Lũ trên rừng dữ hơn gió độc/ nhà đổ, người trôi, núi rách toạc lưng/ tiếng gọi “mẹ ơi!” chìm vào nước xiết…

Trận mưa đêm định mệnh
Quãng mười giờ đêm, phía bên kia bờ suối, bản Lý đã chìm vào giấc ngủ. Mưa, những cơn mưa cuối tháng bảy bao giờ cũng lớn, nhất là trong đêm tối. Những hạt nước đập vào ngọn cây, mái cọ, rơi xuống vườn, ao…, lúc đầu thì đồm độp, rồi rào rào như thác nước, càng gần sáng, càng to. Những tia sét xanh lè, rợn người giáng xuống đỉnh núi, khiến những đứa trẻ giật mình nhắm tịt mắt. Những tiếng sấm rung chuyển sàn nhà, làm cụ già giật mình hoảng sợ. Những âm thanh man dại, từ trên rừng dội xuống bản Lý trong đêm. Tất cả như dàn đồng ca hỗn độn của đất trời, trong cơn say mưa gió. Và tiếng réo rợn người của con suối Lý, như đàn thuồng luồng dưới âm phủ bị sổng lên trần gian, được dịp quậy phá.
Trong lúc nguy cấp ấy, những tiếng vợ gọi chồng, cha gọi con, ông bà gọi cháu, nhà nọ gọi nhà kia…, hoảng hốt đến lạc giọng. Tiếng lợn kêu, bò rống, tiếng người thất thanh, hỗn loạn. Gió vẫn rít liên hồi, tiếng cành cây răng rắc. Nước suối dâng cao, ngầu lên màu bùn đất, nó cuốn theo từng đám rác rừng và cây cối. Chưa ai thấy mưa to, rừng hú, suối kêu như thế bao giờ. Chỉ một lúc, bản Lý đang yên bình, bỗng tan hoang vì lũ suối và đất rừng vùi lấp.
Đến sáng, khi ngoài tỉnh nhận được tin dữ, chúng tôi nhận nhiệm vụ vào ngay vùng lũ để ứng cứu người dân. Trên đường, qua chiếc radio chúng tôi mới rõ “từ đêm mười tám, đến rạng sáng ngày mười chín tháng bảy, năm hai nghìn không trăm linh tư, mưa lớn đã gây ra lũ quét, lũ ống tại các thôn Thẩm Lu, Phia Rịa, Bản Lý, Bản Lè, Phìn Tỷ thuộc các xã Du Tiến, Du Già, Ngọc Long, Lũng Hồ của huyện Yên Minh và xã Phố Cáo của huyện Đồng Văn. Lũ cũng gây lụt lội tại một số địa bàn của huyện Vị Xuyên, Bắc Quang, làm ách tắc tuyến đường Quốc lộ 2, 4C và một số tỉnh lộ”. Cả xe im lặng, chỉ có tiếng thở dài, vì tất cả đều biết, thiên tai ở vùng miền núi luôn gây ra những thiệt hại đau lòng.
Đến Uỷ ban xã Minh Ngọc, anh trưởng đoàn Phạm Hồng Thu – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp – vào nắm tình hình đường sá rồi vội vã ra xe “cứ đi, chỗ nào tắc thì cuốc bộ”, anh giục giã. Chỉ ba mươi cây số, nhưng tuyến đường đất dẫn vào xã Du Già phải vượt qua nhiều đèo dốc. Khi gặp khối đất đá chắn ngang mặt đường, chúng tôi xuống xe, tiếp tục bám theo con đường lổng chổng đá, đi trong mưa giữa núi rừng ào ạt. Đói thì có lương khô, khát thì hứng nước từ kẽ đá “như thời chiến ấy nhỉ!”, tôi buột miệng. Anh Bùi Đình Đoàn – Phó Giám đốc Trung tâm nước sạch quay sang bảo “lúc nào con người chả chiến đấu với thiên nhiên”. Cuối chiều, chúng tôi qua Du Già rồi vào ngay tâm lũ. Trên đường đi, vết lũ hằn lên dọc hai bờ suối Lý.
Đau thương nơi rốn lũ
Trời vẫn mưa, con suối rộng như sông Lô ở ngoài thành phố, đỏ đục bùn đất ào ào chảy. Vào đến xã Du Tiến, chỉ vài câu trao đổi về những việc cần kíp phải xử trí, anh Nguyễn Minh Tiến – Bí thư huyện ủy Yên Minh lúc ấy – đưa chúng tôi đến điểm trường nghỉ tạm. Đó là mấy phòng học nằm trên sườn đất thoai thoải, ngay trên dòng suối dữ. Gần đó là mấy chiếc nhà bạt màu xanh rằn ri của quân đội, đã được dựng lên ngay ngắn, chính giữa là nhà chỉ huy tiền phương. Tất cả đều tất bật với những công việc của mình. Chỗ này là đội thông tin liên lạc, đang lắp dựng chảo thu phát sóng.

Phía trên là đội công binh đang kéo dây để làm đường sang bên kia suối. Bên dưới là đội cứu nạn cùng dân quân xã đi dọc theo bờ suối để tìm người bị thương, mất tích. Gần nhất là đội hậu cần, họ căng tấm bạt lớn như chiếc chảo vuông, để thu nước mưa ăn uống. Họ phải đếm số lượng từng người, từng nhà, đang trú tạm quanh đó để biết ai còn, ai mất. Rồi đưa những người bị thương đi chữa trị. “Bản Lý kia” anh dân quân chỉ tay về phía chân núi. Trong màn nước trắng mờ, tôi nhìn sang bên kia bờ suối, một mảng núi màu đỏ đất sạt xuống, như chiếc chổi rơm khổng lồ đổ dài xuống dưới, nhà cửa, cây cối, đất đá ngổn ngang, hỗn độn. Buổi tối, các đoàn tập hợp ở trại chỉ huy để nghe tình hình sau một ngày cật lực đào đất, tìm người mất tích.
Ai cũng quặn thắt khi biết tin, ở xóm Nà Hên, xã Du Già, nhà ông Thào Xé Páo bị nước cuốn, đất sập xuống nhà, làm sáu người chết, bốn người thương nặng. Đội cứu hộ đã vượt qua những đoạn dốc trơn trượt, những đoạn đường sình lầy ngập đầy bùn đất. Đến nơi, họ chỉ thấy gò đất đầy bùn đất, lổn nhổn những hòn đá nhỏ to hỗn độn bị cuốn từ trên núi xuống. Bên sườn đồi là thi thể của cụ già và ba đứa trẻ xếp cạnh nhau trong căn lều dựng vội – đợi người đến mang chôn. Đau lòng hơn, có hai xác phụ nữ mang thai phải nằm dưới trời mưa, được phủ tạm bằng mảnh nylon trắng đục. Bên trong bản Lý, ông Nguyễn Văn Xuyến – Chủ tịch Uỷ ban xã – đứng trân trối bên những thi thể người dân của bản mình. Chỉ có những tiếng nấc nghẹn ngào và những dòng nước mắt nóng hổi, hoà cùng mưa rơi lạnh lẽo, trong tiếng suối ầm ào dửng dưng, vô cảm. Không biết núi rừng đang thở than ân hận, hay vẫn say sưa trong cơn cáu bẳn. Những người còn may mắn sống sót, cũng chết lặng bên thân xác những người ruột thịt, mà chỉ mới đêm qua, họ vẫn đang sum vầy trong mái nhà đầm ấm. Và tất cả lặng im khi biết “cả gia đình chín người, chỉ còn lại cậu bé mười bốn tuổi”, khiến khuôn mặt rắn rỏi nhất, cũng nhoà trong thương xót.
Tôi theo đoàn cứu trợ đội mưa đến thăm những người dân bản Lý, đang trú nhờ quanh xã. Khi vào thăm mẹ con chị Nguyễn Thị Đướng, đang ngồi trên chiếc sàn tre, trong cái chuồng trâu vừa sửa lại. Người đàn bà run rẩy, hai tay ôm chặt đứa con trai bé bỏng của mình, trong chiếc chăn mỏng mảnh. Tôi cố nghe những lời chị kể – dù nhiều lần đứt quãng – trong cơn nấc nghẹn “càng gần sáng, mưa càng to, ngoài suối nước chảy ầm ầm, không ai dám ngủ, lúc ấy nhà chỉ có hai ông bà nội của chồng. Vợ chồng chị cùng ba đứa con, đứa gái lớn sáu tuổi, con em lên bốn tuổi và thằng bé hai tuổi chị địu trên lưng, lo lắng, thấp thỏm trên sàn nhà. Lúc ấy, trời cũng tờ mờ sáng, bỗng có tiếng ầm ầm từ dãy núi phía sau, nhà sàn rung lên rồi sập xuống. Bà cụ bị xà nhà đè xuống vỡ đầu, ông cụ và chồng chị bị trôi ra ngoài suối, bốn mẹ con chị bị sàn gỗ ập lên người. Trên lưng, thằng bé khóc lặng. Trong ánh chớp, chị gắng gượng đứng dậy, cố bẻ gãy mấy tấm ván sàn và lôi được hai đứa con gái của mình đứng dậy. Hai tay chị dắt hai đứa con gái vừa lội ra khỏi căn nhà bị sập. Đúng lúc ấy, một đợt nước to hơn lần trước ập xuống, bùn đất trùm lên mọi thứ. Chị ngã sấp xuống, đôi tay vẫn cố giữ lấy hai bàn tay bé nhỏ của hai đứa con gái. “Mẹ ơi..!”, chị nghe thấy tiếng đứa gái lớn thét lên. Rồi tất cả chìm trong dòng nước tối om, hung tợn.
Cái gì đó buồn buồn ở gáy, chị cố mở mắt, nhưng lại thiếp đi. Cảm giác đó lặp lại không biết mấy lần, nhưng lần này chị đã mở được mắt. Chị nhận ra một bàn tay bé xíu cào nhẹ vào cổ gáy mình. Bỗng nhiên một sức mạnh nào đó – lớn hơn cả lũ suối đêm qua – đã làm chị tỉnh lại. “Con mình vẫn sống?”, chị nghĩ, rồi lập tức nhớ đến tiếng gọi và hai bàn tay của hai đứa con gái. Hoảng hốt nhìn xuống đôi tay. Nó trống rỗng. Chị gượng dậy nhìn ra xung quanh. Không thấy gì quen thuộc. Chị gắng sức cởi chiếc địu ra, thằng bé vẫn thở. May sao, hai mẹ con chị đã mắc vào rễ của một gốc cây to, bên bờ suối. Trên người chị, bộ quần áo bị xé toạc nhiều chỗ, lộ ra những vết bầm dập, đau đớn. Chị ôm con cố bò lên bờ đất rồi thiếp đi. Sáng hôm ấy, người làng đã tìm thấy hai mẹ con chị và đưa vào Trạm y tế. Lúc tỉnh lại chị thấy, quai địu chỉ còn lại cái viền “nếu nó đứt, mình sẽ theo dòng suối cùng các con”. Những ngày sau, chị và những người trong bản cứ thắc thỏm, ngóng đợi tin báo từ Uỷ ban xã. “Có ai đó cứu được!”, chị hy vọng. “Nó sẽ tìm đường về!” chị nghĩ và chờ đợi.
Cuối cùng, những con số lạnh lùng, tàn nhẫn đã dừng lại “Bốn mươi bốn người chết và mất tích, mười ba người bị thương, gần hai mươi căn nhà bị cuốn trôi, sập đổ. Hàng trăm con trâu, bò và hàng ngàn gia cầm bị dòng nước cuốn mất, hàng trăm héc ta hoa màu bị đất đá lấp vùi đến xoá sổ”. Trò chơi mưa gió của đất trời rồi cũng chấm dứt, nhưng bao nhiêu ngôi nhà ấm cúng, cùng những người con hiền lành, ngây thơ, vô tội đã tan hoang, trôi theo dòng suối đục. Trước mắt chúng tôi là bãi đất hoang tàn, trải dài theo con suối lổng chổng đá, ngỡ như nơi đây vừa mới được phát hiện. Nhìn những thân cây cổ thụ vạm vỡ, tênh hênh giơ chùm rễ lên trời mới thấy, dù có đến hàng trăm chiếc rễ dài chắc khoẻ, cắm sâu, bám chặt vào đất đá, cùng hàng ngàn sợi rễ tơ mềm mại, đã hút vào thân mình những hạt sương mát lạnh, như không có sức mạnh nào quật đổ. Vậy mà nó đã bị lôi tuột ra khỏi núi rừng xanh thẳm.
Lần đầu tiên, người dân ở đây mới thấy cơn giận dữ của đất trời. “Phải tìm nước sạch về!”, anh trưởng đoàn giao nhiệm vụ cho chúng tôi. Hai người dân quân xã mau chóng dẫn anh em tôi đi tìm nguồn nước. Lần theo thung lũng hẹp, chúng tôi trèo lên gần đỉnh núi và thấy một dòng nước chảy ra từ kẽ đá. “May rồi!” tôi reo lên vui sướng. Nhưng nỗi lo lại ập đến “lấy về bằng cách nào?”, vì mỏ nước cách nơi hạ trại hơn một cây số, qua thung lũng rậm rạp. Anh dân quân đưa ra ý kiến “lấy ống lần dẫn nước”, anh Đoàn nói nhát gừng “mất cả tuần, dễ bị gãy đổ”. Quả thật, để lấy nước bằng ống lần từ đỉnh núi xuống, phải mất nhiều chân chống, do địa hình cheo leo. “Dùng ống nhựa mới được”, tối hôm ấy, anh Đoàn đề đạt với Ban chỉ huy tiền phương. Những ngày sau đó, lực lượng cứu hộ, cứu trợ từ các nơi tập trung vào vùng lũ để giúp đỡ người dân, lúc cao điểm lên đến vài trăm người. Lúc ấy, nước dùng để ăn uống phải đi vào khe núi cõng về. Khổ nhất là anh em bộ đội đi tìm kiếm những người mất tích, họ đi từ sáng sớm, đến chiều tối mới quay về trại. Ai nấy đều lấm lem bùn đất, từ đầu đến chân. Muốn tắm giặt, mọi người phải tìm đến những thửa ruộng bậc thang quanh đó. Thật may, chỉ ít ngày sau, ngoài tỉnh đã chuyển các cuộn ống nhựa vào vùng lũ. Chúng tôi cùng những người dân của bản đã xuyên rừng, vượt dốc đưa nước về tận nơi hạ trại – đó là dòng nước mát ngọt nhất mà tôi được thưởng thức.
Sau cơn lũ là hàng ngàn công việc chất chồng, nào là dọn cây cối gãy đổ, san đất, bốc đá mở đường và chôn lấp những con gia súc, gia cầm đã trương mùi xác. Từng tốp chiến sĩ thay nhau sang bên bản Lý, họ thu nhặt những gì còn lại, để dựng lên những căn nhà tạm, lấy chỗ trú ngụ cho những gia đình bị mất hết nhà cửa. Tất cả đều dồn sức trong cuộc đua vội vã. Chúng tôi ở đó gần mười ngày, rồi trở về ngoài tỉnh. Mấy tháng sau, đơn vị và tôi được Uỷ ban tỉnh trao tặng bằng khen, biểu dương về thành tích ấy. Sau này, tôi chuyển về quê nhà làm việc và cũng được vài lần khen thưởng. Với tôi, tấm bằng khen do bác Đỗ Trọng Quý trao tặng, là kỷ vật vô giá, trong những tháng năm trên mảnh đất Hà Giang yêu dấu. Và, tôi luôn gìn giữ món quà thiêng liêng ấy, trong trái tim của mình.

Hai mươi mốt năm ngày trở lại
Con đường đất từ ngã ba Minh Ngọc vào Du Già năm xưa, nay đã được trải nhựa đến hai phần ba quãng đường, dù vẫn lắm cua, nhiều dốc, nhưng lại ẩn chứa nhiều điều thú vị, nhất là khi ngang qua Vườn Quốc gia Du Già xanh thẳm. Tôi không nhận ra thôn Cốc Pảng của xã Du Già năm xưa, bởi có nhiều ngôi nhà với kiểu dáng tân cổ điệu đà, mọc ở khắp mọi nơi. Anh bạn Đinh Công Thuỷ thích thú, chĩa ống kính máy ảnh ra tứ phía và liên hồi “loạch xoạch”. Hai chúng tôi đi một vòng quanh thôn rồi vào một khách sạn, có nhà hàng và mấy chòi cà phê ngay bên suối Du Già, từ trên thác Ba Tiên chảy về, trong vắt.
Tôi khá bất ngờ khi thấy, trong khách sạn có rất nhiều người khách nước ngoài, với đủ mọi màu da, kiểu tóc. Anh Hải – người Hà Nội – lên đây làm du lịch đã tám năm, khi biết tôi muốn tìm lại những người ở bản Lý năm xưa, anh gật đầu “biết đấy”, rồi gọi điện. Dưới giàn hoa giấy, những tốp du khách “Tây” hồn nhiên, vui vẻ chuyện trò. Tôi tò mò và nể phục những chàng trai người Mông, vừa nói, vừa chỉ vào tuyến đường đi lên núi – bằng tiếng nước nước ngoài. “Hùng đấy”, anh Hải chỉ vào người đàn ông vừa đến. Khi nghe tôi kể chuyện đã gặp chị Đướng và nhờ anh tìm giúp. Anh Hùng nhìn tôi nói “em gái mình” và dẫn tôi đến nhà. Tôi vội vã trả tiền nước uống, nhưng anh Hải xua tay “mời anh em!”. ‘Ơ kìa!”, tôi sửng sốt, sợ mình nói gì đó mếch lòng. Anh Hải cười chân thật “quý nhau thôi!”. Thấy tôi cương quyết “không được!”, anh miễn cưỡng lấy, đủ để tôi bớt áy náy. Đinh Công Thuỷ nhìn chúng tôi cầm tay nhau đẩy đi, đẩy lại, anh bấm nhẹ vào vai tôi nói khẽ “lòng trắc ẩn đâu chỉ có trong văn chương, nghệ thuật”. Tôi chợt hiểu, người ta tìm đến đây để được tan ra trong mây núi, buông mình vào dòng suối hồn nhiên, trong trẻo giữa núi rừng xa thẳm.
“Nhà em vào bản Lý”, anh Nam – chồng chị Đướng – vồn vã mời chúng tôi vào nhà uống nước. Đợi một lúc lâu chưa thấy em gái về, anh Hùng dặn “cô về sang ngay nhà cháu Chiến!” rồi đưa chúng tôi đến chỗ nghỉ. Đến nơi, tôi bất ngờ với mấy căn homesay hiện đại, nhưng gần gũi với những ngôi nhà sàn lâu đời ở quanh thôn Cốc Pảng. Khi ôn lại chuyện cũ, anh Hùng giọng trầm xuống “chả muốn nhớ đến làm gì, vì nó quá ám ảnh”. Anh xa xăm, sau lũ, tài sản của vợ chồng anh chỉ còn lại hai con trâu “may nó chạy lên nương!”, anh ngước về dãy núi. Anh bán cặp trâu và đổi lấy mảnh đất nhỏ ở gần chợ. Nhờ mọi người giúp sức, vợ chồng anh sớm tối với cửa hàng và cần cù với nghề nông của mình. Cứ thế, cuộc sống cũng dần ổn định. “Mấy năm nay, khách Tây đến du lịch đông lắm!”, anh cười vui. Rồi gia đình anh mở thêm quán ăn và mua đất làm nhà nghỉ. “Anh Hải cũng giúp dân làm homestay!”, nói rồi, anh đưa chúng tôi đi xem mấy căn nhà quanh thôn. Nhà nào cũng được bài trí gọn gàng, xinh xắn và hiện đại.
Tôi nhận ngay ra chị Đướng, khi vừa bước vào sân – dù chị không nhớ tôi là ai. Chị “à” lên, khi tôi nhắc đến sàn tre – trong cái chuồng trâu cũ – vào những ngày mưa lũ năm xưa. “Phải ở nhờ cũng lâu”, chị nhớ lại, mất mấy năm sau mới có đất dựng nhà, cách bản cũ mấy cây. “Vẫn thấy suối, nhưng cao hơn!” chị nói vẻ yên tâm. Mấy năm gần đây, nhờ anh em gia đình giúp đỡ, chị chuyển ra gần nhà anh Hùng, để mở quán bán hàng. “Muốn ở gần chợ, biết đâu..!”, chị vẫn hy vọng. “À, thằng bé chắc lớn rồi nhỉ?”, tôi vội hỏi. “Lấy vợ, có con, ở riêng rồi bác ạ!”, chị cười vui. “Hỏi lần nữa thì cháu cũng thành ông”, Thuỷ rung vai cười hình hịch. Tôi cũng cười, với niềm vui chứa chan, tràn đầy lóng lánh. Ừ nhỉ, đã hai mươi mấy năm rồi còn gì. Anh Hùng nhiệt thành mời chúng tôi nghỉ lại “đêm Cốc Pảng vui lắm!”, anh cười sảng khoái. Trong bữa cơm tối, Đinh Công Thuỷ nói với mọi người “cũng thấy lạ, mọi thứ cứ dễ dàng như có ai mách bảo!”. Và tôi cũng thấy tất cả đều trơn chu, như mảnh ghép cuối cùng trong bức tranh ký ức.
Sớm hôm sau, anh Hùng đưa tôi vào bản Lý, bên đường, vẫn là dòng suối Lý hiền hoà, uốn lượn dưới chân núi, như chưa từng giận dữ thét gào. Tôi nhìn sang bản cũ, chỉ thấy màu xanh của cây rừng tươi tốt, che đi vết sẹo năm nào. Trên cây cầu bắc ngang con suối, tôi nói với anh Hùng “những người đã hoà vào dòng suối, sẽ ra sông, về biển, như bao người theo sông Hằng về với đại dương mát dịu!”. Vô cùng cảm phục những người con của bản Lý năm xưa và những người sinh sống trên mảnh đất Du Già hôm nay, dù khó khăn, khấp khểnh, gập ghềnh của miền đá núi, nhưng họ vẫn vui tươi, hạnh phúc trên quê hương yêu dấu của mình.
Lúc chia tay tôi lại phải giảng hoà, khi anh bạn nhà thơ cố dúi vào túi áo của cậu chủ nhà homestay Chiến Lodge – con trai của anh Hùng – với giọng giận dỗi “không lấy, lần sau không đến nữa!”. Ngồi trên xe, Đinh Công Thuỷ nói trong tiếc nuối “nếu còn trẻ, tôi sẽ ở Du Già”. Chắc hẳn, ai đến đây cũng yêu quý mảnh đất luôn ấm áp tình người và tràn đầy những sắc màu kỳ diệu.
Du Già, tháng 7.2025
LÊ THU

















