Truyện ngắn Phạm Phương Liên: Hương nhài trong gió

Bà Năm có lẽ chẳng bao giờ quên được những ngày tháng ấy. Khi mà bầu trời như muốn nghiêng hẳn về phía hai mẹ con bà. Buổi sáng nắng rải những sợi tơ vàng ươm trên bậu cửa. Buổi chiều chỉ lác đác những hạt mưa muộn, đủ cho vườn cau sau nhà xanh mướt. Đêm đêm, gió heo may lùa vào chái bếp, mang theo mùi cốm mới thoảng qua như khẽ ru ngủ cho đàn gà con đang mơ màng trong đôi cánh gà mẹ. Hơi lạnh ùa về se se, kéo mùa thu lại gần hơn bên hiên nhà.

Nhà văn Phạm Phương Liên ở Hà Nội

Bà luôn nghĩ, có lẽ mình được trời thương, nên trước ngày con gái lấy chồng, thời tiết cũng dịu dàng quá đỗi như bàn tay ai đó đang khẽ chạm lên mái tóc mềm. Nhà chỉ có hai mẹ con, chồng đã đi theo người đàn bà khác từ lâu. Bao năm nay, bà vừa là cha, vừa là mẹ. Đã quen với việc, mỗi tháng nhận lương đều chia vào từng chiếc phong bì riêng để dành cho mỗi khoản chi tiêu trong gia đình. Khoản này ăn uống. Khoản kia hiếu hỷ. Khoản nọ đóng học cho con… Ôi! biết bao nhiêu thứ đặt lên vai bà.

Cũng không phụ công bà, Cô Hân, con gái bà luôn ngoan ngoãn, chăm chỉ học hành. Hết cấp ba, cô đỗ vào trường Sư phạm. Bốn năm ra trường, trở về làm cô giáo làng.

Ba năm sau, Hân thủ thỉ với mẹ bằng ánh mắt trong veo như sương sớm: “Anh ấy là bác sỹ ở bệnh viện huyện mình mẹ ạ!”. Bà Năm mừng lắm. Biết con gái đã tìm được bến đỗ bình yên của nó. Con rể ở ngay làng bên. Lại có công việc ổn định. Bà bằng lòng và cũng chỉ mong có thế.

“Cầu trời con có cuộc sống gia đình hạnh phúc. Còn đời mình, coi như bỏ.” bà thầm nghĩ.

Rồi Hân dẫn bạn trai về ra mắt mẹ. Cậu ấy là con một. Bố mẹ trước cũng làm ở bệnh viện huyện. Nhà neo người. Một phần cũng vì mong có cháu, nên sau khi hai nhà gặp gỡ, ông bà bên ấy giục cưới sớm.

Đám cưới diễn ra nhanh chóng giữa mùa lúa chín vàng như tấm thảm trải dài tận chân đê, sau khi bà Năm gặp con rể lần đầu khoảng hai tháng. Ngày tiễn con về nhà chồng, bà tặng con chiếc khăn tay ướp hương hoa nhài thơm ngát. Đứng trước hiên nhà, nhìn con gái mặc váy cưới trắng tinh, bà Năm thấy lòng mình vừa đầy vừa trống. Đầy vì vui cho hạnh phúc của con, trống vì biết từ ngày mai căn nhà sẽ chỉ còn mình bà thui thủi bên mâm cơm vắng.

Đến đây bà chợt nghĩ đến những vần thơ của nhà thơ Hữu Thỉnh, bà đọc được trong một cuốn sách. Bà mở cuốn lịch cũ, vẫn kẹp mẩu báo đã ố vàng, có ba câu thơ bà từng gạch chân bằng bút đỏ:

“… Một mình một mâm cơm

Ngồi bên nào cũng lệch

Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền…”

Đúng. Những vần thơ ấy hình như viết dành cho bà, ít nhất là trong lúc này. Chúng lặng lẽ cắm rễ trong trí nhớ, kéo bà trở về những ngày tháng xưa cũ, tháng năm mà cả cuộc đời bà bị chôn vùi trong căn nhà này. Cũng chính nơi đây, bà chứng kiến cảnh chồng mình xách balo rẽ đi theo một lối khác mà không thèm ngoái cổ lại nhìn hai mẹ con bà lấy một lần. Biết bao tủi hờn bà đã chịu đựng trong những năm qua. Biết bao cám dỗ cuộc đời đã bủa vây, vậy mà bà vẫn cố gắng giữ đạo hiếu, thờ phụng bố mẹ chồng và nuôi dạy con gái thành người.

Nhưng thôi, con ấm, thì bà cũng yên.

Nghĩ vậy bà đưa tay quệt ngang dòng nước mắt đang lăn dài trên đôi má lấm tấm đồi mồi của mình. Lúc này, gió đã thổi trên mặt đường, cuốn theo những hạt bụi rơm vàng từng cơn, quẩn quanh chân người như muốn theo bước sang làng bên.

Thời gian đầu ở nhà chồng, Hân như bước vào một cuộc sống mới. Sáng sáng ngủ dậy trong căn nhà cấp bốn, đưa mắt ra ngoài là sân gạch đỏ au còn đẫm sương đêm dẫn ra cổng, hai bên bờ tường là hàng cau già lắc lư trong nắng sớm. Tiếng chổi tre của mẹ chồng văng vẳng từ hiên nhà ra đến ngõ. Bố mẹ chồng thương con dâu mới, bữa cơm nào cũng có thêm một món cho con ăn lấy sức, lúc thì bát canh cua ngọt lừ, lúc thì nồi cá kho tiêu ấm nồng. Bố chồng ho khẽ, tay xoa xoa vết đất khô còn bám ở vạt áo lúc mới từ vườn vào. Bưng mâm cơm nóng, mẹ chồng cô mỉm cười, luôn miệng nhắc con dâu cố ăn nhiều cho khỏe.

Sáng nào, Hân cũng giúp chồng chuẩn bị quần áo trước khi đi trực. Cô đứng ở cổng, dõi theo chiếc xe máy của chồng khuất bóng sau rặng tre ngoài đầu ngõ, mới trở vào nhà. Buổi chiều sau khi tan lớp, Hân cùng mẹ chồng nhổ rau ngoài vườn, chuẩn bị cho bữa cơm chiều. Đêm xuống, trong gian phòng cưới còn thơm mùi hoa nhài, nghe tiếng đồng hồ quả lắc trên bàn làm việc của chồng thong thả gõ nhịp, Hân nằm nghe, thấy lòng bình yên quá đỗi, những mong cả đời này sẽ trôi qua êm đềm như thế. Nhìn hai con quấn quýt, bố mẹ chồng cô mừng lắm. Bà mẹ chồng còn gọi đó là thú vui khuê phòng của đôi vợ chồng trẻ. Lòng hy vọng về một ngày không xa, được bế trên tay đứa cháu nội bụ bẫm, trắng trẻo.

Chỉ đôi khi, vào những buổi chiều chồng chuẩn bị đi trực ca đêm, Hân đứng ở hiên nhà nhìn ra đường làng, gió thổi vội vàng qua đám cỏ may, trong lòng bỗng thoáng qua một nỗi chênh chao nào đó. Tiếng còi xe cấp cứu hú một hơi dài qua đầu làng. Nơi có khúc cua vốn hẹp, Hân nghe bố chồng bảo mấy năm nay chỗ ấy vẫn thường xảy ra tai nạn do người đi đường bị hạn chế tầm nhìn, đến giờ vẫn chưa được mở rộng. Mùi cồn y tế còn phảng phất bên chiếc áo blouse anh treo trong phòng. Hân rút sợi cỏ may đang cắm vào gấu váy, tự dưng thấy lạnh sống lưng. Cũng không hiểu vì sao. Nhưng có lẽ, cô cũng chẳng ngờ, chính những dự cảm ấy lại là điềm dữ báo trước một điều không bao giờ trở lại.

Tranh của họa sĩ Lê Kiệt

… Đêm ấy, vào khoảng gần ba giờ sáng, khi bà Năm đang ngủ thì nghe tiếng gọi hốt hoảng ngoài cổng cùng tiếng dép loẹt quẹt gấp gáp. Bà ngoảnh đầu ra phía cửa chính, thấy ánh sáng đèn pin đã le lói vào sân. Bật dậy. Chưa kịp búi tóc, chạy ra sân trong tiếng đập cửa dồn dập của một người trong làng. Nhưng khi vừa chạm tay mở khóa cổng, vừa kịp nhận ra anh Tư đang đứng trước mặt mình, thì tai bà bỗng ù đi bởi những lời nói vừa thốt ra từ miệng anh:

– Thím… đi nhanh lên, thằng Long… con rể thím mất rồi… bị tai nạn… đang đưa ra đồng!

Bốn chữ  “đang đưa ra đồng” làm bà chết lặng. Bà không thể tin vào tai mình, hay chính xác hơn là không muốn tin. Bà hỏi đi hỏi lại nhưng anh chỉ lắc đầu, mắt đỏ hoe.

Chiếc ổ khóa trên tay rơi xuống đất. Tiếng “cạch” vang lên chói tai trong đêm, bà chống tay xuống nền gạch mới đứng thẳng dậy được. Cảm thấy chân mình như không còn chút sức lực. Người ấy kịp giang tay đỡ. Nếu không, có lẽ bà đã ngã ngay trước cổng nhà. Trong khoảnh khắc ấy, bà thấy như cái lạnh ngoài đồng đang luồn thẳng vào tim bà. Không kịp thay áo, bà chạy theo người ấy, men con đường mòn sang làng bên. Cỏ may móc gấu quần. Đi qua triền đê lạnh ngắt, mùi bùn và rơm hòa quện vào nhau, đom đóm lập lòe ở rìa đồng như ảo ảnh nhưng lúc này đây bà đâu còn tâm trí để dõi theo những điều ấy. Trong đầu chỉ tràn ngập hình ảnh mới tối hôm qua thôi, con gái và con rể về thăm bà còn cười nói vui vẻ bên ấm trà nóng. Bà phải giục mấy lần, đến gần mười giờ đêm hai đứa mới chịu đứng dậy ra về.

Sao cơ sự lại ra nông nỗi này…

Long ơi! Mẹ biết làm sao đây? Còn cái Hân nữa?

Trên cánh đồng, những bóng người thấp thoáng trong đêm, tiếng rì rào vọng lại chập chờn như lay động màn đêm đen đúa, lạnh lẽo.

Đã chạy hết sức để đến được đây, nhưng khi chỉ còn vài bước nữa là tới, chân bà bỗng khựng lại trước lúc đối diện với khung cảnh đau thương này. Tiếng gào khóc, tiếng gọi tên con rể phát ra từ đám đông khiến bà nghẹt thở. Khụyu xuống, bàn tay bà chới với tìm điểm vịn. Anh Tư phải kéo thật mạnh bà mới đứng dậy được. Ngón tay Hân bấu mép huyệt, đầu ngón tay rướm máu. Trong chớp mắt, giữa hơi đất ẩm lạnh lẽo, cô nghe vọng từ đâu đó tiếng hắng giọng khe khẽ của chồng mỗi lần anh về đến cổng, trước khi gọi tên cô. Cổ họng nghẹn lại, rồi cô bật ra, giọng xước như lưỡi kéo đưa qua giấy nhám.

– Anh Long ơi…

Khi nhận ra tiếng con gào trong gió, bà vội lao về phía đám đông đang vây kín.

Ánh sáng hắt loang từ những bó đuốc quét qua gương mặt đang cúi sát của những người ở đây.

Con gái bà, ngồi bệt bên mép huyệt, tóc thả rối che đi một nửa khuôn mặt trắng bệch, bên cạnh là hai người đàn bà đang giữ lấy vai cô như sợ chỉ buông tay ra thôi là cả người cô như muốn lao xuống với người chồng xấu số ấy. Ánh mắt cô dính chặt xuống huyệt, muốn cố gắng giữ lấy một hình bóng đang chìm theo từng thớ đất lạnh lẽo thi nhau rơi. Giọng khản đặc gọi tên chồng trong khoảng không tối sẫm. Nhận ra mẹ, cô ôm chầm lấy bà Năm, khóc như vỡ òa bằng tất cả phần sức lực còn lại.

Ôm con trong lòng, bà Năm thấy cuộc đời mình như bị ai bứt mất một nửa. Sao số phận lại tàn nhẫn với mẹ con bà đến thế. Chỉ mới hơn một tuần thôi, con gái bà từ một cô dâu xinh đẹp, hạnh phúc nay bỗng trở thành một người phụ nữ hai mươi lăm tuổi góa chồng.

Long ơi! Sao số kiếp con lại khốn khổ thế?

Cái Hân, rồi nó sẽ sống thế nào đây?

Bà siết chặt vai con, ánh mắt luôn hướng ra khoảng tối ngoài đồng. Có lẽ cuộc đời con gái bà sắp tới sẽ chẳng khác nào khoảng không tối tăm kia. Nỗi đau quá lớn, liệu nó có đủ sức để vượt qua nỗi đau này không?

Nghe những người trong làng kể lại. Chỉ mới mấy tiếng trước thôi, Long vừa tan ca trực đêm ở viện, vội vàng chạy xe về để được ở bên cạnh vợ một lúc trước khi trời sáng. Ai ngờ, một chiếc ô tô mất lái lao ra từ khúc cua đầu làng… Cú đâm mạnh quá khiến thằng bé mất ngay tại chỗ. Có người đi chợ huyện sớm phát hiện, vội báo cho gia đình.

Ở làng này, có tục lệ, những người chết đường, chết chợ thì không được đưa về nhà. Gần rạng sáng, công an họ bàn giao thi thể xong, người thân và họ hàng mới đưa thẳng ra đồng, không rước qua cửa nhà vì sợ vía xấu.

Trên cánh đồng, gió lùa qua rặng tre, rít lên ken két, mang theo mùi đất ẩm ngai ngái và mùi cỏ dại bị bàn chân ai đó giẫm nát. Lưng áo những người đàn ông đào huyệt ướt đẫm, cố gắng đào nốt những xẻng đất cuối cùng.

Bà Năm, đứng lặng trong vòng người. Bà lặng rút chiếc khăn tay còn thơm mùi hoa nhài quen thuộc. Chậm rãi tiến gần, giọng như lạc đi, nói với người làm lễ:

– Ông ơi, ông cho cháu nó… được mang theo hơi vợ…

Người đàn ông nhận lấy, đặt chiếc khăn vào trong quan tài. Khoảnh khắc nắp hòm đóng lại, bà Năm thấy như có nhát dao sắc lẹm vừa xoẹt qua tuổi xuân của con gái bà. Lồng ngực bà thắt lại. Rồi tiếng đất bắt đầu rơi xuống, thình… thịch… thình… thịch.

Từng xẻng một.

Chậm rãi nhưng nặng nề, chôn vùi cả nụ cười và hình bóng của một kiếp người mỏng tang.

***

Những ngày sau khi chồng mất, Hân được ban giám hiệu nhà trường tạo điều kiện cho nghỉ thêm một thời gian để tĩnh dưỡng và sắp xếp công việc gia đình. Mẹ chồng cô cũng suy sụp từ ấy. Bà luôn nằm quay mặt vào góc tường, ai hỏi cũng không nói. Ông thì mạnh mẽ hơn, nhưng cũng không giấu nổi nỗi buồn khi những buổi chiều Hân bắt gặp ông đứng bên hiên nhìn xa xăm về phía cánh đồng.

Ngồi lặng im trong căn buồng tối, mái tóc rối bời và ánh mắt khô khốc nhìn gian buồng ngập tràn hình bóng của chồng. Chiếc bàn làm việc, giá sách và chiếc gối ngay bên cạnh… đều như muốn kể chuyện về những ngày tháng hạnh phúc vừa mới chớm nở nhưng đã lụi tàn ấy. Chiếc áo blouse trắng của chồng, Hân vẫn treo ngay ngắn trên mắc áo. Đêm nào cô cũng lấy ra, đặt bên cạnh mình, để luôn cảm thấy chồng chưa hề đi xa.

Trong làng, ngày nào cũng có người đến chơi. Người đến an ủi, người khẽ liếc. Chị hàng xóm, đặt đĩa bánh lên bàn thờ thắp hương cho Long rồi quay sang Hân, hỏi khẽ: “Thế chú ấy có nhắn gì trước không?” Hân chỉ lắc đầu.

Thương con, bà Năm thi thoảng vẫn sang ngủ cùng con gái cho con bớt nghĩ quẩn. Bên gọn đèn chao nhẹ trong phòng, bóng hai mẹ con lay trên vách như mặt nước gợn mặt hồ, chạm đâu cũng khẽ run.

***

Hơn một tháng sau.

Cái lạnh hanh hao bắt đầu làm khô nứt đôi môi của những đứa trẻ vẫn túm tụm chơi đánh khăng ở gốc đa đầu làng.

Sáng sớm hôm ấy, khi bà Năm đang hoay hoay nhóm bếp đun nước thì nghe tiếng dép quen thuộc khẽ bước vào sân. Hân đứng trước cửa, gương mặt xanh xao nhưng ánh mắt lại hiện lên một tia sáng le lói.

Hai mẹ con ngồi gần nhau bên ánh lửa bập bùng. Một lúc lâu, Hân mới cất giọng ngập ngừng như sợ gió cuốn trôi:

– Mẹ… con có bầu rồi. Nói đến đây, hai hàng nước mắt cô khẽ lăn trên má.

Bà Năm ngẩng đầu, đưa tay lau nước mắt cho con.

Lúc này, tất cả mọi sự như đã lùi lại phía sau. Bà đưa tay đặt nhẹ lên bụng con gái, cảm nhận một nhịp đập bé bỏng đang cố gắng vươn lên. Trong lòng vừa mừng, vừa lo. Đứa bé là giọt máu duy nhất còn lại của dòng họ bên ấy và lúc này nó sẽ là hơi ấm để con gái bà vượt qua đau khổ. Bà không khóc, trong lòng như có ai đó vừa nhóm lại một bếp than hồng.

Gió từ đồng thổi vào, mang theo mùi nắng, mùi cỏ vừa kịp khô héo, mùi hương hoa nhài thoang thoảng, quẩn quanh trong gian bếp. Trong giây phút thoáng qua ấy, bà như nghe thấy tiếng xe máy và tiếng bước chân của cậu con rể hiền lành mỗi lần sang thăm, vọng từ ngoài ngõ vào đến sân nhà.

Bà xếp lại những phong bì cũ, lấy thêm một chiếc, viết bằng bút đỏ hai chữ: “Cho cháu” rồi cẩn thận cất vào góc tủ.

Hương nhài vẫn thoáng qua, như một sợi chỉ nối người cha đã khuất với đứa bé chưa chào đời.

PHẠM PHƯƠNG LIÊN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *