Truyện ngắn Nguyễn Tam Mỹ: Chuyện tình bên dòng sông Vu Gia

“Dựa trên câu chuyện có thật do đồng đội Châu Trà kể lại, tôi viết nên thiên truyện ngắn này. Xin chân thành cám ơn đồng đội Châu Trà và bạn văn Phan Thị Quế Hà đã giúp tôi có được những chi tiết đắt giá”, nhà văn Nguyễn Tam Mỹ chia sẻ về sự ra đời truyện ngắn Chuyện tình bên dòng sông Vu Gia được rút từ bản thảo tập truyện ngắn Bạn bè lính một thời trận mạc sắp ấn hành của tác giả đất Quảng. Vanvn trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Nhà văn Nguyễn Tam Mỹ

 

Qua mùa mưa lũ, dòng sông Vu Gia lại trở nên hiền hòa, ngày đêm êm ả trôi xuôi. Ngồi trên xe lăn, ông Quang đẩy ra trước hiên nhà nhìn ngó vu vơ. Cơn mưa đền cây đã tắm gội gột rửa hết những ngấn bùn trên thân cây cối, cảnh quê nhờ thế trông tươi mới hẳn lên. Cánh đồng ven sông phía trước nhà lúa đã uốn đuôi gà. Ông Quang khẽ nén tiếng thở dài. Hải Anh – anh trai Hải Linh, vội rời cõi tạm ở tuổi lục tuần, nếu không, anh ấy sang chơi rồi hai anh em gầy cuộc vui, ôn lại một thời trai trẻ làm lính tình nguyện Việt Nam, sống và chiến đấu ở vùng đông bắc Campuchia. Ông Quang lại khẽ nén tiếng thở dài. Hải Anh vừa là đồng đội chiến trường K, vừa là ông anh vợ hết mực thương yêu vợ chồng em gái. Hơn thế nữa, Hải Anh còn là người “gỡ nút thắt” cho cuộc tình đầy trắc trở của ông. Nếu không có những lời lẽ phân tích thấu tình đạt lý, không có “tiếng nói vun vào đầy trọng lượng” của Hải Anh, ông và Hải Linh không thể nên vợ nên chồng…

Cuối đông. Ông Quang ngồi trên xe lăn ở trước hiên nhà nhìn dòng sông Vu Gia như một dải lụa xanh mềm mại uốn lượn giữa đồng lúa xanh mơn mởn và “ngược thời gian trở về quá khứ” chưa xa. Ngày ấy, Quang – Trà Quang, là chàng trai vừa mới đôi mươi, còn Hải Linh – cô gái ở làng bên, cũng đã qua tuổi mười bảy bẻ gãy sừng trâu. Cả hai quen thân với nhau rồi yêu nhau lúc nào không rõ. Mùa thu 1980, Trà Quang trúng tuyển nghĩa vụ quân sự, có giấy gọi lên đường nhập ngũ. Cũng như bao bạn bè khác, anh chẳng hề lăn tăn suy nghĩ gì. Cho dù lúc bấy giờ ở hai đầu đất nước đều có chiến tranh. Biên giới phía Bắc đánh nhau với giặc Tàu. Biên giới phía Tây Nam đánh nhau với giặc áo đen rồi sang Campuchia giúp nước bạn tiễu trừ tàn quân Pôn Pốt. Nơi đó là chiến trường K. Tin tức dội về các làng quê. Không ít thanh niên đi bộ đội đã hy sinh ở đâu đó bên ngoài Tổ quốc. Giấy báo tử gửi về khiến gia đình và người thân khóc thương cạn nước mắt. Cha mẹ Trà Quang lo lắng bất an. Cũng đúng thôi, song thân nuôi nấng anh từ thuở nằm nôi cho tới khi trưởng thành, giờ đây anh sắp đến chốn bom rơi đạn nổ mù trời, thử hỏi bình tâm sao được? Biết vậy, Trà Quang trấn an bậc sinh thành: “Ở đời, sống chết đều có số mệnh cả, ba mẹ đừng lo! Bạn bè con, đứa nào cũng xác định lên đường tòng quân. Lẩn tránh, thoái thác nhiệm vụ bằng cách ly quê trốn chui trốn nhủi xứ người, nhục lắm!”.

Đến nhà thăm hỏi động viên, chính quyền, đoàn thể, bà con họ hàng và bạn bè gần xa chúc Trà Quang mau chóng trưởng thành trong môi trường quân ngũ. Nhà lúc nào cũng có khách vào ra. Lỡ hẹn với Hải Linh mấy lần, Trà Quang cảm thấy áy náy vô cùng. Tối hôm đó, anh lẻn ra điểm hẹn. Hải Linh đã đứng đợi ở đấy tự bao giờ. Hai người sóng đôi dạo bước trên đường làng. Rồi cả hai rẽ xuống bờ sông Vu Gia, ra bãi cát vàng đầy đá lô nhô, được phủ xanh bởi những lùm rù rì cao lút đầu người. Đó là thế giới riêng của hai người. Trăng hạ huyền rắc ánh bạc khắp nơi. Chọn tảng đá nhẵn nằm nghiêng, Trà Quang và Hải Linh dựa lưng ngồi bên nhau thì thầm trò chuyện. Còn đêm mai nữa, anh sẽ rời khỏi làng quê lên huyện tập trung, làm một tân binh. “Đi lính, tóc tai cắt ngắn ba phân, mặc quân phục màu xanh lá, chắc anh sẽ trở thành người khác lạ…”. Hải Linh nói. “Vì sao?”. Trà Quang hỏi. “Vì… ngố!”. Hải Linh cười. “Rứa thôi, anh “hành phương nam” làm kẻ ly quê…”. Trà Quang cũng cười bảo. “Í, không được đâu! Ai lại hèn như thế!”. Hai Linh nghiêm giọng nói. “Anh đùa đó! Làm trai cho đáng nên trai/ Khi về làng gái xếp hai hàng chờ…”. Trà Quang ngâm nga câu ca ứng khẩu. “Dẫu vậy, anh vẫn là của riêng em! Không một ai độc chiếm được anh, ngoài em!”. Hải Linh cười rúc rích. Trà Quang xoay người lại ôm Hải Linh vào lòng. Hai người trao cho nhau những nụ hôn tình ái đắm say.

Ngày vèo trôi theo nhịp thời gian. Tối hôm sau, Trà Quang và Hải Linh gặp nhau ở nơi là thế giới riêng của hai người. Ngồi bên nhau, Trà Quang im lặng. Mùi da thịt con gái và mùi hương sả hương nhu từ mái tóc đen dài tỏa ra làm anh ngất ngây. Ngày mai anh lên đường. Quen nhau rồi yêu nhau cũng đã khá lâu nhưng anh chỉ dám cầm tay người thương đi trên đường làng vào những đêm trăng và ôm hôn nàng lúc chia tay ra về. Bây giờ hai người ở nơi bãi đá lô nhô được phủ xanh bởi những lùm cây rù rì, trước khi lên đường tòng quân, anh muốn khám phá thân thể ngọc ngà của người thương. Anh mở khuy áo luồn tay vào khuôn ngực đầy đặn tròn căng của nàng. Hải Linh làm thinh. Anh cúi xuống hôn nàng. Người nàng nóng bừng lên. Hải Linh thì thào: “Không được đi quá giới hạn đâu đấy, em sợ…”. Anh giả vờ làm như không nghe thấy gì. Rồi anh thầm thì: “Ngày mai anh đi rồi, hãy chiều anh…”. Hải Linh nhất quyết không đồng ý: “Chiều anh, lỡ em mang bầu thì biết làm sao? Xóm làng dị nghị. Họ hàng đàm tiếu. Ba mẹ em không chịu nổi những lời thị phi…”. Trà Quang dỗ dành nàng. Những lời năn nỉ của anh khiến nàng mềm lòng, một liều ba bảy cũng liều… Đêm hôm ấy, hai người đã trao cho nhau tất cả bằng sự cuồng nhiệt si mê. Khi vầng trăng hạ huyền trên trời cao không còn rắc ánh bạc mờ ảo khắp nơi, hai người mới rời bãi cát vàng đầy đá lô nhô bên dòng sông Vu Gia.

– Ở nhà ngồi ngó ra ngắm cảnh làm thơ hả, ông Quang?

– Thơ thẩn, tôi là người ngoại đạo!

Lão Bính đi ngang qua ngõ nhà cười hỏi thay cho lời chào. Ông Quang cũng cười đáp lại người bạn đồng niên. Lão Bính vác cào đi sục cỏ ruộng lúa về sớm nấu cơm chuẩn bị bữa trưa cho mấy đứa cháu ăn rồi đi học. Nghĩ vậy, ông Quang đẩy xe lăn vào nhà bếp nấu cơm giúp vợ. Đổ gạo đổ nước vô soong vo mấy lượt, cho vào nồi đậy nắp lại, cắm phích điện, bấm nút menu và start là xong.

Không phải bận tâm gì nữa, ông Quang lại đẩy xe lăn ra trước hiên nhà ngồi chắp nối lại dòng ký ức. Trở thành anh tân binh, Trà Quang và bao bạn bè được đưa về đơn vị huấn luyện ở Quân cảng Kỳ Hà – Chu Lai. Hải Linh đến thăm anh mấy lần. Nàng động viên anh cố gắng công tác tốt, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Anh cười bảo, làm trai thời loạn, xông pha nơi hòn tên mũi đạn, lỡ đui què mẻ sứt, em có còn yêu anh? Nàng nghiêm mặt nói, dù có thế nào đi nữa, em vẫn yêu anh. Mà anh đừng có giá như, ví như, lỡ, nếu… gì hết, yêu em mà anh không tin em à? Anh cười trừ biết lỗi. Hồi đó, từ làng quê bên dòng sông Vu Gia đến nơi đơn vị anh huấn luyện, cách xa gần cả trăm cây số, phương tiện đi lại không hề thuận tiện. Phải lên xuống xe đò chạy bằng than củi mấy bận, đón xe lam ba bánh mấy lượt rồi cuốc bộ vài ba cây số mới tới nơi cần tới. Hải Linh lặn lội đến thăm anh, khiến anh cảm động và thương người thương vô cùng. Những lần đến thăm anh, Hải Linh không nói gì về chuyện cơ thể có sự khác lạ khi “ăn trái cấm”. Huấn luyện xong, anh sang chiến trường K, được phiên chế về Lữ đoàn Công binh 280. Cuối mùa hạ 1981, anh nhận được thư của Hải Linh. Nàng báo tin đã sinh cô con gái đầu lòng giống anh như tạc, đặt tên là Phương Hà. Gia đình bên nội nhận cháu và hứa với gia đình bên ngoại, khi anh hoàn thành nghĩa vụ quốc tế cao cả về quê, hai nhà sẽ tổ chức đám cưới linh đình cho anh và em. Cuối thư, Hải Linh cho hay, sau cái đêm hai đứa “ăn trái cấm”, chẳng bao lâu nàng biết mình mang bầu. Nàng giấu anh vì không muốn anh lo lắng…

Trà Quang mừng vui không nói nên lời. Anh em đồng đội chúc anh lên chức “cha” và xúm vào trêu chọc anh. Thằng Nguyên bảo: “Huấn luyện ở quân trường, bắn điểm xạ súng AK ba phát trật lất cả ba, nhưng lần đầu khai phá “hố sâu” lớn bé nhỏ to vừa vặn cả, mày lại đạt kết quả ngoài mong đợi. Giỏi! Quá giỏi!”. Thằng Hoan nói: “Sinh con gái đầu lòng là nhất! Bởi con gái thùy mị nết na, biết thương cha thương mẹ thể hiện qua lời ăn tiếng nói ngọt như mía lùi. Còn con trai ấy à? Lúc nhỏ, chúng nó nghịch ngợm quậy phá, la rát cổ. Lớn lên, cho dù chúng nó rất thương cha thương mẹ nhưng để trong lòng, không thể hiện ra bên ngoài”. Trà Quang như người đi trên mây bởi hạnh phúc đầy tay. Anh rất vui vì biết gia đình anh đã chủ động sang nhà gái xin nhận cháu nội và đặt vấn đề cưới hỏi đàng hoàng khi anh rời quân ngũ, hồi hương. Anh rất mừng là gia đình Hải Linh không ruồng rẫy nàng bởi cái tội “chưa chồng mà chửa”. Trong thâm tâm, anh thầm biết ơn “ông anh vợ” Hải Anh. Anh ấy có suy nghĩ thoáng hơn. Và anh ấy đã lựa lời khuyên cha mẹ chấp nhận “sự đã rồi” của cô em gái. Mưa dầm thấm lâu. Song thân Hải Linh chín bỏ làm mười, vì vậy cái tội “ăn cơm trước kẻng” của nàng cũng được gia đình xí xóa. Trà Quang nhẩm tính. Mới đó mà anh đã có hơn một năm làm lính tình nguyện ở chiến trường K. Có nghĩa là còn chưa tới hai năm nữa, anh sẽ hoàn thành nghĩa vụ quân sự, được xuất ngũ về lại quê nhà.

Qua vùng Đông Bắc Campuchia, Trà Quang đã đi ngang lội dọc khắp nơi. Lữ đoàn bộ Lữ đoàn Công binh 280 đóng quân ở rừng khộp gần cầu Sêrêpốk. Một đơn vị trực chiến ở Phà Chép. Chỗ đó là Khum Puôn – ngoại ô thị xã Stung Treng, nơi sông Sê San hợp lưu với sông Mê Kông, tạo thành ngã ba sông rộng mênh mông. Nhiệm vụ của đơn vị trực chiến tại Phà Chép là kết nối những chiếc hobo làm phà đưa xe pháo và lính tráng vượt sông Mê Kông lên miền biên viễn Prết Vihia đánh nhau với lính Pốt. Các đơn vị còn lại đi mở đường, bảo vệ các cung đường vừa mở phục vụ chiến dịch mùa khô của Mặt trận 579. Đơn vị của Trà Quang mà một trong những đơn vị như thế, cứ rày đây mai đó, không có hậu cứ cố định lâu dài. Thằng Nguyên cho rằng, sống lang thang chốn rừng hoang cũng thú vị phết! Lúc ở Hạ Lào, cụ thể là Champasắk, nghe chim cu gù êm tai phải biết! Khi sang vùng tam giác Siêm Păng, cụ thể là Khăm Phốck, nghe chim cu gù chói tai không chịu nổi. Nguyên do là tiếng Kh’mer hầu hết đa âm, giọng nặng; còn tiếng Lào hầu hết đơn âm, giọng nhẹ. Chim cu sống ở nước nào, giọng hót cũng ảnh hưởng theo ngôn ngữ của người dân nước đó. Cái lý tếu táo của hắn khiến ai cũng phải phì cười. Thằng Hoan lại thở dài ngao ngán. Bởi mỗi lần cả đơn vị di chuyển đến nơi ở mới phải làm lại từ đầu tất cả. Chặt tre. Cắt tranh. Cắt cỏ lát. Làm nhà ở. Đào hầm hào, công sự. Mệt bở hơi tai. Quả là hắn nói không sai chút nào!

Có tiếng lao xao ngoài ngõ.

Bà vợ đi chợ về, đứng nói chuyện với mấy người hàng xóm. Ông Quang thầm đoán. “Từ sáng đến giờ ông làm chi?”. Bước vào sân, bà vợ hỏi. “Tôi ngồi nhớ lại thời tôi với bà yêu nhau…”. Ông Quang cười nói. “Xí! Già rồi, có cháu nội, cháu ngoại rồi, nhớ chi ba chuyện đó!”. Bà vợ trề môi. Cơm đã nấu xong. Ông Quang phụ giúp vợ lặt rau. Xong, bà vợ bảo: “Ông đẫy xe ra trước cửa ới mẹ vào ăn trưa. Nhớ nhắc mẹ nhổ cỏ quanh sân quanh nhà mỗi bữa một ít thôi! Nhổ hết cỏ, không có việc chi làm, lại buồn chân buồn tay”. Bữa cơm trưa dọn ra chỉ có ba người ngồi vào mâm. Mẹ ông. Và vợ chồng ông. Bốn đứa con đã khôn lớn trưởng thành, lấy vợ lấy chồng, định cư ở phố. Cuối tuần, chúng nó mới dắt díu nhau về thăm bà cố và ông bà nội, ông bà ngoại. Mỗi lần con cháu về quê, nhà ông đầy ắp tiếng cười. Bọn trẻ cứ réo gọi “Ông ơi!”, “Bà ơi!”, để hỏi chuyện này chuyện nọ, làm vợ chồng ông phát mệt nhưng mà vui! Về quê, bọn trẻ thấy gì cũng lạ lẫm nên tò mò hỏi. Từ những cụm rêu xanh mọc ở kẽ đá đến đàn cò trắng bay lả bay la trên cánh đồng bên sông Vu Gia. Từ loài hoa dại mọc ven đường làng đến hàng cau trước ngõ có thân nhưng lại không có cành nhánh… Khi bọn trẻ theo mẹ cha trở về phố, vợ chồng ông thẫn thờ vì nhà yên ắng, vắng tiếng cười trẻ thơ. Nhất là mẹ ông. Mẹ cứ thở dài trông mong thời gian qua nhanh để đến cuối tuần, không vợ chồng con cái đứa này thì vợ chồng con cái đứa kia về quê…

Tranh của họa sĩ Trần Thắng

Như thường lệ, kết thúc bữa trưa, mẹ đi nghỉ, vợ rửa chén bát nồi niêu, dọn dẹp nhà cửa. Còn ông Quang không ngủ, nằm nghĩ ngợi vẩn vơ. Và rồi ông lại nhớ những tháng ngày làm lính tình nguyện ở chiến trường K. Mùa khô 1983. Đơn vị của Trà Quang di chuyển lên miền biên viễn Prết Vihia, mở đường kéo xe pháo tham gia chiến dịch đánh chiếm Cụm cứ điểm 547 trên dãy Đăng Rếch. Đơn vị đóng quân ở khu vực Ta Pét, gần Cầu Cháy. Anh giẫm phải mìn KP2. Một tiếng ầm vang lên. Anh đổ vật người xuống đất vì đôi chân dập nát. Y tá đơn vị băng bó vết thương. Thằng Nguyên, thằng Hoan và anh em đồng đội khiêng cáng anh về trạm phẫu. Mấy hôm sau, anh được chuyển về Bệnh viện V21 Quân khu 5 tiền phương ở thị xã Stung Treng. Mìn KP2 nhãn hiệu “Made in China”, khi giẫm phải cầm chắc 99% cái chết, bởi trong thuốc nổ có chứa thủy ngân. Anh em đồng đội bảo thế. Anh may mắn còn sống sót nhưng Tử thần vẫn chập chờn lảng vảng bên cạnh. Liệu anh chiến thắng hay Tử thần chiến thắng? Các y bác sĩ ở Bệnh viện V21 không dám khẳng định bên nào “chào thua”! Trà Quang vẫn đang trong tình trạng lúc hôn mê khi tỉnh táo. Đôi chân không còn khiến anh bi quan chán nản tột cùng. Sống với thân thể tàn phế như thế, thà chết còn hơn! Anh nghĩ. Tuy nhiên, trong khoảnh khắc tuyệt vọng ấy, hình ảnh Hải Linh ôm con gái Phương Hà bé bỏng hiện ra trước mắt anh. “Cho dù anh có đui què mẻ sứt thế nào đi nữa, em vẫn yêu anh!”. Lời hứa của Hải Linh chính là sợi dây vô hình để anh quyết tâm bám víu ở lại với đời.

Với vết thương do mìn KP2 gây ra, việc chữa trị hết sức khó khăn. Bệnh viện V21 không có đủ trang thiết bị và thuốc men đặc hiệu để điều trị. Anh được chuyển về Bệnh viện 15 Pleiku. Tình hình vẫn không tiến triển khá hơn. Anh lại được chuyển về Quân y viện 17 Đà Nẵng. Mỗi lần chuyển viện, đôi chân anh lại bị cắt cụt thêm một đoạn do vết thương nhiễm trùng. Khi chuyển về Quân y viện 17 Đà Nẵng, đôi chân anh bị cắt cụt đến sát bẹn. Ơn trời, nằm ở đấy gần nửa năm, vết thương của anh mới lành hẳn. Mọi sinh hoạt cá nhân, anh phải cậy nhờ hộ lý. Phiền toái vô cùng. Điều đó khiến Trà Quang cảm thấy mình như một kẻ chỉ làm vướng bận người khác mà thôi! Rời Quân y viện 17 Đà Nẵng về lại quê nhà, cuộc sống của anh rồi sẽ ra sao? Nếu Hải Linh thương anh, đồng ý đến với anh, liệu nàng có kham nổi công việc chăm sóc một người tàn phế? Một ngày, một tháng, một năm, nàng có thể ráng chịu đựng được. Nhưng cả một đời, chắc chi nàng không oán thán kêu ca… Cũng đã lâu lắm rồi, anh không viết thư cho gia đình và cho nàng. Mà có viết, biết kể chuyện gì! Không lẽ báo tin mình thành phế nhân… Càng nghĩ ngợi ngày trở về quê nhà trên chiếc xe lăn, anh càng thấy đời mình đang đi vào ngõ cụt, vui ít buồn nhiều. “Nếu vậy, mình sẽ về sống ở Trại Thương binh nặng Hội An, nhìn thời gian trôi qua bên ô cửa sổ. Ở đó có bao bạn lính cùng cảnh ngộ…”. Anh khẽ nhếch môi cười cay đắng.

– Răng ông không ngủ trưa? – Bà vợ hỏi.

– Tôi nhớ hồi ngồi xe lăn về lại quê nhà! – Ông Quang nói.

– Xí, hồi đó lâu lắc lâu lơ rồi, nhớ làm chi!

– Thì thi thoảng ngồi nhớ lại thời trẻ cũng vui!

Duỗi thẳng người trên chiếc võng xếp đặt cạnh giường ông Quang nằm, bà vợ bảo: “Tôi chợp mắt một lát!”. Bà không ngủ. Bà nhớ lại ngày ấy… Hay tin Trà Quang trở về làng, người mẹ trẻ Hải Linh bế cô con gái Phương Hà vừa mới lên ba bươn bả đến nhà thăm anh. Hai người ôm nhau khóc. Phương Hà ngỡ ngàng, hết nhìn mẹ lại nhìn người đàn ông xa lạ. Hải Linh bảo: “Đây là ba con! Hãy vòng tay lại thưa ba đi con!”. Phương Hà phụng phịu lắc đầu. Hải Linh nói: “Con hư quá!”. Phương Hà òa khóc. Trà Quang gượng cười: “Từ lúc sinh ra đến giờ con gái mới biết mặt cha nên e ngại cũng là lẽ thường tình”. Hai người ngồi trò chuyện với nhau. Hải Linh trách anh trong thời gian nằm điều trị tại Quân y viện 17 Đà Nẵng, tại sao không viết thư báo tin cho nàng biết để đến thăm? Trà Quang viện lý do này nọ để phân bua. Thực ra, anh không dám hy vọng để rồi thất vọng. Bởi anh không còn là một người bình thường, anh đã trở thành một phế nhân. Đọc được những suy nghĩ của anh, Hải Linh gạt nước mắt bảo: “Ngốc ạ! Em yêu anh! Suốt đời em chỉ yêu mỗi một mình anh thôi! Cho dù anh có đui què mẻ sứt thế nào đi chăng nữa!”. Ở chơi cả buổi chiều hôm đó, khi ngày tàn, Hải Linh mới chào cha mẹ anh và tạm biệt anh ra về. Trên đường đi, Phương Hà thỏ thẻ: “Mẹ ơi! Tại sao bác ấy lại có nửa người gắn trên xe đẩy?”. Hải Linh vừa khóc vừa bảo với con gái: “Bác ấy là ba con đó! Lần sau đến thăm, con phải gọi bác ấy bằng ba! Sau này lớn lên, con sẽ hiểu vì sao ba của con chỉ còn có nửa người…”.

Khác với mong đợi của Hải Linh và Trà Quang, sau khi sang nhà thăm chàng rể tương lai trở về, cha mẹ Hải Linh có thái độ khác lạ. Mẹ thở dài thườn thượt. Cha đăm chiêu suy nghĩ. Hải Linh thầm đoán lành ít dữ nhiều. Nàng buồn lặng lẽ. Tối hôm đó, cơm nước xong, cha mẹ bảo nàng ngồi nán lại vì có chuyện muốn nói. E hèm dọn giọng mấy lần rồi thân sinh nàng cho hay, ông rất thương quý Trà Quang nhưng hiện tại anh không thể là chỗ dựa cho con gái mình. Ông đã thẳng thắn trao đổi với gia đình anh. Họ rất buồn nhưng không có ý kiến gì. Họ chỉ nói rằng, anh chị thương thế nào thì chúng tôi hay thế ấy. Vì vậy, con hãy dứt khoát chia tay với Trà Quang, giao bé Phương Hà cho bên nội nuôi nấng. Con còn trẻ, đời con còn dài… Cha nàng bỏ lửng câu nói giữa chừng, đứng dậy ra sân hút thuốc. Nàng khóc như mưa như gió. Mẹ nàng cũng nước mắt ngắn dài. Lát sau, mẹ nàng ôn tồn bảo: “Cha con nói đúng, con nên suy nghĩ lại. Một mình Trà Quang đã khổ. Thêm con nữa, càng khổ cho hai đứa…”. Nàng vẫn ôm mặt khóc. Mẹ ngọt nhạt khuyên bảo: “Con còn trẻ lại có nhan sắc mặn mà. Tuy là gái một con nhưng con xinh đẹp rờ rỡ nhường kia, không ít trai làng đi ngang qua còn ngoái cổ lại nhìn…”. Nàng gạt nước mắt lắc đầu: “Nếu cha mẹ nhất quyết không cho con và anh Quang đến với nhau, con sẽ làm mẹ đơn thân suốt đời. Bởi con chỉ yêu mỗi một mình anh ấy thôi, cho dù anh ấy bây giờ đã trở thành người tàn phế…”.

Không ai có thể tác động để mẹ cha Hải Linh thay đổi quyết định, ngoại trừ Hải Anh – anh Hai của nàng. Hải Anh đi bộ đội không có ở nhà. Không khí gia đình ngày càng trở nên căng thẳng. Nhiều khi ngột ngạt bức bối quá, Hải Linh dẫn con gái đi thăm cha một lát rồi về. Mùa xuân 1984. Hải Anh được Trung đoàn Ba Gia, Sư đoàn 2, cho về phép thăm nhà trước khi sang chiến trường K tham gia chiến dịch đánh chiếm Cụm cứ điểm 547 trên dãy Đăng Rếch. Biết chuyện tình của em gái gặp trắc trở, Hải Anh giả vờ làm như không hay biết gì. Anh rủ em gái đến nhà thăm Trà Quang. Bấy giờ anh mới hỏi hai đứa có thật lòng yêu nhau, thương nhau và đồng cam cộng khổ suốt đời với nhau? Cả hai gật đầu. Hải Anh cười bảo: “Vậy là xong, hai đứa sẽ được sống bên nhau như ước nguyện. Chuyện của ông bà già để anh lo!”. Đêm hôm đó, không rõ anh Hai đã nói những gì với mẹ cha ở trước hiên nhà cho đến tận khuya. Hải Linh ôm bé Phương Hà nằm trong buồng nghe câu được câu chăng rồi hai mẹ con ngủ lúc nào không hay. Sáng ra, cha mẹ nàng nói cười vui vẻ. Mẹ nàng bảo: “Anh Hai con nói có lý! Cha mẹ đồng ý cho hai đứa đến với nhau. Có điều, sang năm hãy làm đám cưới, năm nay chưa chuẩn bị gì, lo không kịp”. Hải Linh ôm mẹ cười mà nước mắt tuôn rơi. Thời gian lặng lẽ trôi qua. Mùa hè 1985. Đám cưới của cặp đôi Hải Linh – Trà Quang được hai bên gia đình tổ chức. Cả làng túa ra đường đón xem. Đi bên cạnh cô dâu là bé Phương Hà. Chú rể ngồi xe lăn đón đợi cô dâu nơi đầu ngõ nhà trai. Ai cũng tấm tắc ngợi khen cô dâu chung thủy và dũng cảm. Rất tiếc là trong ngày vui của Hải Linh – Trà Quang không có mặt Hải Anh bởi anh còn đang tại ngũ…

– Nãy chừ ông vẫn thức à? – Bà vợ mở mắt hỏi.

– Ừa, tôi nhớ anh Hai…

– Ừa, tôi cũng vậy!

– Ngày ấy, nếu không có anh Hai vun vén cho tôi với bà nên duyên chồng vợ, chắc tôi vào ở ẩn tại Trại Thương binh nặng Hội An…

Trời đang ngả về chiều. Ông Quang ngồi dậy đu người sang xe lăn, đi rửa mặt. Bà vợ bê ấm nước lá vối đặt ở bàn nước. Hai người trò chuyện với nhau. Sau đám cưới, ông Trà Quang bàn với vợ muốn ra Đà Nẵng học nghề sửa khóa, bơm ga hộp quẹt để kiếm đồng ra đồng vào phụ giúp gia đình. Hải Linh đồng ý ngay. Gửi bé Phương Hà cho ông bà nội trông coi, hai vợ chồng lặn lội ra Đà Nẵng. Hải Linh đẩy xe lăn đưa Trà Quang đi khắp các phố phường, nơi nào có tiệm sửa khóa, bơm ga hộp quẹt, nàng đẩy xe vào để chồng xin học nghề. Rất buồn là ai cũng lắc đầu không nhận. Sinh hoạt cá nhân của anh cần phải có người giúp đỡ. Mắc mớ chi họ rước cực vào thân. Quẩn quanh ở Đà Nẵng cả tuần. Ban ngày, Hải Linh đẩy xe lăn trên vỉa hè đưa chồng đi tìm kiếm nơi học nghề. Ban đêm, nghỉ tạm ở nhà trọ tồi tàn. Trà Quang tỏ ra chán nản. Hải Linh động viên: “Ở đời vẫn còn nhiều người tốt, em vững tin như thế! Vợ chồng mình ráng lang thang thêm vài ngày nữa, biết đâu…”. Hôm đó, Hải Linh đẩy xe lăn chở Trà Quang dừng lại ở một tiệm sửa khóa, bơm ga hộp quẹt nơi vỉa hè đường Trần Cao Vân. Chủ tiệm là một người đàn ông trung niên. Nghe Hải Linh trình bày hoàn cảnh của mình, lại biết Trà Quang là thương binh đã để lại đôi chân của mình ở chiến trường K, người đàn ông trung niên sốt sắng nhận lời ngay. Ông còn nói thêm: “Tôi sẽ dạy cấp tốc cho anh! Chỉ sau hơn hai tuần là anh thành thạo nghề để mưu sinh”.

Vốn thông minh lanh lợi, lại được thầy Nguyễn Hữu Nghĩa – họ tên người đàn ông trung niên, tận tình truyền dạy những bí quyết của nghề sửa chữa các loại ổ khóa và bơm ga hộp quẹt, Trà Quang đã “tốt nghiệp” thuộc loại xuất sắc. Trở về quê nhà, Hải Linh nhờ thợ mộc đóng một chiếc tủ gỗ có bốn bánh xe, bên trên gắn tủ kính. Đồ nghề hành nghề sửa khóa, bơm ga hộp quẹt được thầy Nguyễn Hữu Nghĩa mua sắm giúp. Chọn ngày lành tháng tốt, vợ chồng Hải Linh – Trà Quang khai trương tiệm sửa khóa, bơm ga hộp quẹt dưới tán cây ở góc chợ làng. Thoạt đầu khách đến với tiệm của anh vì tò mò muốn biết “tay nghề” của anh thế nào. Rồi tiếng lành đồn xa. Tiệm sửa khóa, bơm ga hộp quẹt của anh ngày càng đông khách. Những đồng tiền anh kiếm được không những đủ trang trải chi tiêu trong cuộc sống hằng ngày, mà còn dư thừa chút đỉnh làm “của để dành”. Tiền trợ cấp thương binh hạng nặng và tiền kiếm được bằng khả năng lao động của mình đã giúp cuộc sống của vợ chồng anh khấm khá dần lên. Họ sinh thêm đứa con thứ hai là trai. Rồi theo thời gian, hai cô con gái cũng lần lượt chào đời. Thời “bao cấp” và “hậu bao cấp”, tuy cảnh nhà còn lắm khó khăn nhưng vợ chồng anh vẫn nuôi nấng và cho các con ăn học đàng hoàng. Bây giờ tất cả đều đã yên bề gia thất ở phố và có công ăn việc làm ổn định. Dân làng khâm phục nghị lực sống của vợ chồng anh. Và họ nhận ra: “Ai ơi! Ruộng mẫu bề bề/ Cũng không bằng có một nghề trong tay…”.

“Mới đấy mà bây giờ ông và tôi đã trở thành ông bà nội, ông bà ngoại của các cháu.. Thời gian trôi nhanh thật!”. Bà vợ ông cười bảo với chồng. Ông Quang gật gù nói thêm: “Vợ chồng mình có được hạnh phúc đầy tay như ngày hôm nay cũng là nhờ có tiếng nói quan trọng của anh Hai. Anh ấy qua đời khi mới lục tuần, thương quá!”. Cả hai ngồi im lặng bên bàn nước. Ông Quang giải nghệ bởi đã hoàn thành sứ mệnh của một người cha đối với các con. Vợ ông cũng không còn thức khuya dậy sớm, quanh năm suốt tháng sấp mặt trên đồng trồng khoai cấy lúa nuôi sống gia đình. Qua cơn bĩ cực đến hồi thái lai. Bây giờ chồng ông có một cuộc sống khá thong dong. Cả hai quanh quẩn ở nhà chăm sóc phụng dưỡng người mẹ già tuổi ngoại tám mươi. “Trời hanh hao và rét lạnh se se. Còn chừng tháng rưỡi là đến Tết Nguyên đán cổ truyền. Nhà mình sắp đầy ắp tiếng cười của con cháu về quê chúc tết bà cố và ông bà nội, ông bà ngoại”. Bà vợ ông nói. “Ừa, lúc đó bà lo sắm sanh bánh trái để chúng nó về ăn cho vui”. Ông Quang bảo. “Chừ không như hồi xưa. Bánh tét, bánh tổ, bánh ú, bánh tàu, bánh khô khảo… cận tết chợ làng bày bán đầy. Tôi đi chợ một buổi là có đủ mọi thứ”. Bà vợ ông cười. Rồi bà vợ ông nói thêm: “Quê mình có món bánh tráng quấn thịt heo luộc kèm rau sống giờ trở thành đặc sản của xứ Quảng. Cận tết, tôi đi chợ làng mua thịt heo nửa nạc nửa mỡ đem về làm món đặc sản ấy”.

Lấy nhau từ thời xuân sắc đến bây giờ cặp đôi Hải Linh – Trà Quang đều đã nên ông nên bà. Tấm lòng thủy chung son sắt và sự đồng cam cộng khổ chia ngọt sẻ bùi của hai vợ chồng trong cuộc sống là chuyện tình bên dòng sông Vu Gia đầy cảm động và đẹp như cổ tích…

Vườn Cừa, chớm đông 2026

NGUYỄN TAM MỸ

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *