỷ điện Sông Ba Hạ với công suất 220 MW đủ cung cấp điện cho cả Miền Trung. Khi nghe kể về tình trạng chặt phá rừng dẫn đến đất đai bạc màu và lũ quét ở một số xã vùng cao, vài vụ việc tiêu cực gây nhức nhối mấy năm rồi; vị chân tu bỗng đăm chiêu, nhìn về khoảng trời xa mờ vô định.
Cõi lòng xao động trước bao nhiêu biến đổi của quê hương, người lạ lại ôm đàn cất lên những giai điệu bằng đôi tay xương xẩu tài tình, uyển chuyển. Từ trước tới giờ Tuấn chưa thấy ai có những ngón đàn như vậy, lướt trên dây đàn như nước trôi gió cuốn. Có lẽ nãy giờ uống khá nhiều nên mắt Tuấn ríu lại, tiếng đàn vẫn dìu dặt khoan thai, sương đêm và màu trăng hoà quyện khiến khung cảnh lung linh tỏ mờ, huyễn hoặc.
***
Người lạ ấy cầm tay, kéo Tuấn từ từ rời bãi cát, bay la đà qua mặt sóng lăn tăn lấp loá trong ảo mờ của những vạt rừng đầy kí ức.
Những đám mây níu chân anh như muốn nói điều gì, mặt trăng gọi tên ai như trông chờ mong nhớ.
Tuấn và người lạ đáp xuống nhẹ nhàng, trên một ngọn cây lêu khêu bên chân núi, cạnh vũng Chùa. Níu Tuấn ngồi xuống trên những tán lá, người ấy giới thiệu tên là Mẫn, chú Mẫn.
“Chú là bạn thân với cha vợ của cháu, gọi bằng chú đàng hoàng nghen!”.
Tuấn trố mắt trân trân nhìn… người xưa… người xưa không già nữa?
Chú Mẫn nói tiếp: “ngày đó chú và cha vợ cháu là ông Sáu Thịnh còn trẻ lắm, được giao nhiệm vụ mở đường cho một số đồng chí lãnh đạo thoát vô cứ, sau vụ tàu C143 bị đánh chìm ở chỗ kia”.
Tuấn nhìn xuống vũng Chùa, lấp loá những ánh đèn sáng rực ở khu di tích, những vòng hoa tươi trôi thẫn thờ quanh chỗ tàu chìm.
Đó là một đêm mưa tầm tã, mười ba anh em đang tìm đường rút về căn cứ. Sau khi tàu C143 bị đánh chìm, kẻ địch điều lực lượng về đây càng quét, bắn phá ác liệt. Phía sau là cả một tiểu đội biệt động đang đuổi theo truy sát, có lẽ trận mưa to đã khiến cho chúng chùn bước, đợi dứt cơn mưa là hùng hổ tiến lên và với cái đà đó thì tất cả anh em sẽ đi sạch. Đêm đó dưới gốc cây to đồng chí chỉ huy quyết định, phải cử một người ở lại chặn địch và tìm cách đánh lạc hướng, số còn lại băng qua rừng tìm về căn cứ Núi Đá Bia. Cả Mẫn và Thịnh đều giơ tay, xung phong cùng một lúc. Mẫn xô vai Thịnh: “tình thế nguy cấp lắm! anh nhanh nhẹn tháo vát, đi nhanh đi, đừng tranh cãi gì cả”. Thịnh cũng vậy, cứ khăng khăng đòi ở lại, hai bên giằng co. Mấy anh em đành tập trung lại, cầm tay Thịnh kéo đi. Trong đêm tối anh đưa tay níu vai Mẫn, nước mắt trào ra như mưa. Họ rút đi nhẹ nhàng đến gần sáng, nghe sau lưng những tiếng nổ ì ầm.
“Chú dính hai quả đạn cối, tan tành ở triền núi bên kia, anh Sáu Thịnh và mấy anh em vượt thoát thành công vô cứ. Đã sáu mươi năm trôi qua, chú vẫn dõi theo, biết ổng hay bệnh tật ho hen trong mấy năm nay, chú thương mà không biết làm sao”.
Dòng lệ ứa ra từ hốc mắt thăm thẳm sâu, chứa đựng những kí ức hào hùng, đầy gian khó?
“Cho chú gửi lời thăm anh Sáu nghen. Dặn bà Tư Mến giữ gìn sức khỏe, rằng chú không lúc nào nguôi ngoai nỗi nhớ thương bà ấy…”.
Tiếng đàn lại cất lên, bàn tay khô khốc loang loáng trên dây đàn, âm thanh vang vọng từ ngọn cây cao xao động cả vũng Chùa.
Chợt có tiếng ai lay gọi, Tuấn mở mắt choàng tỉnh, hoá ra là bà xã sốt ruột chạy ra bãi.
“Trời! mấy ông nội, đã bảo uống vừa thôi, giờ say mèm hết vậy nè… Gọi cả chục cuộc không ông nào trả lời, thôi dìa… lẹ, khuya rầu”.
Tuấn nhìn quanh, chú ấy và cây đàn đâu rồi? Bất giác anh thấy lạnh dọc theo sống lưng, sởn cả gai ốc.
***
Đêm đó Tuấn không ngủ được, nhìn qua cửa sổ thấy mặt trăng tròn vành vạnh, anh đánh thức vợ dậy để tâm sự. Thu vén lại mái đầu đang rối tung, nghe chồng kể, bỗng chị buông tay xoã cả tóc, thẫn thờ và đăm chiêu một đỗi:
“Đúng rồi… đúng là chú ấy! Cha thường kể về một người bạn tên Mẫn, đánh đàn rất hay. Chú ấy đã tình nguyện ở lại ghìm chân địch, mở đường máu cho mấy anh em vượt thoát vô núi. Hàng năm cha luôn nhớ ngày, làm mâm cơm nhớ bạn. Thân xác chú giờ nằm đâu, không ai biết”.
Đêm đã khuya, gió xao xác ngoài vườn. Thu lẳng lặng đốt một bó nhang đỏ rực, chạy nhanh ra biển nơi bãi cát lúc chiều. Ngửa mặt nhìn lên những vầng mây dập dìu thanh thản, chị gào to:
“Chú mẫn ơi…! Con là Thu, là con gái bác Sáu Thịnh đây! Chú an vui nghe chú, cha con nhớ chú lắm…!”.
Tuấn chạy theo, cùng vợ thắp nhang quanh bãi. Những cây nhang phừng lên, nghi ngút dưới đêm trăng.
Đã hơn tháng nay từ ngày cụ Sáu Thịnh mất, Tuấn và mấy anh em không hề nghe thấy tiếng đàn trên bãi nữa. Có lẽ giờ này hai cụ đã gặp nhau, cùng ôn lại một thời kỳ lịch sử.
29.5.2024
LÊ HÀO

















