Tây Bắc từ lâu được biết đến như một hành trình chất chứa nhiều cảm xúc. Giữa miền đất của núi non trùng điệp, mây trời lộng gió, những cung đường uốn lượn quanh sườn núi trở thành điểm nhấn làm nên vẻ hùng vĩ, kỳ ảo của núi rừng. Và trong số những cung đường đèo hiểm trở bậc nhất nơi đây, đèo Ô Quy Hồ luôn được nhắc đến như biểu tượng của vẻ đẹp hoang sơ, hùng vĩ và đầy thách thức của vùng Tây Bắc.
Nằm trên quốc lộ 4D, nối liền Lào Cai và Lai Châu, đèo Ô Quy Hồ còn gọi là đèo Hoàng Liên (đèo còn có tên địa phương là Cổng Trời). Với độ dài hơn 50 km, độ cao gần 2km so với mực nước biển, đây là một trong những cung đường đèo dài, hiểm trở và hùng vĩ bậc nhất ở miền núi phía Bắc Việt Nam, được mệnh danh là một trong “tứ đại đỉnh đèo” với một bên là vực sâu hun hút, nơi mà vẻ hùng vĩ của đất trời và sự kỳ diệu của thiên nhiên hòa quyện tạo nên một bức tranh ngoạn mục.

Đèo Ô Quy Hồ cùng với đèo Pha Đin giáp ranh với Sơn La, Điện Biên, đèo Mã Pí Lèng ở Hà Giang cũ, và đèo Khau Phạ ở Yên Bái cũ, tạo nên Tứ đại đỉnh đèo. Hiện nay, Đèo Ô Quy Hồ được công nhận là đèo dài nhất Việt Nam.
Chuyến đi miền núi phía Bắc vào lúc chớm thu của mình giống như một hành trình đi qua những thước phim sống động của đất trời và lòng người. Con đường hiểm trở, ngoằn ngoèo, sâu hun hút uốn éo như dải lụa ôm lấy sườn núi, dốc và vực thẳm bao quanh giữa mây trời bồng bềnh mở ra một không gian hùng vĩ mà dịu dàng. Mỗi khúc cua tay áo là một bức tranh khác nhau: thửa ruộng bậc thang vàng óng mùa lúa chín, bản làng nhỏ ẩn hiện dưới tán rừng xanh, những dòng suối mát lành róc rách như lời thì thầm của thiên nhiên.
Đứng lặng trên đỉnh đèo, nơi mây trời và núi rừng giao hòa cảm giác tâm hồn như được làm mới lại, những dãy núi xạnh ngát chạy từ thung lũng sâu vọt lên chất ngất tận đỉnh trời mở ra cánh cổng thiên đường. Cái se lạnh của gió núi khẽ chạm vào da thịt, len lỏi vào từng hơi thở mang theo sự tinh khiết của thiên nhiên xua tan mọi muộn phiền cuộc sống, bao lo toan, bộn bề, những ganh ghét, đố kỵ, hay bực dọc vụn vặt đời thường dường như đều tan biến vào biển mây bồng bềnh phía xa. Chỉ còn lại một khoảng lặng bình yên, một tâm hồn thuần hậu tràn đầy năng lượng và khát vọng.
Ô Quy Hồ không chỉ nổi tiếng bởi khung cảnh hùng vĩ mà còn được thêu dệt bằng những truyền thuyết dân gian đậm màu huyền bí. Người ta kể tên gọi “Ô Quy Hồ” bắt nguồn từ tiếng kêu da diết của loài chim Ô Quy Hồ, như tiếng gọi của một mối tình dang dở.

Chuyện kể lại rằng: Ngày xưa, ở vùng núi Hoàng Liên Sơn hoang sơ, có một chàng trai người dân tộc H’Mông nghèo khó hiền lành, tên là Ô Quy Hồ. Anh đem lòng yêu một cô gái xinh đẹp con nhà giàu trong vùng. Hai người thường hẹn nhau bên sườn núi, nơi mây mù giăng kín, chim muông ríu rít. Nhưng gia đình cô gái phản đối kịch liệt vì cho rằng chàng trai nghèo không “môn đăng hộ đối”. Bị chia cắt, cô gái buồn thương đến bệnh nặng, rồi qua đời, còn chàng trai mỗi ngày leo lên đỉnh núi gọi tên người yêu trong vô vọng. Nỗi đau ấy hóa thành tiếng kêu bi thương “Ô Quy Hồ… Ô Quy Hồ…” vang vọng khắp núi rừng như nhớ về mối tình dang dở. Tiếng kêu đó chính là tiếng của loài chim cùng tên, loài chim Ô Quy Hồ (một số tư liệu cho rằng đó là loài gà lôi hay loài chim đặc hữu của vùng Hoàng Liên Sơn).
Về sau, con đường vượt dãy Hoàng Liên được mở ra, băng qua vùng núi mây phủ này. Người dân đặt tên đèo là Ô Quy Hồ để tưởng nhớ câu chuyện tình buồn và để tiếng chim bi ai ấy mãi còn vang vọng trong ký ức.
Truyền thuyết ấy nhẹ nhàng hòa quyện trong sương khói bồng bềnh và những dãy núi non trùng điệp làm cho khung cảnh nơi đây càng thêm huyền ảo, mỗi cơn gió thoảng qua đều mang trong mình chút thương tiếc, dở dang của câu chuyện tình.
Giữa đất trời mênh mông, lắng nghe tiếng gió hú qua vách đá, lòng mình chợt lắng lại bởi vẻ đẹp của thiên nhiên, của những mạch cảm xúc sâu xa mà câu chuyện tình của đôi trai gái đã gửi gắm nơi đèo cao. Chính điều đó đã khiến đèo Ô Quy Hồ không chỉ là một thắng cảnh mà còn là biểu tượng của những khát vọng, của tình yêu tha thiết và cả nỗi hoài niệm của con người miền núi.

Đi qua những bản làng, tiếng cười trẻ con trong veo vang lên bên hiên nhà gỗ, đôi chân trần bé xíu chạy trên đường mòn đất đỏ, ánh mắt long lanh như bầu trời vùng cao. Nụ cười thân thiện của bà cụ bán ngô nướng bên vệ đường, những người phụ nữ dân tộc Mông ngồi thêu bên hiên nhà chăm chỉ, miệt mài với những tấm thổ cẩm rực rỡ, góp phần tạo thêm việc làm, thu nhập, cải thiện đời sống cho đồng bào. Ở đó, sự chân thành và mộc mạc của con người miền núi như xua tan mọi khoảng cách. Họ là những người góp phần gìn giữ, lưu truyền các giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc. Thông qua đó giáo dục thế hệ trẻ biết trân trọng và tiếp nối dòng chảy truyền thống quý báu của cha ông trong đời sống hôm nay và mai sau. Nghề thêu đang được các địa phương bảo tồn với mong muốn phát triển thành sản phẩm hàng hóa, là điểm nhấn trong hoạt động du lịch cộng đồng.
Chuyến đi miền núi phía Bắc là một cuộc hành trình đưa ta thoát khỏi những nhịp sống hối hả để chạm vào sự mênh mang của núi rừng, của tình người, khiến ta hiểu được đôi khi, hạnh phúc giản đơn là được hòa mình vào thiên nhiên và con người một cách chân thành. Chuyến đi này, với mình không chỉ để ngắm cảnh đẹp hay ghi lại những bức hình lung linh mà còn để cảm nhận sâu sắc hơn về cuộc sống, về sức mạnh bền bỉ của con người trước thiên nhiên khắc nghiệt, về những giá trị văn hóa mà đồng bào nơi đây đã lưu truyền qua bao thế hệ để hôm nay ta còn được nhìn thấy vẻ đẹp nguyên sơ ấy.
Chuyến đi là hành trình tìm lại chính mình, nó mang đến cảm giác tự do khi đứng giữa thiên nhiên bao la, sự xúc động khi nhận ra vẻ đẹp giản dị của cuộc sống, và cả niềm biết ơn khi thấy mình may mắn được trải qua với những người anh, người bạn, người em đồng hành yêu mến…. Nhìn lại cung đường vừa trải qua bất chợt cảm thấy rùng mình nhưng đầy thích thú. Tất cả những cung bậc cảm xúc ấy, sẽ luôn ở lại trong trái tim như một miền ký ức trong trẻo, đầy yêu thương.
GIANG THANH BÌNH

















