Truyện ngắn Viên Lan Anh: Hoa cúc quỳ

Đêm đó trăng rằm bàng bạc, soi xuống khoảng sân trạm xá nằm trong  khuôn  viên ngan ngát cây xanh. Trong căn phòng chờ sinh có hai phụ nữ trạc hai lăm, hai sáu. Một người trắng trẻo, dáng dấp ăn vận kiểu thị xã, người kia nhìn cách ăn vận và nước da bánh mật cho thấy có thể chị là người quanh năm gắn với đồng áng.

Hai người hỏi tên thì biết, người phụ nữ da trắng tên là Lúa, còn chị có nước da bánh mật tên là Cam. Hai người trò chuyện với nhau xen lẫn những cơn đau trở dạ  bất chợt  nên cũng không muốn  hỏi thêm quê quán, làng, xã. Chỉ biết chồng chị Lúa đi công tác ở mạn ngoài, chồng chị Cam đi bộ đội Tây Bắc. Khoảng chiều tối chị Cam  vào phòng sinh, ít giờ sau đó chị bước ra bế  theo đứa nhỏ trên tay, chị nói với  chị Lúa: “Cháu là con gái”. “Thế thì chúc mừng chị… Chị nằm xuống đây nghỉ ngơi đi… Tôi đem nhiều đồ sơ sinh, tôi tặng cháu tấm mền hoa này chị đắp thêm cho cháu, chứ mảnh vải xô đó mỏng, sợ cháu lạnh”. “Cảm ơn chị”. “Chị buồn gì nữa?… Ruộng sâu, trâu nái, không bằng gái đầu lòng”...

Nhà văn Viên Lan Anh ở Thanh Hóa

Ngay lúc đó, cơn đau đẻ quặn lên, khiến chị Lúa mặt mày tái nhợt, ôm bụng chạy vội vào phòng sinh. Chị đã sinh hạ một cậu con trai trắng trẻo, mập mạp. Vừa đau, vừa mệt, cảnh  chồng  công tác xa nhà, không ai bên cạnh hỗ trợ nên chị tự mình lo toan tất cả, chị vắt sữa non cho con bú rồi mệt mỏi ngã lưng xuống chiếc giường gỗ ọp ẹp thiếp đi. Giường bên kia mẹ con chị Cam đang ngủ ngon lành. Trong đêm khuya,  bệnh viện  chìm trong cảnh im ắng, thi thoảng tiếng  máy bay B52 Mỹ từ biển lao vào rèn rẹt rồi lại lao ra biển. Bỗng chị nghe vẳng tới tiếng gì như tiếng con mèo hen kêu đâu đó rất gần. Nhìn sang giường bên cạnh, thấy chị Cam vẫn đang ngủ, nhưng bỗng tim chị đập rộn lên từng hồi  rồi chị lắng xem có phải lũ mèo hoang gọi đực không? Không phải, tiếng mèo hoang gọi đực  chúng  phải gào rú dai dẳng  meo… meo…. meo…eo…eo… thê thảm kia. Tiếng kêu  này bé nhỏ và thương thiết lắm nghe như tiếng con nghé non, hay tiếng con dế: é…é…é…

Chị bật dậy, đẩy cửa bước ra ngoài. Trăng vào rằm về khuya bắt đầu  sáng lạnh, in từng bóng cây như hình những con người đứng bất động nhìn xoáy vào chị. Chị rùng mình và ớn lạnh sống lưng. Lo cho con nằm  một mình, chị lại chạy vào phòng vặn to cây đèn dầu, thấy thằng bé no sữa vẫn đang ngủ yên trong tấm chăn hoa xanh, màu má nó  hồng hồng, cái mồm chép chép sữa mẹ trong mơ. Chị  lại ngủ tiếp,  nhưng trong phòng lại phát ra tiếng kêu khọt khẹt lúc này lại như  con chuột sặc nước. Chị  ngồi bật dậy vặn to ngọn đèn rồi lay chị Cam dậy. Nhưng… Một lần nữa, sống lưng chị lại ớn lạnh, mồ hôi túa ra… Người chị Cam lạnh ngắt  và dưới gầm giường có đám máu loang rộng, bên cạnh có con gì đang ngọ ngoạy, nó kêu lên khe khé,… khèn khẹt. Nhưng ớn lạnh hơn  là chị nhận ra tấm chăn màu hoa cà chị cho đứa trẻ ấy,  sao bây giờ lại ở  dưới gầm giường?.

Chị bật ngửa người, ngồi thụp xuống, trời ơi, đứa trẻ… Chị chọc tay vào đám chăn và nâng nó lên,  nhưng ngay sau đó đàn kiến đông nhung nhúc bu đỏ tay chị, chúng  đốt vào hai tay chị rồi bò nhanh lên nách, chúng cắn đốt điên cuồng vì vừa bị mất miếng mồi ngon. Chị la lên: “Cứu…cứu… các bác sỹ ơi…cứu”. Chị ôm đứa trẻ vừa chạy vừa la, vừa đập cửa phòng trực, mọi người xôn xao thức dậy, thằng con chị giật mình khóc thét.  Đứa trẻ được trao vào tay các y, bác sỹ. Còn chị lui ra ngoài ngồi khóc nức nở bên cạnh thi thể chị Cam. Đến lúc này thì chị biết rằng, chị Cam đã chết vì bị băng huyết  nên đứa trẻ cựa quậy đòi bú, chẳng may rơi xuống gầm giường. Chị Lụa  than, sao cũng kiếp con người mà mẹ con chị Cam lại chia lìa nhau thế này?

Đêm đó, máy bay Mỹ gầm rú trên bầu trời rồi chúng cắt bom ở đâu đó rất gần trạm xá. Chị Lúa phải ôm chặt lấy con rồi cố nhét cái đầu vú vào mồm cho nó đỡ hoảng sợ. Đứa trẻ con chị Cam  được các y, bác sỹ cấp cứu sốc nhiễm độc và giảm đau từ những vết sưng  đỏ tấy khắp người do đàn kiến hung hãn cắn, đốt. Sau đó,  chị Lúa liên tục cho  bé gái  bú cùng với con trai mình.

Ngày hôm sau các y, bác sỹ tìm giấy tờ tùy thân trên người chị Cam không có gì, họ chờ thêm một ngày  không có người nhà đến rồi quyết định đưa chị đi mai táng. Vì đứa trẻ bị  mất mẹ khi còn quá bé mà chị Lúa phải ở lại bệnh viện tới  năm ngày. Đêm đêm, nách bên trái chị  ôm con trai, nách bên phải chị ôm đứa trẻ bị bỏ rơi rồi chị suy nghĩ, nếu chị không nuôi đứa trẻ này thì sao đây?. Các y, bác sỹ ở đây không có ai nuôi con nhỏ thì làm sao nó có sữa để bú. Suy nghĩ mãi rồi cuối cùng chị quyết định xin nuôi đứa trẻ. Ngày ra viện, chị đi bộ ba cây số, hai nách cắp hai đứa trẻ về nhà, trên đường đi hoa cúc quỳ nở tím, chị vui mừng đặt tên cho đứa trẻ ấy là Cúc, còn con trai chị là Cường.

Trong căn phòng xập xệ quây bằng ván ép của cửa hàng muối, chị Lúa gọi điện cho chồng chị công tác xa  về  ngay để mừng sinh con trai và  để chị động viên anh cho chị nuôi thêm đứa con gái bị người ta bỏ rơi, âu cũng là cái duyên trời định. Rất may, chồng chị vui vẻ chấp thuận, anh nói, chỉ thương chị vất vả và rồi anh lại đi công tác xa. Ba mẹ con đắp đổi nuôi nhau chừng Cúc được năm tuổi thì có một gia đình ở xa có hoàn cảnh hiếm muộn con, đến nhà năn nỉ xin chị Lúa được nhận Cúc làm con nuôi. Nghĩ thế nào, chị lại thuận tình tin tưởng và cho người ta đưa Cúc về làm con nuôi. Cúc về nhà cha mẹ nuôi,  ban đầu được mọi người quý mến, nhưng nuôi Cúc hơn một năm mà mẹ Cả vẫn chưa có tín hiệu có thai, sang năm thứ hai thì bà thất vọng ê chề, khi mọi người đi làm vắng, bà đổ lên đầu Cúc bao nhiêu tội lỗi, bà chì chiết nuôi Cúc tốn gạo, tốn cơm mà không được tích sự gì. Mỗi đêm bố nuôi cắp ống điếu thuốc lào sau đít,  thủng thẳng đi ra khỏi nhà không ngoái đầu nhìn lại, sáng hôm sau ông mới về, thế là bà lôi Cúc ra đánh bầm dập, bắt Cúc nhốt ở chuồng trâu, ban ngày bắt làm đủ việc từ hái rau cho lợn, đến chăn trâu, xay lúa, giã gạo. Tết năm sau, bố nuôi dắt về một người đàn bà bụng mang, dạ chửa, nói là bà Hai. Ông ra điều kiện, nếu bà Cả chấp nhận thì ở chung một nhà, nếu không, ông dựng cho bà một gian nhà tranh, hai chái  trên hai sào đất phần trăm ở cuối làng để bà ở riêng. Bà Cả chấp nhận phương án hai, ra ở riêng. Bố nuôi khuyên bà, ra đó ở một mình buồn thì ông cấp cho bốn thúng thóc, mang theo Cúc ra đó ở cho vui. Cúc vui mừng, hy vọng cảnh mẹ con cô độc, bà sẽ thương Cúc hơn.

Tranh của họa sĩ Nguyễn Anh Đào

Những ngày đầu diễn ra êm đềm, bà còn hứa với Cúc sẽ cho Cúc đi học, nhưng những ngày sau đó thông tin cuộc sống hạnh phúc của bố nuôi với mẹ Hai liên tục bay đến gian lều bé nhỏ của hai mẹ con họ. Mẹ Cả khóc lóc cả ngày không tưởng làm lụng, một tay Cúc xáo cỏ, nấu cơm, đi cấy. Tưởng rằng mọi nỗ lực của Cúc sẽ được bình yên trong căn lều đó,  nhưng rồi mẹ Cả bắt đầu uống riệu say xỉn cả ngày, trước đây Cúc hay bị mẹ Cả đánh đập vì sự tuyệt vọng của bà, bây giờ Cúc thường xuyên bị bà đánh đập vì  bà say xỉn. Nhà cửa  hoang tàn, lúa gạo dần chạy sang hàng riệu không còn gạo để nấu cơm. Xóm giềng cho vay sắp lượt rồi họ cũng chán. Một buổi trưa đói quá, ngồi mãi với con mèo già rồi trí nhớ đưa Cúc lững thững đi lên quốc lộ, Cúc vừa đi vừa gặm hai cái dái mít chát sệt, nhưng cũng khiến cái dạ dày đỡ kêu lục cục. Đi miên man trên đường, Cúc nhớ lại những ngày tháng hạnh phúc mình được ở với mẹ Lúa.  Trong trí nhớ  của Cúc, thằng Cường hay tranh ăn, tranh đồ chơi với Cúc, nhưng dù sao đó cũng là những tháng ngày hạnh phúc nhất. Đi mãi đến rời rã đôi chân, có lúc  Cúc  phải ngồi xuống vệ cỏ mà nghỉ ngơi rồi lại đi tiếp. Từ nhà Cúc lên thị xã phải hơn mười cây số. Đi mãi rồi Cúc cũng tìm được đến con phố có nhà mẹ Lúa, đến nơi, Cúc gõ cửa, chủ nhà bước ra nói bà Lúa đã bán lại căn nhà này để đi miền Nam cả gia đình. Nghe  xong Cúc quỵ xuống ngất luôn, khi tỉnh dậy, chủ nhà đổ nước đường cho Cúc, mua cho Cúc bát cháo rồi hỏi sự tình, Cúc kể lại đầu đuôi câu chuyện. Họ rất thương Cúc nhưng không thể nuôi Cúc, họ cho Cúc năm đồng bạc rồi bà chủ nhà lấy xe đạp đèo Cúc qua đường quốc lộ, chỉ cho Cúc đường về nhà gần nhất. Bà ấy còn xui Cúc nếu mẹ Cả ác thế thì không ở với mẹ Cả mà nên về ở với mẹ Hai xem sao.

Nghe theo lời chỉ dẫn. Cúc đi thẳng về nhà mẹ Hai, Cúc gõ cửa bước vào gặp mẹ Hai đang bế đứa con trai trên tay. Cúc nói ráo hoảnh “mẹ Cả đánh con, con xin về ở với mẹ”. Bà Hai nhíu mày rồi gọi vóng vào trong: “Anh ơi, cái Cúc nó không chịu được chị Cả suốt ngày say riệu, nó xin về ở nhà ta anh ạ.”. “Nếu cho nó ở thì  giao cho nó nấu cơm, bế em, chăn lợn, giặt giũ…”. Từ đó, Cúc ở lại trong nhà mẹ Hai cho đến năm mười bảy tuổi. Tuy không được học hành, nhưng bù lại, đức tính riêng năng của Cúc khiến mẹ Hai rất hài lòng. Cúc không được ăn uống đầy đủ như con nhà người ta, lại mặc cảm hoàn cảnh con nuôi, đứa ở,  nên ít giao tiếp bên ngoài. Suốt ngày làm việc không biết đến mình đã lớn là một thiếu nữ…

Cho đến một lần, đêm đó trăng thu sáng bảng lãng trên cánh đồng mênh mông cuống rạ.  Sương đêm mát rượi, Cúc tranh thủ thả trâu ban đêm cho nó ăn ở cánh đồng gốc rạ mới mọc lúa chét xanh trổ bông có nhiều sữa non để bồi dưỡng cho con trâu béo tốt, phục vụ mùa cày tới. Ngồi trên lưng trâu, Cúc nghe tiếng vạc ăn đêm khắc khoải gọi nhau,  lòng thêm cô độc. Con trâu làm bạn với Cúc từ nhiều năm nay, tiếng cạp thức ăn của nó khiến không gian đỡ hoang vắng. Cúc nhìn trăng khe khẽ hát ru lại lời bài ru ngày xưa mẹ Lúa đã ru Cúc và Cường ngủ: “À… ơi… đêm qua tát  nước  sau đình, bỏ quên cái áo trên cành hoa sen… Em có được thì cho anh xin, hay là em để làm tin trong nhà… Áo anh sứt chỉ đường tà, vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu…” . Hát đến đây nước mắt Cúc hai hàng lênh láng. Cúc nghĩ, vì  sao trên đời có người con trai dễ thương như thế? Giá mình có một ai đó nói với mình câu như thế… Nhưng phận đi ở, mù chữ, ai thèm ngõ ngàng đến mình… Bạn cùng trang lứa chúng đã lấy chồng, có con, còn Cúc vẫn cảnh vò võ quanh năm đầu tắt, mặt tối,  đơn côi một mình. Nước mắt rơi thánh thót, Cúc để nó tự lăn xuống hai gò má rồi cứ nhìn lên bầu trời đầy sao găm lắc rắc cùng những đám mây bồng bềnh trôi mà nấc lên từng hồi. Con trâu  đã ăn no nê  nên  quay đầu vọt lên con đê chạy dài bên dòng sông Lĩnh. Gió miên man thổi,  con trâu đang thủng thẳng đi,  bỗng nó hộc lên một tiếng thật to rồi bốn chân nó choãi ra, không chịu đi nữa.  Nó cất cái cổ to đùng lên cao rồi rống lên từng hồi “Tru…Tru….Tru”, liền sau đó,  nó gò lưng hất hất Cúc xuống. Cúc vội nhảy xuống xem chân nó vướng phải cái gì, hay là đinh đóng đê làm nó bị thương? Trời ơi? Một xác người đàn ông mặc quần áo quân nhân nhầu nhĩ…Là anh Khùng xóm trên. Vợ anh ta mới chết đuối năm ngoái, sao hôm nay lại ra nông nỗi này. Cúc đặt tay lên ngực anh ta, thấy tim còn đập, Cúc dắt vội con trâu buộc vào  bụi rưới dại rồi chạy vụt về làng la lối “ Có người chết ngoài đê,… bớ làng nước ơi…”. Rầm rập khắp  làng trên, xóm dưới, ai có đèn đem theo đèn, ai có đuốc đem theo đuốc, rầm rập chạy theo chân Cúc. Đến nơi, ai nấy té ngửa: “lại là gã Khùng, khênh anh ta về làng đi kẻo anh ta chết mất bà con ơi… mộng du đi lang thang trong đêm, may mà cô Cúc phát hiện chứ không mò mẫm xuống sông thì toi rồi. Khổ cho anh ta quá… trời ơi là trời!”. Một đám thanh niên huỳnh huỵch khênh anh Khùng về nhà. Bước vào nhà,  Cúc thấy bát hương vợ anh tàn lạnh trên tường, cửa nhà mốc thếch, thằng Tân con anh mặt mũi xanh xao đứng nép góc nhà, hai tay bấu vào nhau khóc thút thít.

Từ hôm đó, hình ảnh anh Khùng cứ như cái móc treo tường đóng đinh vào đầu Cúc. Cúc luôn nghĩ trưa nay bố con anh ai nấu cho mà ăn, tối nay chẳng may anh lên cơn đau đầu thì sao, anh có còn bỏ nhà, bỏ con mà đi lang thang nữa không? Nhiều hôm Cúc đi chợ, Cúc ăn bớt tiền,  mua cho anh ít cá tươi đem vào nhà xắc muối, kho vội cho bố con anh rồi vội vã về nhà. Những lúc cô lui cui dưới bếp, trên nhà anh hát ngêu ngao trong hoang tưởng: “Gặp em… trên cao lộng gió… Đường Trường Sơn ào ào  lá đỏ,  chào  em… cô gái Trường Sơn, ơi  cô gái Trường Sơn, hẹn gặp nhé,… giữa Sài Gòn…”.

Việc cô thường xuyên trốn nhà ban trưa khi bố mẹ nuôi đã ngủ, hay ban tối khi mọi người đang say giấc nồng để đến dọn dẹp cho bố con anh Khùng rồi cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra. Để nhân việc làm của Cúc, mẹ Cả lấy cớ đến nhà mẹ Hai để một mũi tên bắn hai mục đích, vừa hả hê việc Cúc bỏ mình về ở với mẹ Hai, vừa hả hê trả mối thù bà Hai lâu nay làm bà bầm gan, tím ruột. Bà đứng giữa sân dậm chân bành bạch: “Bớ ông Tống, gia thế nhà ông đẹp mặt thiên hạ lắm rồi nên ông rước một con điếm về làm vợ, nay lại nuôi ong tay áo, để con Cúc trốn nhà đi ở nhà thằng Khùng mà ông không thấy xấu hổ…”. Trước lời đay nghiến của bà Cả, ông Tống vớ lấy cái đòn gánh phang vào người Cúc, bị đau, Cúc chạy ra ngõ, đúng lúc đó, anh Khùng đi vác thuốc lào ở xóm dưới về qua, thấy cảnh ồn ào, hò hét, khóc lóc, chưởi bới om sòm, anh  dừng lại, thấy Cúc đang quằn quại trong tay ông bố nuôi, anh lao vào xô ông Tống ra “ông cũng con người, cô ấy là người ăn, kẻ ở trong nhà, sao ông nỡ ra tay như vậy?”. “Á, tưởng ai, hóa ra thằng Khùng. Mày đã quên những lúc lên cơn điên hò hét, xung phong khắp làng. Mày chết đi, sống lại mấy lần, mê mê, tỉnh tỉnh, thế mà mày dám dạy đời ông sao?”. Ông Tống trở đòn gánh định phang vào người anh Khùng, nhưng anh Khùng nhanh tay gạt mạnh, chiếc đòn gánh văng xuống mương. Ông Tống vờ ôm bụng la “Ối làng nước ơi, thằng Khùng hắn giám đánh vào bụng tôi có khi vỡ gan rồi bà con ơi… Thằng giết người, thằng điên!”. Ông chú anh Khùng cũng đã có mặt, ông xô anh Khùng ra rồi lật áo ông Tống lên “Không hề gì ông Tống nhá, ông đừng vu oan giáo họa, nhà tôi nghèo nhưng giấy rách không bị mất lề, cháu tôi có là thằng Khùng cũng hơn chán vạn thằng đàn ông ở cái xóm này. Cô Cúc có thương yêu nó là quyền con người, không ai có quyền ngăn cản, xỉ vả”. “Á…à…Thế là rõ rồi nhá, tao truyền hồn cho con Cúc, từ giờ phút này ,mày mà giám bước chân vào nhà tao, tao lót lá đuổi ra khỏi nhà”.  Ông Tống nói rồi đóng sầm cửa ngõ lại. Bà con xóm làng cũng ai về nhà nấy.

Cúc đứng bơ vơ ngoài đường, ông chú anh Khùng gọi Cúc và anh Khùng về nhà ông, ông hỏi anh Khùng có ưng Cúc về làm vợ không? Anh Khùng băn khoăn lo lắng “ Con thương tật thế này, lại có con riêng, không biết cô ấy có ưng không?”. Ông chú lại hỏi Cúc có muốn lấy Khùng làm chồng không? Cúc bẽn lẽn “Hoàn cảnh cháu đi ở, mù chữ, không biết anh Khùng có ưng không?”. Ông chú hạ một câu: “Thế là được rồi! Bố mẹ anh mất đi lòng tôi đau lắm, hàng ngày thấy cảnh anh gà trống nuôi con chúng tôi ruột xót như dưa. Nay trời thương cho anh chị gặp nhau trong hoàn cảnh này, âu cũng là duyên trời định. Tôi sẽ triệu tập họ lại để lo đám cưới cho anh chị”. “Nhưng con không có đồng nào”. “Nhưng cháu chẳng có hồi môn gì, áo quần cũng không được cầm đi”. “Tôi chỉ cần anh chị có tấm lòng tốt và tình thương với nhau, với thằng Tân là đủ”. Cuộc họp họ được diễn ra ngay trong đêm, mỗi người một ý kiến, cuối cùng ai cũng được giao nhiệm vụ. Ngay đêm nay, Cúc đem nải chuối ông hạ ngoài vườn về nhà anh Khùng, lau chùi bát hương, dâng nước, dâng hoa để anh Khùng và Cúc xin cha mẹ, chị Cả để hai người được chung sống với nhau. Sáng sớm mai hai người lên xã xin đăng ký kết hôn rồi về dọn dẹp nhà cửa. Ông sẽ góp ba con gà, rau ria trong vườn, chú Ba góp mười bò nếp, một yến cá dưới ao, cô Tư, cô Năm lo cho Cúc hai bộ quần áo mới và cái nón mới và thêm mỗi nhà một con ngan. Lệnh ông đã ban ra, cứ thế thực hiện. Năm mâm cỗ, trong họ ba mâm, hai mâm mời làng xóm thân cận, thế là xong.

Mọi chuyện đến với anh Khùng và Cúc quá nhanh, hạnh phúc này như một giấc mơ mà cả hai người không ai lường trước. Sau đám cưới ba ngày, anh Khùng băn khoăn không biết về đâu để làm lễ tạ ơn lạy mặt bố mẹ vợ. Nghĩ mãi rồi hai người quyết định  đến nhà ông chú anh. Hai người chắp tay lạy ông mà nước mắt cả ba người cứ lăn dài. Đêm hôm đó, làng lại được nghe giọng ru mượt mà của Cúc “À…ơi… đêm qua tát nước  sau đình, bỏ quên cái áo trên cành hoa sen… Em có được thì cho anh xin, hay là em để làm tin trong nhà…” …”.

VIÊN LAN ANH

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.