Truyện ngắn Nguyễn Đức Hạnh: Phố Phiêu Bạt

VHSG- Ai từng đi qua vùng chợ Chu chắc đều phải biết đến phố Phiêu Bạt và cây đa ngàn tuổi, cây lúc giúp người, lúc hại người, mọc ở trung tâm của phố. Phố gồm 2 dãy nhà cổ kính rêu phong, chạy dài từ bờ sông đến chân núi đá. Cư dân của phố đều không nhớ nổi gốc gác của mình, làm nghề thủ công kiêm buôn bán và ngược lại. Dông bão cuộc đời cuồn cuộn trong tóc họ. Sóng gió đắng cay như dao chém khắc vạt lên gương mặt họ những dấu tích khổ ải mà ngang tàng. Thi thoảng gió mang nỗi buồn từ sông lên, gặp gió mang thương nhớ từ những hang núi khổng lồ gầm gào thổi xuống, chúng chọn phố Phiêu Bạt là nơi hò hẹn. Để rồi tất cả rung chuyển, khiến nhà cửa liêu xiêu, dáng người đi cũng xiêu xiêu.

Nhà văn Nguyễn Đức Hạnh

Cứ nửa đêm, cây Đa cười khóc, rồi thì thầm trò chuyện với ai đó, những rễ đa mọc dài, rồi như những ngón tay bò đi ve vuốt từng ngôi nhà… Chính bởi sự kì bí ấy, khi nhận viết cuốn Sưu tầm văn hóa dân gian của vùng đất này, hắn đã đến sưu tầm tư liệu và ngồi viết ở đây mấy tháng trời, chịu đựng cái nóng rát ghê người vì vùng đất này đã hạn hán 3 năm nay. Bản thảo vừa gửi đến nhà xuất bản X thì hắn treo cổ chết dưới cành Đa nơi phố ấy. Tôi biên tập cuốn Văn hóa dân gian vùng đất thiêng của hắn, thấy phần phụ lục có 2 mẩu chuyện nhỏ ghi tên thể loại là “Dã sử hiện đại”, đọc mãi không hiểu gì và không biết có nên cắt bỏ đi không, đành đưa lên đây xin ý kiến chỉ giáo của các Biên tập viên kì cựu gần xa:

DÃ SỬ HIỆN ĐẠI

1. Câu truyện về một nhà thơ và một hảo hán làm nghề thợ Rèn

Căn nhà nhỏ bé nhất nhưng cũng nổi tiếng nhất phố Phiêu Bạt là nhà của nhà thơ Lê Định Hóa. Nó nổi tiếng vì chủ nhân của nó làm thơ hay và bán cá mỗi sớm mai kiếm sống một cách kì lạ. Thơ ông nổi tiếng khắp vùng rừng núi phía Bắc bằng phương thức truyền khẩu, dân văn nghệ trong vùng bảo thơ ông còn hay hơn thơ Bút Tre. Mỗi đêm ông biến mất khoảng 2 tiếng. Sáng hôm sau đã có một sọt cá tươi ngon đặt trước cửa, ông không ngồi bán, từng người mua chọn cá mang đi, sau khi tùy ý bỏ tiền vào một chiếc hộp gỗ nhỏ, thành hộp có ghi hai câu thơ của ông:

Mẹ Sông cho thì lấy

Ân nghĩa nhận đừng quên

Vậy mà đố có ai dám lấy cá mà không trả tiền, lâu lắm rồi, có 1 kẻ ở xa tới, xách con cá chép hơn 10kg đi mà không trả tiền, vừa ra đến cổng chợ, xe máy đã dựng ngược, rồi đâm thẳng vào gốc đa. Kẻ ấy đi bệnh viện khâu vết rách trên đầu, tiền thuốc men đúng bằng tiền phải trả khi mua cá. Còn thơ của ông hài hước mà trữ tình, sâu cay mà mơ mộng. Trai gái người Dao, người Tày muốn tỏ tình với nhau, hoặc muốn hàn gắn hôn nhân sắp tan vỡ, đều đến nhờ ông. Ông làm thơ hộ họ, không lấy tiền, và đôi tình nhân nào đến nhờ ông  đều lên vợ lên chồng, đôi vợ chồng nào sắp li hôn đều hòa hợp và hạnh phúc. Có nhiều người năn nỉ gửi tiền trả ông, ông dứt khoát chối từ và chỉ có một yêu cầu, thực hiện hay không thực hiện cũng không sao: – Trên đỉnh núi cao chất ngất sau nhà ông có một hang sâu hun hút, cứ vào đúng giao thừa hàng năm, hang đá ấy lại phun ra một dòng nước màu hồng ngọt như mật ong. Ai có lòng xin lấy và mang cho một bình nước ấy. Thi thoảng có những đôi trai gái cảm tạ ân nghĩa của nhà thơ mang đến cho ông bình nước kì lạ kia. Bao giờ ông cũng uống một ngụm rồi mang ra rót vào gốc đa ngàn tuổi đang ngày một héo khô, cằn cỗi. Cây Đa bỗng rùng mình, lá đỏ, lá vàng thoắt chuyển màu thành lá xanh mơn mởn. Còn riêng ông sau khi uống cốc nước ấy, thơ hay hơn trước rất nhiều.

Chiều hôm đó, mưa mùa đông giăng mờ phố nhỏ. Nhà thơ có mái tóc bạc phơ, gương mặt hiền từ ngồi ngoài hiên lặng lẽ, đếm từng giọt mưa rơi, như đếm từng ngày tháng còn lại của đời mình. Tôi đến bắt chuyện với ông rồi tò mò hỏi:

– Sao lại có thứ nước kì diệu ấy? Có phải thuốc Trường sinh không? Hay đấy là nguồn mạch văn chương? Thế chúng ta cứ lên hang đá, lấy nước về dùng dần chả phải ích lợi lắm sao?

– Không. Chỉ có những người nhân nghĩa mới lấy được nước ấy. Vạn người đi chỉ có một người mang được nước về. Còn nước ấy là gì, ai trải qua trăm đắng nghìn cay mà vẫn giữ được tâm thiện thì mới trả lời được… Chính tôi cũng có khi lên đấy lấy nước rồi trở về tay không…

Nhà thơ bỗng im lặng, nghiêng tai lắng nghe rồi thì thào như nói với chính mình: – Đấy. Hồn phố đang run run bò qua các mái nhà. Dạo này hồn phố hay khóc, nhiều con em của phố hư hỏng. Thơ bất lực trước cuộc đời hay sao?. Ông cúi xuống, lấy khăn lau nước mắt. Tôi kín đáo liếc nhìn, quả là lời đồn đại chẳng sai, xương sống của ông nhô cao, xẻ thành hàng chục vây lởm chởm, giống như lưng cá sấu. Thảo nào dân phố đồn ông có thể đi dưới đáy sông cả ngày, bỏ cá vào giỏ dễ như ta bỏ kẹo vào miệng. Vậy liệu có một ngày, ông theo cá bỏ phố này mà bơi ra biển không? Ông pha ấm trà mới, rồi khẽ khàng, tiếng ấm và nhẹ lẫn vào tiếng mưa:

– Từ năm 1930, phố Phiêu Bạt đã nổi tiếng sầm uất khắp vùng phía Bắc. Hai dãy quán xây khang trang. Chỗ kia là tiệm bán thuốc phiện và rượu Ti của bọn Pháp. Chỗ này là sòng bạc của người Hoa. Ngày phiên chợ, bà con vùng cao hàng ngàn người xuống chợ, mang theo lâm thổ sản đổi lấy muối. Hai hàng cột trụ đêm đến đèn Măng Xông rực sáng cả núi rừng thâm u. Ngày ấy, Cọp Beo còn đi lại hàng đàn. Ngay sau phố, chỗ đồi cao kia, là “Căng” Z, nhà tù của bọn Pháp giam giữ các chiến sĩ cách mạng. Cuối chợ có một giếng cổ đã hơn ngàn tuổi, thi thoảng giao thừa nước giếng phun lên có màu hồng và ngọt vô cùng. Ai có duyên uống được nước ấy thì tài văn chương phát sáng. Bởi thế vùng đất này xưa kia xuất hiện nhiều văn nhân tài hoa. Tiếc thay!

– Sao lại tiếc hả ông? Vậy cái giếng ấy đâu rồi?

– Thực hiện “Tiêu thổ kháng chiến”, ngôi đền cổ bị đập phá. Giếng bị lấp từ đó. Mạch “văn” đứt. Mạch “võ” lên ngôi. Buồn thay. Người ta dùng dao búa, súng đạn giải quyết mọi việc. Đánh giặc thì còn được, nhưng giờ lâu dần thành quen. Không còn văn hóa, lấy gì kìm tỏa sự hung bạo…

– Ông ơi. Cháu muốn hỏi vì sao lại đặt tên nơi đây là phố Phiêu Bạt?

– Vì ở đây toàn dân tứ xứ, cùng quẫn thì phải chạy lên đây. Trai thì lục lâm thảo khấu, gái thì tứ chiếng giang hồ. Cái ngang ngạnh, ghê gớm ấy thì phải dùng Văn để mà cảm hóa và thu phục… Nói xong, nhà thơ đưa mắt nhìn sang căn nhà đối diện với ánh mắt không thiện cảm. Nhìn theo ông, tôi giật mình, hình như Võ Tòng trong phim Thủy Hử đã bước ra và định cư ở phố này. Đó là một ông cụ khoảng 70 tuổi mà cơ bắp cuồn cuộn, làm nghề thợ Rèn, mặt vuông chữ điền, râu quai nón rậm rì, bộ ngực rộng, xăm hình một con hổ xanh lè. Nghe đồn ông đã trải qua năm đời vợ, không bà nào chịu được khả năng tình dục phi thường của ông quá vài năm. Giờ ông sống một mình, mỗi bữa vẫn đả hết 8 bát cơm, nửa cân thịt và một chai 65 rượu mạnh. Hình như nhà thơ và hảo hán chuyên bắt trộm cướp nộp công an này có khúc mắc gì đó. Máu nghề nghiệp nổi lên, tối đến tôi xách can rượu và bọc thịt chó sang nhà hảo hán. Cũng phải qua ba lần say quắc cần câu, tôi mới được ông thu nhận làm đệ tử “rượu” và chịu mở lời:

– Tao và thằng nhà thơ kia đều là con của phố Phiêu Bạt. Cha mẹ từ đâu đến không rõ. Lá khô theo bão mà bay, vướng núi đá thì ở lại đất này. Thằng nhà thơ đề cao “văn trị”. Tao nhất quyết phải “võ trị”. Mả mẹ đời. Lúc nó thắng, lúc tao thắng. Chả biết thế đếch nào mà lần…

– Theo cháu thì cả văn lẫn võ, đời cần có cả hai chứ ông?

– Đấy là lí thuyết, chứ từng thời thế người ta lúc trọng văn lúc trọng võ, thế là lên voi xuống chó. Thời kháng chiến, tao là xã đội trưởng hét ra lửa, từng bắt biệt kích, bắn rơi máy bay địch, oai như cọp. Thằng nhà thơ chỉ là đội trưởng đội văn nghệ xã. Đàn ca sáo nhị thì ăn thua mẹ gì. Hòa bình rồi, nó lên làm chủ tịch thị trấn, tao chỉ là chủ tịch lò rèn nhà tao. Ha ha. Đúng là thời thế tạo anh hùng. Đéo biết thế nào mà lần…

– Cháu nghe nói ông tình nguyện làm Hiệp sĩ bắt gần trăm thằng trộm cướp khắp vùng này. Giấy khen đầy nhà. Dân ca ngợi. Đàn bà mê tít. Ông sướng thế còn gì…

– Sướng cái đéo gì. Đi họp, nó ngồi trên nói như súng bắn liên thanh, toàn lí thuyết suông, lại còn đọc thơ. Tao nghe có hiểu gì đâu. Thế là về. Ừ thì cũng có tí sướng là lũ đàn bà góa theo tao cả đàn. Nó lại bảo tao sống tha hóa trụy lạc. Tao không vợ, lũ đàn bà kia không chồng. Thích thì cho nhau tí sướng, tha hóa, trụy lạc cái đéo gì. Đầy thằng quan chức đủ vợ đủ chồng vẫn ăn vụng như chảo chớp, rồi lại lên bục giảng dạy đạo đức. Tởm. Thế thì dân tin thế đéo nào được…

– Sao bác nhà thơ bảo chỉ vì cây Đa mà hai ông ghét nhau?

Hảo hán thợ rèn bỗng trầm xuống, hồi lâu không nói, chỉ uống cạn bát rượu rồi thở dài. Gặng mãi, ông ta mới thì thào như sợ ai nghe thấy:

– Cây Đa thiêng lắm. Tướng phỉ Lường Tứ Cờ chặt đầu hàng trăm dân đen và Việt Minh, rồi treo đầu lên ngọn Đa, oan hồn uất khí không tan, lúc gây họa lúc tạo phúc cho dân. Cứ đêm trăng sáng, thi thoảng xuất hiện hàng chục xác người treo lơ lửng dưới cành đa, lưỡi thè lè. Cứ đợi người đi qua, xác đứt dây rơi xuống, thè lưỡi dài nghều nhảy từng bước đuổi theo. Bà con yếu bóng víu lăn ra chết ngất, ỉa đái ra quần. Tao chủ trương tiêu diệt, cứ cưa mẹ nó đi, đào cả gốc, thế là hết ma. Nhưng thằng nhà thơ lại bảo đấy là di tích lịch sử – văn hóa, kiên quyết giữ, thi thoảng lại đổ cái nước gì đó vào gốc cây… tao với nó ghét nhau, nhưng nếu thiếu đi một trong hai thằng thì như thịt chó không có mắm tôm, làm tình mà chẳng được hôn phát nào,… đời nhạt lắm… Ha ha

– Thế còn sự linh thiêng của giếng cổ thì sao? Bác có tin không?

– Nửa tin nửa ngờ. Nhưng hạn hán lâu quá, mưa không có. Giá có cái giếng ấy thì dân phố này còn có nước mà dùng…

Tôi ngồi lặng lẽ ngắm nhìn hai bậc tiền bối của vùng đất dữ này, họ như nước với lửa, đấu nhau đến kì cùng. Nhưng nếu không có hai ông lão ấy, lịch sử phố Phiêu Bạt sẽ ra sao?

2. Câu chuyện của gốc Đa nghìn tuổi với giếng cổ

Đêm ấy, đã gần tết Nguyên đán mà trời lạnh quá. Núi đá cao chất ngất phía sau phố tỏa hơi lạnh thấu xương, từ trăm miệng hang, gió núi ù ù thổi như đang đọc một trường ca bi tráng về vùng đất này, về những phận người bị đẩy xuống vực thẳm một thời thuộc Pháp, vùng lên phản kháng, đổi đời nhờ cách mạng, nhưng đằng sau cái vẻ bề ngoài nho nhã hay dữ tợn kia là cả một đại dương thăm thẳm, có mấy ai nhìn thấu bao sóng ngầm vui buồn may rủi dưới đáy sâu của nó? Vùng đất này có “Căng Z”, nơi thực dân Pháp giam tù chính trị. Nhờ những “Hạt giống đỏ” ấy, nơi đây phất cờ khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 sớm nhất trong cả nước. Viết đến phần ca dao kháng chiến, bí tư liệu quá, tôi lang thang ra gốc Đa thắp nén hương xin thần cây Đa phù hộ cho hoàn thành sớm cuốn văn hóa dân gian đã gần đến hạn phải nộp bản thảo này. Thế rồi chẳng biết làm sao, tôi ngồi dựa gốc Đa nửa mê nửa tỉnh, nghe được câu chuyện kì quặc này:

Gốc Đa thở dài, cành lá run rẩy, sương rỏ xuống như nước mắt của cây:

– Lẽ ra trong cuốn sách kia, ta phải là một nhân vật chính, hoặc ít ra cũng phải là nhân chứng quan trọng. Để chuẩn bị cho khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, hộp thư bí mật của Việt Minh đặt trong thân ta. Ngày khởi nghĩa, cờ đỏ sao vàng chẳng treo trên ngọn Đa là gì? Vậy mà lũ người vô tâm kia quên tiệt cả rồi…

Giếng cổ nằm sâu dưới đất tấm tức khóc, ánh sáng trắng rất mạnh từ giếng xuyên qua bê tông, chiếu thẳng lên trời: những tia sáng như những ngón tay cố níu sao đêm.

– Bác vẫn hiện diện trên đời mà người ta còn quên. Tôi giờ nằm sâu dưới đất thì ai nhớ? Họ vô tư đến vô tình. Nguồn nước này cho cư dân ở đây uống đã ngàn năm. Ngọt lành này nuôi tâm hướng thiện, khiến mầm nhân ái nở hoa, mầm văn chương mọc thành cây lớn. Ừ thì do hoàn cảnh đặc biệt mà phải lấp đi. Nhưng sau đó phải khơi lại, gìn giữ trong lành mà di dưỡng hồn cốt cha ông chứ. Mất đi cội nguồn sâu thẳm này, trái tim con người khô cằn thành sa mạc, càng thông minh càng ích kỉ, từ ích kỉ đến tàn bạo có bao xa?

Cây Đa ngậm ngùi:

– Chú cũng khổ thật. Bị lấp đi biệt tăm biệt tích. Trên mặt chú giờ lại xây cái quán Karaoke kiêm mại dâm, mở nhạc Rốc, Ráp gì đó, tôi nghe đau cả tim. Nhưng chú cũng hiền lành quá, giống lão nhà thơ, phải tay tôi sẽ vật cho vài đứa trợn mắt méo mồm, xem có tỉnh ra mà trân trọng di sản…

Giếng cổ òa khóc:

– Tôi là nước nên vốn ôn nhu, không cường bạo được. Đấy, bác vật mấy đứa hộc máu mồm, chúng nó chẳng đe là sẽ cưa bác đi à? Bác cũng giống lão thợ rèn, động một tí là đao búa với tiêu diệt…

Cây Đa thở dài thăm thẳm:

– Chú xem, nếu là người lương thiện thì tôi có làm gì đâu? Nhưng mấy đứa bất hiếu, bất nghĩa, lừa thầy phản bạn, vừa làm việc ác xong đến đặt gói bánh, thắp nén hương xin tôi ban cho tài lộc và bình an. Tôi phù hộ cho chúng chẳng lẽ hóa ra tôi ăn hối lộ à? Tôi không thèm, thà chết khô còn hơn. Loại ấy tôi cứ vật cho điên điên dại dại, tiền phi nghĩa thì đem vào tù mà tiêu…

Giếng cổ nghe chừng đã hiểu ra, nhưng vẫn băn khoăn:

– Đề cao chữ “Nhẫn”, hiền hòa chịu đựng, nằm yên chờ trời xanh có mắt như tôi đã khổ. Cứng cỏi bất khuất, phù thiện trừ ác như bác cũng không sung sướng gì. Có thằng còn đái vào gốc bác, dọa cưa bác. Vậy thì sống như thế nào là đúng đắn đây. Bác ủng hộ tay nhà thơ hay tay thợ rèn?

Cây Đa cười ha hả:

– Thiên cơ bất khả lộ. Chú cứ chờ mà xem. Nước có vận nước. Nhà có vận nhà. Chúng ta cũng thế. Chú xem gió đang xoay chiều. Cái tốt, cái đẹp đang thắng thế. Còn 2 con người kia đều quá cực đoan, họ là người của từng thời thế. Lúc hợp thời thì như mặt trời, lúc lạc thời thì như đom đóm. Nhưng cũng không sao, sông vẫn cứ chảy dù lúc trong lúc đục, lúc đầy lúc vơi, miễn sao sông vẫn cứ phải là sông, đừng trở thành cống thoát nước thải tanh hôi là được.

Giếng Cổ mếu máo:

– Nhưng bao giờ tôi mới lại được khơi lên, cho xanh trong hiện diện dưới trời? Được đón nguồn nước thần từ đỉnh núi kia, theo mạch ngầm chảy xuống. Cho văn nhân xuất hiện. Đem “Văn trị” mà gột rửa bớt tham sân, si đang đang ngày càng đen đặc trong tâm con người… Chứ cứ để văn hóa xuống cấp, dù có tử hình bao nhiêu đứa cũng không xuể, chặt ngọn thì gốc Ác vẫn sinh sôi.

Cây Đa thở dài:

– Thì cứ hi vọng và tin tưởng chứ còn biết làm sao? Có hi vọng thì vẫn có lí do để sống tiếp. Chúng ta đều trên dưới nghìn tuổi rồi, còn bão táp nào chưa trải qua? Nhưng tôi tin vận khí nước Nam mình đang lên. Nhìn về phía Thăng Long mà xem, có một ngôi sao đóng ở cung Đế Quân đang ngày một sáng. Lịch sử có khúc quanh của lịch sử, như tôi có khúc cong của thân tôi. Nhưng tôi ngửi hơi gió thì đã biết mùi vị của sướng vui cho muôn loài đang về…

Giếng cổ ngơ ngác:

– Tôi chả ngửi thấy mùi vị gì là làm sao?

Rồi đêm ấy có bão lớn, không hiểu trời đất giận dữ điều gì, sấm sét kinh thiên động địa, một vòi rồng cuồn cuộn xoáy bốc toàn bộ quán Karaoke kiêm mại dâm bay đi đâu mất. Chỗ nền nhà ấy, đất bị bốc đi, tạo ra một hố sâu thăm thẳm, từ trong lòng hố một tiếng nổ ầm vang như bộc phá, nước giếng màu hồng vọt lên thành cột sôi sùng sục, rồi hiền hòa, mát dịu trút xuống. Nhà thơ và hảo hán thợ rèn chạy đến bên giếng cổ vừa được phát lộ trở lại, quỳ lạy, khấn khứa sì sụp. Rồi hai ông lão ôm lấy nhau cười ha hả mà nước mắt ròng ròng. Họ vào nhà mang rượu ra uống rồi cùng cất tiếng hát, giọng lão thợ Rèn khô đục khàn khàn đi bè trầm, giọng lão nhà thơ the thé đi bè cao, kết hợp lại tuy không hay mà lạ, bởi chưa có cặp song ca nào quái dị bằng hai ông lão ấy. Bài hát của họ cũng kì lạ bởi hùng ca xoắn xuýt tình ca, tiếng búa lò rèn đi cùng tiếng Nhị, tiếng lửa gào thét đi cùng tiếng nước sông thầm thì… Thì ra, hai ông lão đều hát bài hát tự sáng tác theo kiểu ngẫu hứng của mình, chẳng ai quan tâm đối phương đang hát gì. Ấy thế mà trong cái đêm kì dị ấy, hai bài hát kia khi đi cùng nhau, lại diễn tả đúng bản chất lịch sử của vùng đất này. Số phận và tâm tư của hai Dị nhân ấy vừa quen vừa lạ thì phải?

Cây Đa ngửa mặt, cười sang sảng nhìn ngôi sao khổng lồ từ phía Hồ Gươm của Thăng Long xưa vụt chiếu ánh sáng đến muôn phương, một tia sáng cực mạnh xuyên thẳng vào dãy núi đá, trên đỉnh núi cao nhất, hang đá có nước thần đột ngột tuôn trào, dòng nước màu hồng thơm ngọt hóa cơn mưa bất thường tắm phố Phiêu Bạt tinh khôi, thơm dịu dàng, dù các cư dân đang say ngủ trong nhà không hề biết năm nay, chẳng cần đến Giao thừa, nguồn nước kì diệu kia đã về với mảnh đất khô khát, hạn hán đã 3 năm. Lẫn trong tiếng mưa, có tiếng cây Đa giục giếng cổ: À, cái Đỉnh đồng đen chứa linh khí vùng đất này, để ngâm lâu trong nước tù hãm không ổn. Chú để tôi cho vào ruột cây cất giữ cho khô ráo… Một vệt sáng xanh kì lạ từ dưới đất bay lên ngọn cây. Mưa có màu hồng thắm đã tạnh. Trăng lên sáng lạ thường. Gần sáng, lão nhà thơ ôm Nhị ra sân, vừa kéo nhị vừa ngâm hai câu Kiều:

“Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”

Phía đối diện, lão thợ Rèn tức khí, nổi lửa đốt lò, thụt bễ, rồi vừa quai búa chan chát, vừa sang sảng đọc thơ Tố Hữu:

“Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung…”

***

Sau khi biên tập cuốn Văn hóa dân gian vùng đất thiêng , tôi nghe đồn hắn đã treo cổ dưới cành Đa ngàn tuổi kia, nhưng hai tay lại đang ôm một chiếc hộp cổ kính bằng gỗ lim, trong hộp trống không. Nhưng ở ngực hắn có một vết bỏng khủng khiếp, in đậm hình thù một chiếc Lư đồng nào đó, có dòng chữ Hán Nôm tạo thành vết cháy đúng chỗ trái tim, tạm dịch là:

“Giữ nước dụng võ. Trị nước dụng văn

Anh hùng, thi sĩ, ai cũng có phần”

NGUYỄN ĐỨC HẠNH

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *