Truyện ngắn Trần Đắc Hiển Khánh: Mong manh

VHSG- Lê Đại nhớ mãi cái đêm rầu thúi ruột hồi nẳm. Đại dính đòn “khai trừ”, nghiệt ngã tưởng như “khai tử”. Nghĩa là sống mà như chết! Nhiều lúc sự thật cứ hiển hiện trước mắt. Trong ngôi lều lá dừa nước nhỏ như cái chòi canh, ngọn đèn dầu bóng hột vịt cháy leo lét tỏa ra thứ ánh sáng tù mù. Gió thổi vô vách lá thầm thào.

Đại ngồi sát vách bên cửa sổ. Ánh trăng qua khung cửa soi rõ khuôn mặt non tơ với trên cặp má bầu bầu. Mọi người ngồi im phắc quanh ngọn đèn run rẩy phập phù, cố giữ ánh lửa yếu ớt.

Tư Thái, người chủ trì cuộc họp đưa tay vặn to ngọn đèn dầu. Ánh sáng chả hơn được bao nhiêu nhưng khói bốc lên ngùn ngụt. Tư Thái tuyên bố: “… Tôi nhắc lại khuyết điểm nghiêm trọng mà đồng chí Lê Đại mắc phải: Thứ nhất, quan hệ nam nữ bất chính. Thứ hai, để thất thoát công quĩ. Đây là hai tội “tham ô” và “hủ hóa” mà bọn tư sản, đế quốc đã đầu độc làm mất tư cách phẩm chất người chiến sĩ ta… Các đồng chí hãy phân tích để làm bài học soi chung.

Tiếng ai đó nói đế vô: “Soi rọi gì. Cái gương tày liếp hổng soi/ Soi vũng nước đục cho lòi mắt ra”. Tiếp sau đó là những lời rỉa rói, xoáy vô lỗ tai. Trái tim non trẻ của Đại như có những hòn đá tảng đè đến tức thở. Đại đã ngồi nhiều ngày nghe những lời phán xét kiểu chụp mũ của những người nói dai như trâu đái. Bữa nay lại tiếp tục chịu trận:

– Cuộc họp lần trước, đồng chí Đại khai là số tiền thâm hụt đó do đánh mất trên đường đi lãnh về. Thời gian lãnh số tiền ấy cách nay hơn một năm rồi. Sao giờ mới khai? Lại không có chứng cớ gì. “Đồng tiền liền khúc ruột”, sao để tuột nhẹ hều vậy? …

– Theo tôi phải xử cho nghiêm chuyện này. Không thể tém dẹp được. “Tham ô” với “hủ hóa” là hai kẻ thù cấu kết với nhau. Mê gái, theo gái rồi lạm dụng công quĩ lấy tiền bao gái, tội rõ rành rành còn gì nữa…

– Bắc thang lên hỏi ông trời, đem tiền cho gái có đòi được không?

– Đồng chí Lê Đại có tình ý với cô Huệ. Cô Huệ lại có anh trai đi lính Việt Nam Cộng hòa. Việc này thể hiện lập trường giai cấp không vững vàng của đồng chí Đại. Không phân rõ địch, ta… Làm sao mà quyết tâm đánh thắng giặc được.

Nhà văn Trần Đắc Hiển Khánh

Họ gọi Đại là đồng chí nhưng họ vẫn coi Đại là “thằng con nít, miệng còn hôi sữa”. Họ đều cho mình ở bậc cha chú, những vị tiền bối cả. Bởi Đại vốn là một thằng bé chăn trâu. Đội du kích ấp giao cho việc liên lạc. Nhanh nhẹn, tháo vát, được việc. Đại có tài bơi lội như rái cá. Nằm ngửa, để đồ trên bụng, chân đạp tay bơi, lừ lừ như khúc gỗ trôi từ bờ sông bên này sang bờ bên kia. Đồ trên bụng vẫn khô nguyên. Mọi thông tin liên lạc đều chót lọt. Việc khó mấy cũng xong. Xong việc chỉ cười khì… lộ chiếc răng khểnh làm sáng nụ cười. Đại mau chóng trở thành một chiến sĩ dũng cảm trong đội quân du kích địa phương. Rồi kiêm luôn việc thủ quĩ.

Trước lý lẽ buộc tội như những sợi dây xít chặt lấy cổ họng, Đại nghe tức muốn cành hông mà hổng biết đường chối cãi. Quả thật, Đại có để thụt quĩ số tiền khá lớn. Bằng ấy tiền mua hàng trăm dạ lúa chớ ít đâu… Nguyên do là, bữa hổm đi nhận tiền về, Đại sơ ý đánh mất chiếc giỏ xách có số tiền vừa lãnh với mấy bộ đồ ở trỏng. Đại lo quýnh quáng.

Hỏi: “Mất ở chỗ nào?”. “Mất ở đâu?”. Nghĩ bụng, “Biết mất chỗ nào đã đến đấy lượm về…”.

Làm sao đây? Nói với chỉ huy, sợ bị phê bình là thiếu tinh thần trách nhiệm. Đang thời gian thử thách mà không hoàn thành nhiệm vụ thì… tiêu luôn. Thế là phải chạy đôn chạy đáo. Mượn tiền chú Tư chủ nhà máy xay lúa. Cả tiền nhà của ba má đắp vô. Má nói với ba, “cái tánh mạng con mình còn chả tiếc, tiếc chi của. Thôi mình góp cho con nó đủ tiền đắp vô công quỹ. Cũng là đóng góp cho cách mạng”. Ba nghe cũng hưởng ứng. “Tui tính rồi, nó đang phấn đấu… lại nghe sắp được thưởng huân chương đấy má nó à”. Vậy là Đại có đủ số tiền quĩ. Không thiếu một đồng.

Chẳng may nhà máy xay lúa của chú Tư bị đạn pháo bắn cháy rụi. Chú Tư bị thương phải đi cấp cứu. Mọi người lo quýnh quáng chạy tiền cứu chữa. Đại lấy tiền quĩ trả chú. Lúc kiểm kê mới “bể mánh”. Sự thật là vậy, nhưng nói ai tin. Mà họ có cho nói đâu. “Trăm cái răng đè cái lưỡi”.

Còn chuyện với Huệ thì quả có tình yêu đích thực. Huệ đẹp nhất vùng này, ai chả biết. Mình được em yêu còn gì sung sướng hơn. Vậy mà lại là khuyết điểm, tội lỗi. Ngộ thiệt! Một thằng con trai mới hai mươi tuổi, “ăn chưa no, lo chưa tới”, chưa chuẩn bị gì cho công việc thấy chuyện này ngộ là phải thôi…

Cuộc họp cuối cùng ấy, (cũng không biết là cuối cùng chưa?). Tư Thái, người chủ trì tuyên bố:

– Theo như gợi ý kết luận của cấp trên: Đồng chí Lê Đại phải chịu nhận hình thức kỷ luật cao nhất là… “Khai trừ”. Đồng thời phải bồi thường trả ngân quĩ toàn bộ số tiền đã thất thoát.

Nghe hai tiếng “khai trừ”, Đại thấy lạnh sống lưng, cảm giác chới với, mất thăng bằng như vừa rơi từ trên cầu lao xuống sông. Tư Thái hỏi tiếp: Các đồng chí có ý kiến gì không?

– Nếu không có ý kiến gì, xin biểu quyết. Ai đồng ý khai trừ đồng chí Lê Đại, giơ tay?

Có cánh tay giơ thẳng lên ngay. Cũng có cánh tay ngập ngừng, giơ xiên ngang. Có người nhìn trước nhìn sau rồi mới giơ tay. Quả thật trong số đó có người chưa đồng ý hẳn nhưng thấy nhiều người giơ tay, cũng giơ. Đã từ lâu nay những lúc lấy ý kiến tập thể như thế này thường là nghe ngóng nhau, “gió chiều nào che chiều ấy”. Ý kiến ngược lại là chống đối, là tiêu cực. Vì vậy, việc “theo đuôi” hay “theo đóm ăn tàn” đã trở thành một lối sống, một kiểu ứng xử hợp pháp và an toàn.

Tư Thái nhìn bao quát vẻ chăm chú, hỏi:

– Ai không đồng ý giơ tay?

Nhìn khắp lượt, Tư Thái kết luận: Không có ai. Vậy là một trăm phần trăm đồng ý khai trừ đồng chí Lê Đại. Thư ký ghi biên bản.

Năm ấy Đại tròn hai mươi tuổi.

*

Những ngày sau đó, hình ảnh cuộc phê bình kiểm điểm cứ lởn vởn, ám ảnh mãi trong đầu óc Đại. Trong những giấc mơ, Đại thấy những cánh tay chĩa ra trước mặt mình như những lưỡi lê. Ánh mắt những người phán xét vừa dữ dội, vừa áp đặt… Tất cả nhập nhòa dưới ánh sáng leo lét của ngọn đèn như ma trơi.

Đại lén tìm gặp Huệ. Không dám kể lại chuyện mình. Mặc dù nỗi uất hận cứ nén xuống lại muốn bật lên. Đây là chuyện nội bộ. Đã là nội bộ thì phải bí mật. Cả chuyện danh dự nữa. Gặp Huệ, Đại có linh cảm như đây là lần cuối cùng hai đứa bên nhau. Giọng Đại lạc hẳn đi: “Anh phải đi…”. Huệ ngạc nhiên: “Đi đâu?”. “Đi thiệt xa…”.

Hai đứa dìu nhau ngồi xuống cạnh đống rơm bên gốc xoài. Đại ôm ghì Huệ đến mức Huệ phải ngạc nhiên: “Làm gì… dữ thần vậy?”. Tự nhiên tay Đại buông xoãi ra, vẻ như hờn dỗi. Một thoáng im lặng. Im lặng nên nghe rõ tiếng đập của hai con tim. Lát sau, Huệ cầm tay Đại: “Bộ hết thương em rồi sao?”. Đại không biết nói gì, ấp mặt vô ngực Huệ. Mùi thơm của da thịt thanh tân làm ngây ngất. Đại mê đi… Rạo rực, cháy bỏng. Cả Huệ cũng không biết trời đất là gì.

Hôm sau, trên đường sang nhà ngoại, tình cờ Đại gặp anh Ba ở bến sông. Anh Ba là con người cậu. Anh từng dạy Đại bơi lội ở khúc sông này. Từ ngày ở hai phía, anh em ít khi gặp gỡ nhau. Giờ đây ráng chiều làm dòng sông đỏ rực. Phía ngã ba sông rộng mênh mông. Những bè lục bình lững thững trôi chẳng biết đi về đâu…

Đại rụt rè hỏi: Anh Ba đi đâu vậy? Bữa nay nghỉ xả hơi, kiếm vài con cá nhậu chơi. Sao coi bộ mi như mèo cắt tai… Đại chẳng nói năng gì, nhảy ào lên xuồng y như hai anh em đã hẹn nhau từ trước. Anh Ba thầm nghĩ, vì sao Đại lại lủi thủi ở đây? Thấy nét mặt lặng lẽ có vẻ bí hiểm của Đại, anh Ba cũng không tiện hỏi. Vừa kéo lưới bắt cá, anh Ba vừa liếc nhìn vẻ mặt lặng lẽ, buồn thiu của Đại. Đêm ấy, hai anh em bập bềnh trên sông theo dòng nước lững lờ. Cuộc nhậu tới “ngoắc cần câu” làm cả những bông lục bình cũng lờ đờ say theo.

Rồi bữa sau, anh Ba lại kéo Đại đến cuộc nhậu ở quán gần đồn Ngã Tư với tốp lính nghĩa quân ở xã bên. Cuộc nhậu tình cờ. Tình cờ gặp bạn nhậu… Đại chìm trong hũ rượu, chìm trong tiếng nhạc não nề, nỉ non đứt ruột. Trong cơn say, Đại thấy bức bối, nghe cứ rưng rức trong lòng. Có lúc ngực như thắt lại. Rồi thấy như mình đang chìm nghỉm xuống đáy sông.

Chẳng biết đến ngày thứ mấy Đại mới tỉnh hẳn.

Giật mình nhớ ra: Mình đã bị “khai trừ”. Mình phải bồi thường tiền quĩ. Số tiền này lấy đâu ra trả bây giờ? Đại tuyệt vọng, không biết bấu víu vào đâu… Anh Ba vẫn bao cho Đại ăn, ở trong đồn nghĩa quân. Mấy ngày sau đó, xung quanh có tiếng xì xào to nhỏ: “Tụi nó đang kiếm thằng Đại”. Đại vờ như không nghe thấy, tuy vẫn thấp thỏm lo ngay ngáy như cá nằm trên thớt. Vẻ mặt anh Ba có gì khang khác. Vừa có ý phấp phỏng, vừa có ý muốn bảo vệ Đại.

Đại nghĩ, cũng đành nhắm mắt đưa chân chớ biết sao bây giờ. Mặc cho nước chảy bèo trôi. Như cây lục bình tấp vô đám chà mặt sông, rồi sững lại.

Đến một hôm, vào chập tối. Cả đồn nháo nhác. “Báo động”. Tất cả răm rắp vào vị trí. Anh Ba giữ khẩu súng máy. Anh giao cho Đại khẩu súng trường. Cả hai anh em ở lô cốt số 2, chốt giữ hướng chính phía Nam.

Sau những tiếng nổ váng tai, khói những quả thủ pháo phụt lên từ dãy nhà lính. Đại định thần lại. Đúng rồi, đây là cách đánh của đội du kích Tư Thái. Cách đây mấy tháng, mình cũng đã oánh một trận tưng bừng ở đồn này. Trận ấy, sau những quả thủ pháo nổ vô nhà lính, lệnh của trung đội trưởng Kiên nổ súng tiến công vô lô cốt. Toàn phân đội mình giữ đúng hợp đồng tác chiến, từng vị trí xung phong. Đại bộ phận địch chưa kịp trở tay đã bị tiêu diệt. Một số sống sót vừa chống cự, vừa tháo chạy. Tên chỉ huy đồn rất ngoan cố, ném trả hai quả đạn, làm trung đội trưởng Kiên ngã xuống tại chỗ. Mình xông lên bắn theo một loạt AK làm tên này dính đạn. Mình chói chặt tay nó, dẫn ra. Sau trận ấy mình được tuyên dương khen thưởng…

Giờ đây, trớ trêu thay…!

Đang nghĩ vẩn vơ thì tràng súng AK nổ sát rạt. Một quả thủ pháo nổ ngay bên trong lô cốt. Khẩu súng máy đổ nghiêng ra cùng với cái té nhào của anh Ba. Cánh tay anh lặt lìa, máu đỏ loang khắp người. Anh nằm lặng. Đại vội băng bó cánh tay cho anh. Vết thương ở bụng anh máu vẫn trào ra. Anh ngừng thở.

Tiếng người chỉ huy bên ngoài hô “xung phong!”. Đại nghe rõ tiếng của Tư Thái. Quả thật lúc ấy Đại cũng không nghĩ Tư Thái là kẻ thù mình phải chống trả.

Dù không nhìn rõ nhưng Đại cũng hình dung ra các mũi nhắm đánh vô lô cốt, gần sát bên tường nhưng chưa chiếm được. Và khẩu súng máy này là hỏa lực lợi hại nhất. Đây là cách bố trí khác với trận Đại đã đánh vô lần trước. Hẳn chỉ huy đồn đã có bài học từ trận ấy.

Bỗng nhiên có một loạt pháo nổ xung quanh khu vực đồn. Bình tĩnh lại, Đại đoán ngay là đang có hỏa lực chi viện cứu nguy. Từng loạt pháo xiết dần. Tiếng súng quân giải phóng im hẳn. Được lệnh tẩu thoát. Đại quá thông thuộc đường đi nước bước nên nhanh chóng luồn lách ra ngoài.

*

Những ngày Tháng Năm lịch sử. Đại lột bộ đồ cũ vứt bên đường. Mặc vô bộ đồ thun tàng tàng. Hòa vào đoàn người tán loạn như ong vỡ tổ, chạy trốn vội vã. Không suy nghĩ gì, Đại nhảy lên một chiếc xe đò. Người đứng chật như nêm cối. Trong lúc Đại chưa biết đi đâu, xe dừng lại bến Bảo Lâm. Thấy mấy người xuống xe, Đại cũng nhảy ào xuống theo. Đi vô định ra phía ngoại ô. Hai bên đường là những vườn cây, cánh đồng rộng. Bầu trời cao lộng. Không khí mát dịu,

Lúc đứng trên xe chật chội bức bối, muốn khụy chân xuống. Giờ đi một đoạn thấy sảng khoái hẳn. Nhưng một lúc sau, bụng sôi òng ọc. Cơn đói cồn cào. Mắt hoa lên. Đến bên cái cổng có cây bông giấy đỏ rực, Đại ngồi thụp xuống, thở. Nhìn vô phía trong khu vườn cạnh lộ, thấy một ông già có mái tóc bạc trắng, bộ râu dài chấm ngực đang đứng trước sân nhà. Ông đang ngó lơ cây cối vườn tược. Đại nhìn dáng ông già hiền lành, phúc hậu như tiên ông nên mạnh dạn bước lại gần, vòng tay trước ngực nói:

– Thưa ông, con bị lỡ độ đường.

Ông già nhìn Đại với đôi mắt hiền từ, cảm thông:

– Chạy loạn à? Đất nước này sẽ thanh bình…

Đôi mắt ông già như thấu hiểu mọi điều, có thể đọc được ý nghĩ người khác. Ông vẫn nhìn người thanh niên trước mặt với vẻ bao dung độ lượng. Linh cảm cho ông thấy, người thanh niên có đôi mắt sáng, lanh lẹn lại khá đẹp trai này đang cơ nhỡ thực sự.

– Vô đây!

Ông nói ngắn gọn rồi bước vô nhà, bảo người cháu dọn cơm cho ăn cùng.

Ông Hai thật lòng, Đại cũng thực bụng đánh một hơi hai tô cơm với canh chua, thịt kho. Ngủ một giấc thẳng cẳng. Một thời con người dễ tin, dễ yêu, sống tử tế như thế đó. Sáng, ông đánh thức Đại dậy: “Nếu cậu chưa biết đi đâu thì ở lại đây tiếp thằng cháu ta làm vườn. Mấy người làm nháo nhác chạy về quê cả rồi.”

Đại quen ngay với việc cuốc đất, nhặt cỏ, tưới nước cho cây. Nghĩ bụng biết ơn người cứu giúp mình lúc cơ nhỡ, càng chăm chỉ siêng năng với công việc. Bụng vẫn nghĩ, chuyện của mình không thể kể với ai. Phải sống chung với nó… như đeo một gánh nặng đè lên suốt cuộc đời.

Một thời gian sau, khu vườn sạch cỏ. Cây cối chăm sóc chu đáo xanh tốt trông thấy. Ông già Hai rất vui. Đại càng thấy rõ sự nhân từ ở ông. Ông cho đúng cái mình cần. Đại tìm thấy sự yên ả nơi này. Có lúc Đại muốn cởi lòng mình ra. Nhưng cũng băn khoăn, áy náy không khỏi phấp phỏng trước cảnh huống của mình. Đại nhớ về Huệ, mối tình đầu tha thiết, trong trắng. Hai đứa yêu nhau đã lâu nhưng lần ấy mới… Đại không ân hận gì về điều đó, chỉ sợ nếu Huệ có con thì biết sao đây? Mình chạy trốn, để lại Huệ chịu mọi điều tiếng…

Hình như ông già Hai cũng nhìn thấy sự uẩn khúc trong đôi mắt Đại. Những lúc nghỉ ngơi, ông chuyện trò với Đại như người bạn vong niên. Ông vui vẻ nhìn những tán cây xanh tốt, tươi mởn, giọng cao nhã:

– Đất đai, cây cối cũng có hồn đấy. Người ta cũng có hồn, có vía. Phải giữ cho hồn vía yên bình, tâm thế an nhiên… mới sống tốt được.

– Sao ông lại chọn nơi kín đáo, vắng vẻ này để sống?

– Giá như bây giờ ta sanh ra ở tuổi 80 này, rồi dần dần tiến đến tuổi 18, đôi mươi như cháu. Ai đã nói vậy, ta cũng muốn thế để học cái khôn ở đời.

Trò chuyện với ông già, Đại sáng ra nhiều điều. Nhưng nỗi nhớ nhà, nhớ ba má ngày càng da diết. Kẹt nỗi lúc này sao về được. “Trở đi mắc núi, trở lại mắc sông”. Đại sống trong tâm trạng hoang mang tội lỗi, luôn ngập ngừng, bần thần lo lắng.

Càng tin yêu mến phục ông Hai, Đại càng khó nói về sự thật của mình. Quả là tâm thế bất an. Nhiều lúc cứ nhấp nhổm như ngồi trên đống lửa.

– Ta thấy như cháu mắc nợ điều gì. Ông trầm ngâm một hồi rồi tiếp: Hãy tự biết mình là ai…? Đất nước vừa bước qua khỏi chiến tranh, tất nhiên còn ngổn ngang trăm bề. Nhưng thiết nghĩ, đất nước này rồi sẽ bền vững. Tất cả phải tuân theo tự nhiên. Dân không thể lụi tàn. “Dân vạn đại”. “Dân vi quí”. Ông nói gãy gọn, chắc như đinh đóng cột: Người quê này, cây cỏ này… bao năm tao loạn nhưng cháu thấy đấy, vẫn xanh tốt. Mùa nào thức nấy. Hết mùa này sang mùa khác.

Sau đó, chiến tranh biên giới phía Bắc, phía Tây Nam nổ ra. Thanh niên nô nức lên đường nhập ngũ, Đại cố ý để lộ tờ giấy khen hồi là chiến sĩ quân giải phóng. Ngỏ ý muốn được ông Hai bảo lãnh cho nhập ngũ cùng với thanh niên địa phương. Đại được biên chế vào đơn vị quân tình nguyện sang chiến đấu ở chiến trường Campuchia. Đại trở thành một con người khác hẳn. Một chàng trai rắn rỏi, tự tin hơn rất nhiều. Nỗi day dứt như được giải tỏa phần nào. Đại mau chóng hòa nhập vào đội ngũ kỷ cương với những người đồng đội dũng cảm, giàu lòng nhân ái.

Sau trận truy kích đánh bọn tàn quân Pol Pot. Dưới cánh rừng thốt nốt, lính tình nguyện tìm gặp đồng hương. Đại chạy từ lán này sang lán khác, nháo nhác hỏi: “Có ai người đất Sóc hông?”. “Có tui, dân hóc bò tó đơi…”. Đại đóng vai một người quen, hỏi thăm cặn kẽ chuyện quê nhà. Chiến sĩ trẻ không biết Đại, nhưng rất tường tận chuyện nhà ba má Đại ở quê sống ra sao.

Hình ảnh ba má hiện ra trước mắt Đại. Cả những lầm lỡ, tội lỗi cũng không thể nào nguôi ngoai. Đại vẫn cảm thấy băn khoăn. Liệu ba má có bị liên lụy vì mình?

Rồi nhiệm vụ ở Campuchia hoàn thành. Đoàn quân tình nguyện về nước. Đại ở trong diện giải ngũ nhưng nỗi băn khoăn day dứt vẫn rối rắm như cuốn chỉ vò, không biết gỡ lối nào. Đã đành là quân nhân xuất ngũ. Nhưng về đâu? Trường hợp của Đại thật hi hữu. Đại đã có ý định bỏ đi làm ăn nơi khác, như trở lại nhà ông già Hai làm vườn chẳng hạn. Lại nghĩ, ba má ngày một già yếu. Với lại chạy trốn được cái thân nhưng cái “tiếng” vẫn để lại. Bấy lâu từng làm ba má mất mặt với bà con.

Sau mấy đêm thức trắng, Đại quyết định: Phải đối mặt với sự thật. Nhớ lời ông già Hai: Nếu không nhận ra mình thì sẽ không thay đổi được gì. Cuối cùng Đại quyết định: Quê hương là lối thoát duy nhất.

Ngày trở về. Vui buồn lẫn lộn. Má đứng sững giữa nhà khóc rưng rức. Ba lặng lẽ nhìn Đại chăm chú. Một lúc sau ba mới nói chậm rãi: Kiếm đâu được bộ đồ vậy con? Câu hỏi vừa thương cảm, vừa hờn giận. Buộc lòng Đại phải đưa tờ giấy xuất ngũ ra… Niềm tin yêu con cái đâu cần chứng cứ. Nhưng dù sao Đại cũng không muốn ba má buồn.

Một ngày đầu thu, hoa vàng như nắng. Đại đóng bộ quân phục bạc màu, phẳng phiu, nghiêm chỉnh lên ủy ban nhân dân xã. Đường quê vừa quen vừa lạ. Người xe tấp nập. Thoáng nhìn thấy cái lều chăn vịt phía xa giữa cánh đồng. Đại cố quên đi chuyện cũ. Ánh nắng vàng lọt qua tán cây rắc hoa lốm đốm trên lối vào trụ sở.  Cô thư ký trẻ măng chả biết Đại là ai. Trình giấy tờ xuất ngũ xong. Đại tìm gặp trưởng ban tài chánh xã xin nạp số tiền phải bồi hoàn do thâm hụt ngân quĩ năm xưa.

Đại trở về. Bước đi ung dung, nhẹ nhõm.

*

Đại tránh gặp mặt Huệ mặc dù trong lòng rất muốn bày tỏ. Điều vương vấn đó là thằng con Hoàng Văn Tài. Đại cả quyết: Tài là con của mình. Mặc dù Tài đã mang họ Hoàng Văn của Tấn. Nhưng thật “vô duyên” nếu Đại lên tiếng nhận con! Đành nín nhịn. Đã nhiều lần Đại ngồi ở quán café cổng trường, chờ thằng bé đi học về, lén nhìn nó, nghĩ bụng ước gì được ôm nó vào lòng. Nhưng không thể được. Từ xa, Đại nhìn nó khôn lớn trưởng thành mà chẳng dám hé với ai.

Đại xây dựng gia đình ở xã bên, lập nghiệp ở quê vợ, yên phận làm ăn. Những bài học làm vườn từ Lâm Đồng đưa ra thực nghiệm khá hiệu quả. Vợ chồng Tấn – Huệ rất vui, tự hào về đứa con trai đầu lòng. Huệ thầm vui vì chồng mình coi nó như con đẻ…

*

Hoàng Văn Tài trở thành sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông Đại thầm vui trong bụng. Ông luôn dõi theo từng bước trưởng thành của Tài. Ông được biết Tài đang ở trong diện đào tạo, được cử đi học cao học. Đang làm luận án tiến sĩ. Tài chọn đề tài “Xây dựng lực lượng cách mạng địa phương”, lấy ngay đơn vị huyện mình làm thực tế để viết luận văn.

Thời gian tìm hiểu lấy tài liệu, Tài được nghe kể về một đảng viên suy thoái, mất phẩm chất đạo đức, bị khai trừ khỏi đảng. Rồi bỏ trốn chạy sang hàng ngũ địch. Hiện là chủ “Trang trại Lê Đại”, được nêu gương toàn miền về cách làm ăn khoa học, hiệu quả cao. Ông Lê Đại có rất nhiều đóng góp cho địa phương. Ông Đại đã bỏ tiền bạc, công sức phá con đập cũ, khai con mương đồng Găng, để cho nước lũ tự nhiên tràn về thau chua, rửa mặn, đem phù sa màu mỡ cho mùa vụ tươi tốt trở lại. Từ đấy dân gọi cánh đồng Găng là “Cánh đồng ông Đại”. Rồi ngôi trường mẫu giáo quê nhà cũng được ông Đại bỏ tiền xây dựng, vừa khánh thành đúng dịp khai giảng năm học mới.

Tài ghi chép đầy đủ. Hẹn sẽ đi gặp trực tiếp chủ trang trại Lê Đại. Ông Đại bị bịnh bất ngờ. Bất ngờ vì đang dự hội chợ hàng nông sản sạch, thấy người đau nhẹ. Vô bệnh viện khám. Bác sĩ cho xét nghiệm. Rồi bệnh đùng đùng kéo đến. Thuốc thang mấy cũng không thuyên giảm.

Những ngày nằm trong bệnh viện, ông Đại không khỏi nghĩ ngợi về chuyện cũ đời mình. Nhưng chuyện về thằng con Hoàng Văn Tài thì không thể nào dứt ra được. Từ lúc lâm bệnh nỗi ám ảnh còn hơn cả bệnh tình của mình. Một buổi trưa. Trên giường bệnh. Ông gặp Tài trong bộ quân phục chỉnh tề. Ông đã mạnh dạn nói:

– Tài à, cháu… cháu chính là con bác.

Tài ngơ ngác:

– Ủa, sao cháu lại… biến thành con? Bác nói thế hổng sợ ba Tấn cháu nổi giận à? Ba Tấn là người cha kính yêu của cháu.

– Chuyện xưa… ngày ấy…

Ông bưng mặt khóc rưng rức rồi bỗng giật mình tỉnh lại. Ngơ ngác nhìn, chẳng thấy có ai. Căn phòng lặng ngắt. Thì ra giấc mơ.

*

Tài đang sắp xếp tài liệu, đặt lịch về gặp ông Lê Đại thì nhận được tin ông đang bị bệnh nặng, khó qua khỏi. Và một lá thư viết tay được trao tận tay Tài:

“Hoàng Văn Tài, con trai yêu quí của ba!

… Mẹ con biết rất rõ việc này. Tình yêu của ba với mẹ con có thể phai mờ theo năm tháng. Nhưng lòng trung thực của ba với mẹ con con thì không thay đổi. Người ta nói: “Một trong những thất vọng nhất của con người là không được sống thật!”…

Chắc con hiểu, sự cao cả và thấp hèn có giới hạn rất mong manh… Hãy tha thứ cho ba. Trên con đường dài dằng dặc đời người, ba đã gồng mình lên, đeo đẳng một vết nhơ. Những tưởng… lụi tàn… Nhưng rồi ba đã vươn lên… Hãy tha thứ cho ba…      

Ba của con: Lê Đại”

Tài bàng hoàng. Đầu óc quay cuồng. Ngồi gục mặt xuống bàn. Nước mắt thấm đẫm lá thư. Bao câu hỏi đặt ra trong đầu. Sao lại trớ trêu thế này? Tôi nhận ra cha hay tôi nhận ra tôi đây? Lịch sử luôn là sự thật khách quan. Tôi viết hay không viết? Đây là luận văn tốt nghiệp – Sự nghiệp của đời tôi. Nếu lựa chọn, tất nhiên phải mất một. Tôi không viết thì lịch sử vẫn tồn tại…

Tài về đến “Trang trại Lê Đại” giữa buổi trưa nắng gắt.

Ông Đại nằm thiêm thiếp trên giường. Mái tóc nhuốm màu thời gian điểm bạc. Lọn tóc xoăn trên trán hình như hơi xoãi ra, chắc hẳn ông đã trả lời bao câu hỏi của cuộc đời mình một cách thỏa đáng. Vợ con và những người thân vây quanh, đang lắng nghe từng nhịp thở của ông.

Mở mắt nhìn quanh, ông Đại nhận ngay ra Tài đứng bên. Ông nhìn mọi người như muốn xác nhận đây là sự thật chớ không phải trong mơ. Ông vẫy tay ra hiệu Tài lại gần. Tài cúi xuống nắm chặt tay ông. Bỗng thốt lên:

– Cha ơi!

Tiếng gọi tha thiết của Tài làm gương mặt ông  giãn ra, tươi tắn hẳn, thoáng vẻ mãn nguyện. Mọi người ngạc nhiên, ngỡ ngàng nhìn nhau tưởng như chàng trai trẻ đã mang lại sự sống cho người thân của mình.

TRẦN ĐẮC HIỂN KHÁNH

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *