Gã Phục điên từ bao giờ?

VHSG- Nhân kỷ niệm 4 năm ngày nhà văn Nguyễn Khắc Phục rời cõi tạm 20.5.2016 – 20.5.2020, VHSG xin trân trọng giới thiệu bài viết rất hay và xúc động về ông của người bạn thân là nhà văn, nhà phê bình, dịch giả Tô Hoàng khi cùng du học ở Nga. Không chỉ thể hiện chân dung đầy tiết tháo và tài năng, tiên cảm của kẻ sĩ Nguyễn Khắc Phục mà bài viết còn tái hiện bức tranh đau xót một thời của đất nước và những du học sinh…

Nhà văn Nguyễn Khắc Phục

1- Tôi viết những dòng này không nhắm “rủa” ông bạn vàng của tôi – nhà văn Nguyễn Khắc Phục. Cũng không nhắm biện minh cho những gì anh đã và đang nói; đã và đang làm hôm nay. Tôi kể lại câu chuyện xẩy ra với anh cách đây đã 30 chục năm mà tôi là một chứng nhân. Trước hết bởi một nỗi day dứt lâu nay thường ám ảnh tôi: Mình biết một sự thật về Phục mà khoảng chục năm trước không thể kể, không thể viết, bây giờ được “tháo cũi sổ lồng“, sao mình không kể đi? Nếu bỗng dưng một ngày nào đó ông bạn nhiều bệnh họan, hay nghĩ ngợi, thích dâng hiến đến kiệt cùng sức lực này “đốc chứng” muốn đi theo đám bạn bè Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh, Nguyễn Lâm, Nghiêm Đa Văn, Tường Vân, Phạm Tiến Duật, Lý Biên Cương…? Tôi viết còn vì một thôi thúc nữa: Sao thiên hạ bây giờ nhiều người mắc phải căn bệnh “quay quắt” khốn khổ đến như vậy? Họ đang cố thanh minh thanh nga rằng họ sáng suốt, họ rạch ròi đã từ rất lâu; họ đã biết xua tay không hề tham dự vào công việc này, sự kiện nọ; họ bị bắt buộc, bị thúc ép, họ không mù quáng, cuồng tín đâu, nhưng họ đơn chiếc, lẻ loi, mà đã là số ít họ “đành” phải theo số đông…

Tôi sẽ kể lại chuyến đi Liên Xô học đạo diễn điện ảnh VGIK của Phục vào mùa hè năm 1980.

Có người nói, anh sang Moskva không học nổi nghề này nên “bị đuổi” về nước. Có người nói anh ở nước Nga đâu đó một năm rồi mới về Việt Nam. Có người khẳng định anh chỉ ở Moskva chừng 2 tháng. Lại có người vắn gọn: Gã ấy làm sao sống nổi ở nơi ấy thì bỏ về thôi…

Tôi là người bạn đồng hành lớn tuổi duy nhất cùng sang Moskva với Phục chuyến ấy, tôi cũng không rõ nguyên do nếp tẻ ra sao. Thành thử nghe gì, thấy gì cứ kể lại để bạn hữu, đồng nghiệp của anh biết cho vui thôi…

Phục lưu lại Moskva chừng hơn tháng.

Nhớ trước hôm ra sân bay về nước đâu đó hai, ba ngày, Phục mở toang cái vali và gọi bạn bè tới:

“Các cậu muốn gửi cho bố mẹ, vợ con phim ảnh, đồng hồ báo thức, sâm nước… (những mặt hàng dạo đó về Việt Nam bán chạy, lời lãi khá cao) cứ ném ráo vào đây, tớ sẽ chuyển giùm cho. Nhưng làm chứng giúp tớ một điều: Tớ sang Nga và quay về ngay như thế này không phải để đánh quả đâu nhé!”

Ngược thời gian, cách đó chừng ba tuần, tôi theo Phục lên Sứ quán Việt Nam tại Liên Xô. Một gã quan chức mặt bự thịt, mắt ti hí gian giảo vừa nhìn thấy Phục đã cao giọng phủ đầu: “Anh thừa biết, bao nhiêu người mơ ước mà không được sang đây. Còn Nhà nước bỏ tiền mua vé máy bay, chi tiền cho anh ăn học ở đây 5 năm nữa, bỗng dưng anh nằng nặc đòi về lại VN nà nà, nàm sao? Anh dám phung phí từng ấy tiền bạc của Nhà nước a?”.

Gã quan chức “Sứ” thao thao, hùng hổ đến tóat cả mồ hôi trán. Phục im lặng, cười cười. Chờ cho gã kia đã thấm mệt, Phục hỏi: “Thưa, ông đã nói hết chưa?”. Gã kia chán: “Hết rồi!”. Phục: “Bây giờ tôi xin phép được hỏi lại ông. Đúng là Nhà nước đã tốn từng ấy tiền mua vé máy bay cho tôi. Nhưng sang tới đây tôi tự thấy mình sẽ không học tiếp nổi. Vậy xin hỏi ông,  Nhà nước có nên tiếp tục tốn tiền để cho một thằng như tôi ở lại đây thêm 5 năm nữa, hay nên cho tôi về nước để giảm bớt chi phí ăn học của tôi 5 năm tới?”. Lẽ đương nhiên quan “Sứ” đuối lý đành ký xọet vào tờ đơn để Phục “hồi hương”!

Trước khi kể tiếp chuyện du ký ngắn ngày của Phục tại nước Nga, người kể chuyện xin được lược ghi tiểu sử trích ngang sáng tác của Phục –tính đến thời điểm đó:

Bạn văn chương cùng lứa tuổi chúng tôi hẳn còn nhớ, khoảng những năm 1966, 1967, 1968 các truyện ngắn của Đỗ Chu hầu như thống lĩnh văn đàn văn xuôi của những cây bút trẻ mới xuất hiện thời kỳ đầu chiến tranh chống Mỹ. Bất ngờ, trên tạp chí Văn nghệ Quân đội xuất hiện truyện ngắn “Hoa cúc biển” và ngay sau đó là “Ngã ba Vô Tình” của Phục. Vẫn là chất trong sáng, nhân hậu, đầy chất thơ như văn chương của Đỗ Chu, mà khác hẳn Đỗ Chu, mà tài năng ngang ngửa Đỗ Chu. Một cú mở đầu ngọan mục khiến thiên hạ lao xao ngơ ngác. Và Phục nhanh chóng gia nhập hàng ngũ cùng những Thi Hoàng, Hoàng Hưng, Vũ Quần Phương, Lưu Quang Vũ, Bằng Việt… Rồi Phục lên đường vào Chiến trường Khu V để không bao lâu sau có ngay trường ca “Ăn cốm giữa sân”, kịch “Vườn thầy Năm”. Vào năm 1977, 1978 anh có kịch bản văn học “Thành phố không bị chiếm” (Nhà xuất bản Tác Phẩm Mới – Hội Nhà văn đã in vở kịch này thành sách), đạo diễn Phạm Kỳ Nam dựng thành một bộ phim truyện nhựa dài 9 cuốn với tên mới “Tự thú trước bình minh”. Từ chiến tranh bước ra, 30 tuổi, gia tài văn chương như vậy đâu có phải là mỏng?

Chín tháng học tiếng Nga ở Thanh Xuân, Phục vui vẻ, hào hứng. Và thấy rõ, Phục cũng hào hứng với chuyến ra nước ngoài lần đầu. Sau tháng 4 năm 1975, Phục lang thang ở Sài Gòn, vùi đầu đọc đủ các lọai sách, tiếp xúc với đủ lọai người, làm quen và hưởng thụ nền văn minh Akai, Honda chừng hai năm. Anh tỏ ra “sành điệu” để “tân trang” cho tôi nào giày mũi quả táo, quần ống loe, áo chim cò thắt ngang lưng… những mốt thời thượng thuở ấy của Sài Gòn. Nhưng tôi đoan chắc rằng, Phục vẫn rất yêu, thậm chí sủng mộ Liên Xô và nền văn hóa Nga và Xô viết, như tất cả anh em thế hệ tôi. Chả thế mà, khi con trai tôi chào đời, nhờ Phục đặt tên giúp, anh đặt tên cháu là Tô Đoài Minh. Phục giải thích cho vợ chồng tôi hiểu “Đoài Minh tức Phương Tây sáng”. Cái Phương Tây ấy, ở thời điểm ấy, tôi đoan chắc đối với Phục tuyệt nhiên không phải, chưa phải là Pháp, là Nhật, là Mỹ như sự ngưỡng mộ của các bạn trẻ bây giờ.

Vậy sao Phục lưu lại ở Moskva chỉ hơn một tháng và nằng nặc đòi về?

2- Máy bay rời sân bay Nội Bài (hồi đó những bác thợ cày quanh vùng vẫn có thể ngang nhiên khoác áo tơi lá, thung thăng dắt trâu cắt qua đường băng) vào một chiều mùa hè mây giăng mù mịt, mưa rơi tầm tã. Mù mịt, tầm tã như thế qua đất Lào, Myamar. Và máy bay hạ thấp dộ cao, nghỉ tiếp dầu ở hai sân bay Kankusta (Ấn Độ), Karachi (Pakistan). Vào tới phòng đợi sân bay là chìm ngập trong những quầy hàng đủ lọai quần Jeal, áo Pul, rượu mạnh; là lần đầu nhìn thấy tivi mầu với các chương trình quảng cáo của Nhật, của Mỹ. Cái gì cũng mới, cũng lạ đến hoa cả mắt, chóng cả mặt. Phục tỏ ra sành sỏi giải thích cho chúng tôi mọi thứ. Thiếp ngủ chừng 7, 8 tiếng đồng hồ nữa, 3 giờ sáng xe chở chúng tôi vào thành phố Moskva. Ấn tượng đầu tiên – thành phố chỉ một màu điện đỏ vừa đủ soi tầm nhìn (sau này chúng tôi biết rằng, người Nga không khuyến khích vui chơi về đêm, cần ngủ sớm để tái sản xuất sức lao động, vì thế khỏang 9, 10 giờ tối nhà máy đèn được lệnh giảm công suất). Tuyệt nhiên không hề có những tấm biển nhấp nháy đèn đủ màu để quảng cáo hàng. Thỉnh thỏang lướt qua cửa xe là những khẩu hiệu thắp bằng bóng điện to đùng: “Liên Xô – trụ cột hòa bình”, “Vinh quang thay Đảng Cộng sản Liên xô”, “Nguyên tử dùng vào mục đích hòa bình”, “Lao động là vinh quang”… Chỉ những tấm biển khẩu hiệu ấy, Phục nói bên tai tôi: “Y hệt bên nước mình!”

Chúng tôi phải theo học 9 tháng tiếng Nga nữa tại Khoa dự bị tiếng, Đại học Lomonosov. Người ta giải thích, học nghề đạo diễn, tiếng Nga phải giỏi cả nghe lẫn nói. Đã học một năm tiếng Nga tại Trường Ngọai ngữ Thanh Xuân, Hà Nội. Lại thêm một năm ngọai ngữ nữa. Sau chiến tranh Phục đang ấp ủ bao nhiêu dự định cho tiểu thuyết, trường ca, kịch bản điện ảnh và sân khấu (như ta biết, sau khi ở Nga về, Phục lần lượt cho ra đời bộ ba tiểu thuyết “Học phí trả bằng máu” , “Đầu sóng”, “Thành phố đứng trước biển” và hàng chục vở kịch sân khấu…). Phải chăng, đây là lý do để Phục đòi trở về nước?

Phục theo học khóa tiếng Nga buổi đực buổi cái. Không cặp, không túi, cuốn vở tập nhét túi quần. Thời gian còn lại thường ngồi cà phê hút thuốc, đăm chiêu. Hoặc ra rạp xem phim để về giễu cợt, chê bai các phim công thức, giáo huấn của Điện ảnh Xô viết. Ở lớp dự bị tiếng, dù học để tăng cường khả năng nghe và nói tiếng Nga nhưng cũng đủ các môn như địa lý, lịch sử, văn chương, chính trị. Giáo trình phát cho sinh viên, Phục lật xem rất nhanh và phát hiện cũng rất nhanh: “Địa lý, sử sách, văn chương ráo trọi  đều nói về người Nga, nước Nga thôi. Không một dòng nào đả động đến văn hóa văn minh thế giới cả. Thế nghĩa là làm sao?” – Phục lưu ý chúng tôi. Ở Moskva đâu đó chừng ba tuần, Phục mua một tấm bản đồ thành phố Moskva về mở rộng trước mặt chúng tôi để có thêm một phát hiện nữa: “Người Nga tự hào coi Moskva là trung tâm văn hóa của nhân lọai. Các cậu xem này, đến ông Paven Coorsaghin, bà Doia Cosmedienskaia còn được đặt tên cho đường phố. Thế mà đố tìm ra một bức tượng, một dãy phố nào mang tên Cervantes, Shakespeare, Dicken, Hugo hay ông bà Curie?”.

Nhưng điều khiến Phục buồn bã, nghĩ ngợi nhiều hơn cả có lẽ là tình trạng “cứu đói khẩn cấp” – như mấy chữ Phục thích dùng dạo đó, của lưu học sinh, nghiên cứu sinh người mình ở Moskva. Sáng lên lớp, trưa ăn nguội ở búp-phê, ngay sau đó túi nải khoác vai, như một đàn kiến tha mồi, chúng tôi đã vội vã sục sạo các ngõ ngách Moskva để lùng hàng; hoặc tới các khách sạn có người quen từ Việt Nam sang để bán hộ hàng kiếm chút lời, nhờ vả để gửi hàng về cho người thân trong nước. Còn phải 3, 4 năm nữa người Việt lao động xuất khẩu mới sang bên này, nhưng việc mua bán, nhận hàng sang gửi hàng về nhà đã trở nên họat động sôi sục, năng động và thiết thực nhất của sinh viên, nghiên cứu sinh Việt Nam. Bởi một lẽ đơn giản: gửi về được tới Việt Nam cứ 5 cuốn phim “Svetma” Nga bán đi đã bằng một tháng lương, một chiếc bàn là Nga bằng 4, 5 tháng lương của cha mẹ, vợ con mình. Mà ở quê hương thì đang đói, đang thiếu đú mọi thứ. Từ mảnh vải hoa, chiếc xoong nhôm, cái phích đựng nước đến sợi mayso, cái kim khâu,  cục xà phòng đen, nắm bùi nhùi bằng thép để cọ bựa cơm trong nồi… Cái gì gửi được về Việt Nam cũng đều có giá, đều được cha mẹ, vợ con viết thư sang tỏ ý hỉ hả, mừng rỡ coi người chồng, đứa con như một người anh hùng, một bậc cứu tinh.

Những chàng lính, những cô thanh niên xung phong chúng tôi, thoát chết vì chiến tranh, vội vã lấy vợ lấy chồng, vội vã sinh con để nối nghiệp tổ tông, phải lao vào cuộc mưu sinh này còn là điều hợp lẽ. Đám trẻ hơn, mới 16, 17 tuổi vừa tốt nghiệp phổ thông, sang đến đây cũng đã biết bó mồm bó miệng, dành dụm từng đồng rúp học bổng để mua hàng Nga gửi về trợ giúp cha mẹ nuôi đàn em nhỏ. Mua chân gà, cẳng heo (những thứ ở cửa hàng bán từng ký người Nga mua về cho chó ăn) để nấu và đưa ra ngòai cửa sổ giá rét thành thịt đông ăn dần cả tuần với bắp cải luộc. Thay nhau nghỉ ở nhà, rắc gạo rủ chim bồ câu vào phòng, bắt chim để hầm để ninh, để bớt tiền mua thịt thà, bơ sữa… Chứng kiến các em các cháu như đàn kiến tụ vào, tỏa ra ở các cửa hàng cửa hiệu để kiếm một lọai kháng sinh, chiếc đồng hồ báo thức gửi về cho cha mẹ, nghĩ mà tội nghiệp. Đàn chú, đàn anh đã không biết tới tuổi thanh xuân vì bị cuốn vào cuộc chiến; chả lẽ đến lượt các em, các cháu cũng không được sống đúng tuổi hồn nhiên, vô tư của chúng vì miếng cơm manh áo sao đây? Loắt choắt, bé như viên kẹo cũng len lỏi, chen lấn giữa các bà phụ nữ Nga bụng to như cái thúng để giành giật mua cho được mươi mét vải láng đen, dăm ba chục mét vải màn .Giữa mùa đông giá rét, các em các cháu tóat mồ hôi, lôi kéo, khênh vác hàng chục thùng gỗ nặng chịch khỏi cửa hàng. Hỏi ra, mỗi thùng chứa khỏang 50 cục xà phòng đen…

Phục không đi “đánh hàng” nhưng dù ngồi ở ký túc xá, tối tối Phục vẫn phải chứng kiến cái không khí hỉ hả, mãn nguyện hoặc than van, ủ dột vì bị làm nhục sau một buổi chiều đi “đánh quả” trở về của đám đồng hương lớn bé. Những lúc như thế, anh thường im lặng, hít hết điếu thuốc này tới điếu thuốc khác và dù râu tóc chưa bạc phếch như bây giờ, nhưng tôi nhớ như in gương mặt anh nhăn nhúm, méo mó y như một quả táo khô. Nhớ một lần, sang chơi bên Nhạc viện Tchaikovsky về, Phục bỏ cơm, chăn trùm kím đầu, tôi đã ngỡ anh bị cảm lạnh. Nằm lâu lắm, Phục hất chăn ra, nhỏ giọng nói với tôi: “Thằng K, thằng H bên ấy hôm nay nói thẳng vào mặt mình: Học hành, nghiên cứu làm gì. Hãy vứt ráo sách vở vào sọt rác mà đi buôn thôi! Đã tới thời buổi thằng nào nhiều tiền, thằng ấy là thống soái! Có tiền thì bằng cấp, chức tước, tiếng tăm, thậm chí đến quyền lực cũng mua được tất. Có đúng là đã xuất hiện thời buổi ấy rồi không, ông?”.

Có thể vì bức tranh ảm đạm của người Việt ở Moskva như vậy mà Phục nằng nặc xin về nước?…

3- Trở về với chuyện “Tại sao họ lại giống mình thế?”. (Sau này, khi tâm sự với một anh bạn Nga, anh ta sửng sốt hỏi lại chúng tôi: “Tại sao chúng tao giống chúng mày a? Phải ngược lại chứ! Chúng mày giống chúng tao mới phải. Thi hào Pushkin chẳng từng nói: Tất cả đều từ ống tay áo này mà bay ra là gì?).

Phục tìm đâu được quyển Điều lệ của Đoàn Comxomon (Đoàn Thanh niên Cộng sản) Liên Xô quăng cho chúng tôi. “Đọc ngay phần mở đầu thôi! Có phải trong ấy ghi Đoàn thanh niên là cánh tay, đội hậu bị của Đảng không? Chả lẽ các bậc tiền bối của chúng ta chỉ là những người dịch tồi thôi à?”.

Thời gian đầu, sinh viên Việt Nam – Khoa dự bị tiếng Nga được bố trí ở tầng 3, tầng 4. Ít lâu sau bị dồn hết lên tầng 8 – tầng cao nhất, cùng với sinh viên các nước châu Phi. Lý do đơn giản, vì sinh viên Việt hay mang nước mắm đi lại trong thang máy, hay nướng chân gà, chân giò heo trong khu bếp chung – những mùi vị mà người Tây rất dị ứng. Ở đầu thang gác lối xuống tầng dưới có treo một tấm pano dán ngay ngắn chừng trên 20 tấm bưu ảnh về đời sống và họat động cách mạng của ông Lênin. Một buổi sáng, trên tấm pano ấy có ai bóc lấy đi 4 tấm. Những ô trống quả là nom như những con mắt mù. Buổi chiều, ông phụ trách người nước ngòai – một sỹ quan Hồng quân cấp tá  thời chiến tranh – bỗng triệu tập tất cả sinh viên Việt Nam trong một cuộc họp. (Tôi xin nói ngay, tất cả những cựu sỹ quan Liên Xô đã từng tham gia Chiến tranh cứu nước năm 1941-1945 như ông phụ trách chúng tôi và những người chúng tôi có dịp làm quen sau này, đều rất nhân hậu, rất thương yêu, tôn trọng sinh viên, nghiên cứu sinh Việt Nam nói chung, cánh lính chúng tôi nói riêng. Đối với đám sinh viên là lính chúng tôi, điều đầu tiên các cựu binh Nga thường quan tâm là, vấn đề tiếp tục việc học hành và giải quyết công ăn việc làm cho các quân nhân Việt Nam sau chiến tranh ra sao? Bởi theo họ, đây từng là vấn đề đeo đẳng lâu dài và làm đau đầu xã hội Xô viết nhất hàng chục năm sau khi chiến tranh kết thúc). Tôi còn nhớ rõ, sau khi ông già cựu binh người Nga phụ trách Khoa dự bị tiếng giải thích lý do triệu tập cuộc gặp mặt, Phục là người giơ tay đầu tiên cật vấn, đại ý: Tại sao ở đầu bên kia tầng 8 có rất đông sinh viên châu Phi mà mất mấy tấm bưu ảnh Lênin, ông lại triệu tập riêng sinh viên Việt Nam? Đợi Phục nói dứt, ông già Nga mỉm cười hiền lành trả lời: “Nếu các sinh viên châu Phi mà yêu ông Lênin đến như vậy, chúng tôi thật mừng! Các bạn Việt Nam cứ bình tĩnh góp ý với nhau, làm như thế là không văn hóa đâu!”. Hôm sau, họp riêng Việt Nam, chúng tôi tìm ngay ra, thủ phạm là một em sinh viên quê Nghệ An đã bóc bốn bức bưu thiếp Lênin để gửi về quê cho cha mẹ. Còn lý do à? Đơn giản lắm. Để bớt được vài chục xu mua 4 tấm bưu ảnh – số tiền ấy có thể mua 2 cái bắp cải. Tối ấy Phục lục xục trong chăn mãi không ngủ, khói thuốc lá phun kín căn phòng, anh cười nói với chúng tôi: “Cái anh vô sản Việt nam yêu lãnh tụ Lênin quả là theo đúng cách Việt nam!”.

Một chuyện khác. Gần ký túc xá của chúng tôi có một khuôn viên nhỏ trồng cỏ xanh, xây mấy chòi ngồi nghỉ, mấy cái đu bập bềnh giành cho bọn trẻ nhỏ. Những buổi chiều tôi không đi dạo phố xá lùng hàng, Phục thường rủ tôi ra đấy ngồi. Ở nơi này chúng tôi đã kết bạn với một ông già, cựu binh Nga. Ông già Nga thường ra đây chơi với cậu cháu nội, tên Xêriogia, bảy tuổi. Cậu bé ưa trò sưu tầm tem. Một lần, nhận thư vợ từ Hà Nội gửi sang, tôi bóc khéo con tem vẽ anh bộ dội Việt Nam, tay cầm khẩu A.K đứng dưới lá cờ Tổ quốc mang tặng Xêriogia. Dĩ nhiên chú bé Nga rất thích con tem này. Ngắm nghía con tem một lúc, chú bé Nga thản nhiên nói với ông nội và hai đứa tôi: “Người là của các ông. Vũ khí là của chúng tôi!”. Tôi và Phục thật bất ngờ. Ông cựu sỹ quan Hồng quân lúng túng, ngượng ngùng hồi lâu, mãi một lúc sau mới nói được: “Tôi xin lỗi hai anh. Ông bà nội ngọai nó, bố mẹ nó không bao giờ dạy nó như vậy cả. Nhưng còn ở nhà trường và xã hội…”. Trên đường trở về ký túc xá, Phục ngúc ngắc đầu rên rẩm: “Thật không thể nào hiểu nổi! Thật không thể nào…”.

Câu chuyện kể về Phục hình như đã quá dài. Trước khi kể nốt hai mẩu chuyện cuối, nên chăng lặp lại điều đã nói. Phục hiểu sâu sắc và đánh giá rất cao nền văn hóa Nga của Pushkin, Lev Tolstoi, Repin, Levitan, Turgenev, Tchekhov… Anh nhiều lần nói với tôi: Văn học hiện sinh Tây Âu được khởi nguồn bởi chính ông già điên họ Đốt. Với chế độ Xô viết cũng thế. Phục nói, nuớc Nga hồi cuối thế kỷ 19 thường bị phương Tây coi thường như xứ sở của những gã nghiện rượu, suốt mùa đông ngủ li bì trên lò sưởi đắp đất. Công lao ông Lênin là ở chỗ, ông ta đã quất roi vào đít những gã mudic lúc nào cũng say bí tỉ ấy, ép họ tới làm việc ở các công trường cộng sản. Do vậy nước Nga vượt qua được đói nghèo của những năm Tân kinh tế, thực hiện điện khí hóa tòan quốc để rồi lập nên hai kỳ tích Mỹ, Anh, Pháp phải cúi đầu bái phục: đánh thắng bọn phát xít Đức và phóng ông Gagarin lên vũ trụ.

Vốn tính nhậy cảm kết hợp với một bộ óc thông minh, cặp mắt quan sát nhanh nhậy hiếm có, Phục dị ứng rất nhanh với cái đơn điệu, tẻ nhạt, với thứ trì trệ, ngưng đọng, với bệnh công thức, giáo điều của xã hội Nga – những gì mà sau này trong thời kỳ Đổi mới chính người Nga đã lên án gay gắt. Phục từng áp tải xàlan chở gạo, đường, mì chính từ cảng Hải Phòng ra vào tiếp tế cho các tỉnh phía nam khu IV cũ trong những năm máy bay phản lực, hạm tầu Mỹ phong tỏa gắt gao vùng biển miền Bắc. Anh từng theo du kích Jarai, Eđê ra phục kích xe giặc trên đỉnh đèo Măng Giang, từng đạt kỷ lục vác bao gạo nặng nhất từ các làng ven biển miền Trung, len lỏi qua các đồn bốt, các chốt phục kích của bọn Mỹ lên chiến khu để cứu đói cho đồng chí dồng đội. Phục không từ nan hiểm nguy, gắn bó từng vui buồn, âu lo với cuộc sống của bà con dân thường, bộ đội, du kích ở những vùng chiến sự ác liệt nhất. Không hút xách, không trai gái chơi bời, không thu vén bất cứ thứ tài sản gì cho bản thân khi sống ở các đô thị miền Nam sau ngày giải phóng. Giống như tất cả anh chị em cùng thế hệ mình, trong kiệt cùng những chịu đựng, những cố gắng và sự tự hòan thiện mình như thế chỉ để mong được kết bện máu thịt với xứ sở của mình, dân tộc mình, để hiểu ra rằng nhân dân là khái niệm có thật chứ không phải là những bích chương, những tem mác lòe lọet ai đó cố tình trương ra nhằm che đậy những mục đích vụ lợi bẩn thỉu. Sang Nga, Phục quá sửng sốt khi nhận ra người mình sao chép vội vã, không chọn lọc, chưa kịp tiêu hóa những mô hình của Nga; dù quê hương còn lạc hậu, đói nghèo anh phản ứng quyết liệt thái độ kể công hoặc ban ơn của siêu cường; anh không co rúm người, khiếp hãi trước những gì của thế giới văn minh, hiện đại; sau hết anh đau đáu xót xa, phập phồng dõi theo thân phận dật dờ, truân chuyên của đồng bào mình chưa kịp hồi phục sau cuộc chiến này đã phải bước vào một cuộc chiến khác…

HAI MẨU CHUYỆN CUỐI VỀ PHỤC

Cô giáo dạy tiếng Nga của bọn tôi tên là Galina Vaxilievna. Tóc màu hạt dẻ, mắt mơ màng, nụ cười dịu dàng, hệt như những nhân vật nữ trong “Chiến tranh và Hòa bình”, “Suối mùa xuân”, “Ba chị em”, “Vườn anh đào”… mà chúng tôi thường tưởng tượng ra khi còn ở Việt Nam. Cô giáo Galina có lẽ còn ít tuổi hơn Phục. Phục tới lớp thất thường, chúng tôi vẫn nhận ra mối thiện cảm vượt mức bình thường cô giáo Galina dành cho Phục; dù ngồi trong lớp thỉnh thoảng Phục thường nhăn nhó như khỉ ăn gừng vì bị cơn đau bao tử hành hạ.

Vào một sáng Chủ nhật, cô Galina đưa lớp tôi tới Quảng trường Đỏ, viếng thăm ông Lênin. Mục đích để sáng hôm sau chúng tôi viết và đọc ngay tại lớp những gì đã nhìn, đã cảm nhận được. Bằng tiếng Nga.

Sáng thứ hai, một, hai, ba sinh viên đọc trước. Lẽ dĩ nhiên quan sát và ý nghĩ giống nhau. Cô giáo Galina hệt như đã chờ đợi từ lâu bài luận văn của Phục. Cũng là trời xanh mây trắng. Cũng là những viên gạch Hồng trường đã in dấu chân bao người. Cũng là trong dòng người xếp hàng vào viếng Lênin có đủ các màu da, xôn xao đủ giọng nói của các châu lục. Nhà văn Việt Nam đã có tiếng tăm này cũng không thể hú gió gọi mưa hơn thế được vì vốn tiếng Nga cũng chỉ chừng ấy! Nhưng cứ sau từng dòng của Phục, cô giáo Galina lại xuýt xoa: “Tuyệt! Tuyệt!”, “Tiếp tục!”. Phục tả đến đọan dòng người tiến đến gần nơi ông Lênin nằm, Phục thấy ông như cựa quậy. Cô giáo Galina càng nức nở khen: “Anh từ một đất nước Việt Nam xa xôi, đến thăm lãnh tụ Lênin mà thấy Người sinh sắc, sống động như vậy, hay lắm”. Phục: “Và ông Lênin bỗng ngồi nhổm dậy, trỏ tay vào mặt chúng tôi thét lên: “Vô sản thế giới hãy buông nhau ra!”. Cô giáo Nga lặng ngắt, đôi mắt mở to hoảng hốt, chừng một phút sau như kịp trấn tĩnh, cô mới cất tiếng hỏi Phục: “Anh không chọn nhầm động từ đấy chứ! Lãnh tụ Lênin nói rằng vô sản thế giới liên hiệp lại cơ mà?”. Phục thủng thẳng: “Thưa cô giáo, tôi không hề chọn nhầm nếu cô biết rằng, vào giờ phút này ở biên giới phía Bắc nước tôi vô sản đói rách Việt Nam và vô sản đói rách Tàu vì không tìm ra việc gì để làm, đang lao vào cấu sé, đâm chém nhau. Thiết tưởng nếu ông Lênin sống lại, vén mây nhìn xuống hạ giới, ông sẽ thét lên như thế!”.

Khoảng một tuần sau tới ngày kỷ niệm Hiến pháp Liên xô – một ngày lễ trọng chỉ sau lễ Cách mạng tháng Mười Nga. Mở đầu sáng hôm ấy, cô giáo Galina giảng giải về Hiến pháp Xô viết chừng hơn tiếng đồng hồ trên lớp. Sau đấy cô giáo Nga đưa chúng tôi ra hành lang, nơi đã kịp treo những tấm pano, vẽ các sơ đồ, dán những tấm ảnh màu cũng nói về uy tín của Liên xô, thành tích của đất nước Xô viết sau những năm thông qua hiến pháp. Cô giáo Galina đang thao thao giảng giải cho sinh viên nghe, bất ngờ cô nhận ra sinh viên Nguyễn Khắc Phục đứng quay lưng lại. Vẫn cái vẻ thảng thốt, bị bất ngờ hôm trước, cô Galina hỏi Phục: “Hôm nay là một ngày lễ trọng của Liên Bang Xô Viết . Sao anh đứng quay lưng lại không nghe tôi nói?”. Phục rành rẽ: “Thưa cô giáo, sáng nay ở trong lớp cô giới thiệu Hiến pháp Xô Viết hơn một tiếng đồng hồ, đối với tôi thế là quá đủ. Tôi thiết tưởng, bản Hiến pháp ấy không liên quan, ảnh hưởng gì tới cuộc sống áo cơm của đồng bào tôi ở Việt Nam hiện nay!” .

Những chuyện tôi vừa kể để các bạn nghe xẩy ra vào những ngày cuối đông Moskva năm 1979. Xin nhắc lại: cuối mùa đông năm 1979. Còn mất 7 năm nữa ông Gorbachov mới khởi xướng công cuộc Perestroika ở xứ sở bạch dương này. Và muộn hơn nữa, Việt Nam mới bước vào thời kỳ Đổi mới.

Bốn năm năm sau, tình cờ tôi gặp lại cô giáo Galina Vasilievna. Cô tỏ vẻ rất vui sướng vì cuộc hội ngộ. Không kìm nén được tình cảm, cô hỏi tôi có thư từ thường xuyên với Phục không, sức khỏe của Phục ra sao, hiện Phục đang làm gì?

Sau những lời thăm hỏi ấy, cô Galina tủm tỉm cười, hạ thấp giọng như hé lộ chuyện gì rất riêng tư:

– Thú thật, cách xử sự của ông Phục khiến tôi rất kính trọng. Nhưng ông ấy cũng làm tôi hồn xiêu phách lạc. Thử tượng tượng xem, nếu có ai mách lên đảng ủy nhà trường tôi có một học trò như ông Phục, thì sao? Chả là hồi ấy tôi đang là đảng viên dự bị Đảng Cộng sản Liên Xô mà!

Biết sao được, thưa cô giáo Nga khi “tử vi” của cô buộc cô có một lần trong đời nhà giáo, phải “dạy” một gã điên…

TÔ HOÀNG

(Trích từ tập tản văn “Nỗi buồn lâu quên”,

NXB Hội Nhà văn năm 2014)

 

One thought on “Gã Phục điên từ bao giờ?

  1. Nguyễn Hồng Minh says:

    Có những mâu thuẫn nằm trong nhận thức.
    Tô Hoàng có nhiều bài viết hay và là một cá tính trong các văn bản mà ông viết ra. Bài viết này cũng vậy. Như VHSG giới thiệu thì nó rất hay và đặc sắc, tôi cũng cùng quan điểm đó và hết sức tôn trọng bài viết của tác giả Tô Hoàng, và qua đó càng tôn trọng nhà văn Nguyễn Khắc Phục.
    Tôi suy nghĩ nhiều về bài viết này, có lẽ người đọc nào đó cũng như tôi và vì thế tôi ngần ngại và băn khoăn khi viết những dòng phản hồi này. Thực ra có những mâu thuẫn trong sự thật. Sự thật luôn có những mâu thuẫn ở bên trong nó. Chúng ta phải chấp nhận điều đó, vì đó là bản chất của sự thật. Chúng ta tôn trọng sự thật không chỉ nhìn theo mặt tích cực mà còn có cả mặt chưa tích cực của sự thật. Chúng ta biết và tôn trọng sự thật trong tất cả các mặt mà sự thật đa mang ấy chứ không chỉ riêng và đi theo một hướng, mặt nào đó của sự thật không thôi. Nói như vậy để tôi mở đường cho bài viết này, cho cách nhìn nhận của mình về một số vấn đề trong bài viết của tác giả Tô Hoàng. Tôi không phủ nhận hoặc khẳng định điều gì cả, tôi cũng không theo một phe, hướng nào cả mà chỉ là người đọc, rồi sau đó trên cở sở suy tư của mình để cùng nhìn nhận với các sự thật, với chính văn bản để cùng tự luận, để cùng lý giải và giác ngộ ra những điều gì đó bổ ích cho bản thân, làm sáng tỏ hơn, hoặc công bằng hơn cho sự thật.
    Lãnh tụ là gì? Ở đó phải đúc kết hoặc kết tinh những thứ sâu sắc và sáng trong, vững trãi những tư tưởng mà chỉ có thể làm cho kẻ khác, người khác, số đông khác khuất phục. Cái độc lập của người lãnh tụ là cái độc lập chung và lớn lao nhất của một kẻ dị biệt trong tất cả kẻ không dị biệt, hoặc của một kẻ khác với tất cả còn lại nhưng dẫn dắt được tất cả còn lại. Ở đây phải công nhận một sự thật là nhà văn Nguyễn Khắc Phục chưa được như thế.
    Tôi tôn trọng sự độc lập trong tư duy của nhà văn Nguyễn Khắc Phục. Tôi và tất cả chúng ta tôn trọng sự dị biệt của nhân vật được nhắc tới và sự thật về nhân vật ấy. Chân lý của sự độc lập suy tư và hành động của nhà văn N K Phục là không hề sai. Ông phản ứng với cái xấu, có cảm tình hoặc không với cái mình chưa thích. Có thể Tô Hoàng không khẳng định nhưng qua giọng điệu của văn bản và qua các câu chuyện về nhân vật được nhắc tới thì ông có cảm xúc rõ ràng bởi những suy nghĩ xuất phát trong ông là độc lập. Với những nhận thức và sự am hiểu nên Nguyễn Khắc Phục suy nghĩ độc lập, tư duy độc lập, và có những lý luận riêng cho những điều độc lập của bản thân mình và những hành động liên tục độc lập ấy cuối cùng đưa tới quyết định hồi hương.
    Không sai, vì đó là lựa chọn và quyết định của Nguyễn Khắc Phục. Và những người ở lại cũng không sai. Những người đi gom hàng, đi “đánh quả” cũng không sai. Vây thì điều gì của sự thật làm chúng ta chưa hài lòng?
    Khắc Tường đã độc lập trong suy nghĩ và hành động nhưng ông đã chưa phản kháng lại những câu nói người khác áp đặt vào ông, những quan điểm mà những người bạn, những người Việt Nam khác thể hiện và nói với ông. Ông ngấm ngầm bị khuất phục rồi không vượt qua được những lòng tự ái sẵn có, những hiểu biết và tính độc lập mà bản thân mình đang có, do vậy ông không làm được lãnh tụ như một số tính cách tôi đã dẫn ở trên. Ông không đứng lên để chứng minh quan điểm của mình, ông không dựng cờ cái độc lập suy nghĩ, độc lập tư tưởng của ông để chỉ ra cho mọi người đi theo, ông không dẫn dắt con đường cho người khác, từ đó xây đắp lên sự độc lập to lớn hơn. Hình ảnh đất nước, danh dự dân tộc, các sức mạnh về tư tưởng và tinh thần, sự giầu mạnh, hạnh phúc của cả dân tộc, của tất cả mọi người sẽ đạt được với độc lập suy nghĩ và độc lập hành động trong phạm vi cá nhân mà không dẫn dắt, không truyền lan tư tưởng ấy, những điều to lớn sẽ thành công được hay sao? Những độc lập lớn trong hình ảnh, trong kinh tế, trong danh dự, trong văn hóa…của dân tộc có được thanh công bởi chỉ một suy nghĩ độc lập không tương xứng? Và chúng ta phải chấp nhận mặt kia của sự thật. Sự thật đã chỉ ra điều gì đó mà chính chúng ta phải đau lòng.
    Đó là cánh nhìn thông cảm và thấu hiểu được phạm vi độc lập của Nguyễn Khắc Phục trong những câu chuyển của Tô Hoàng. Cũng giống như phải hiểu và thấu hiểu được các hoạt động lúc bấy giờ của sinh viên, của người Việt Nam trong bối cảnh của dân tộc, của thời đại ấy. Trừ câu nói của người bạn với nhà văn, và trừ những suy nghĩ tiêu cực nào đó đã hình thành mà lan truyền ra tiêu cực của sự thật. Còn lại thì không hề sai. Trong phạm vi nhỏ của độc lập thì những việc làm độc lập của sinh viên gom hàng giúp gia đình về kinh tế thì có gì là sai? Có gì là chưa đúng? Khi đặt mình trong hoàn cảnh đang muốn giúp gia đình vượt qua khó khăn, giảm đói trong nhà, giảm đói cho người thân, và nhiều sự độc lập này sẽ tạo ra thành công cho độc lập lớn khác. Có khi nào nhiều sự gom hàng ấy mà kinh tế một bộ phận người dân được nâng lên, kinh tế Viên Nam bớt ngập đầu, nhiều người không chết đói…vân vân và vv, rất có thể, và còn có thể tạo ra cảm giác chính việc gom hàng, chạy chợ ấy có làm cho Liên Xô tan rã, có làm cho Vô sản xa nhau, và có làm cho loài người giảm bớt đi sự phát triển lồng lộn hay không?
    Chân lý ở đâu? nếu không áp chúng vào chính cuộc sống và sự tồn tại của chính mình và gia đình, dân tộc mình. Sự thật và chân lý thì không bao giờ sai, cứ cho là vậy. Nhưng khi nào thì mới sống với sự thật và chân lý thì phải lựa chọn? Giữa chân lý loài người, bảo vệ hòa bình thế giới, tiến lên mặt trăng hay thể hiện cho thiên hạ biết ta là ai mà gia đình ta, mà người thân ta, dân tộc ta đang chết đói, đang bị đô hộ, đang cần sức mạnh và góp ích của độc lập riêng bản thân ta, thì sao ta lại quay lưng với người thân và dân tộc ta được, mà nói và hành động về cái đại đồng viển vông! Không, nó không viển vông. Có người sẽ nói như vậy. Và đúng là như vậy, bây giờ chả viển vông gì cả. Nhưng hãy đặt mình vào hoàn cảnh và tình huống ấy, thế mới biết vượt lên được tất cả, với suy nghĩ và hành động độc lập, hoặc hiếm có ai có sức mạnh độc lập như nhà văn Nguyễn Khắc Phục đã sống thời bấy giờ. Ông đã vượt lên được sức mạnh độc lập của người thường, nhưng chưa tiến tới sức mạnh độc lập của một lãnh tụ!
    Chuyện về cái tem. Tại sao Tô Hoàng không đưa cho ông già mà đưa cho đứa bé. Và đứa bé bộc lộ ra một sự thật thì Tô Hoàng và Khắc Phục lại tự ti cho sự thật mà dân tộc mình, mà cái tem đang thể hiện ra. Có gì đâu mà xoắn, sự thật là sự thật, súng là súng và người là người, cho dù cả xã hội bên ngoài gia đình có nói và hiểu như đứa bé thì có thay đổi được sự thật không nào mà phải xoắn. Hãy biết tôn trọng và nâng lịu lời xin lỗi của người cựu chiến binh. Thế là ổn rồi, phải cảm ơn dân tộc Nga, cảm ơn những con người như thế. Chúng ta sống với những con người như vậy, với lý tưởng của sự hướng tới cái đẹp là vậy chứ không sống với số đông, không sống với những gì thiếu tiêu cực của sự thật.
    Chuyện gom hàng, chuyện xà phòng, cái xô cái chậu, đĩa phim …như đã nói ở trên, xét trong một phạm vi hệ độc lập gia đình, cá nhân và nhỏ hơn dân tộc thì không sai. Chỉ sai cho những kẻ đam mê quá những thứ đó mà không học hành, không nhận thức tiếp nhận kiến thức để về sau về mở mang cho dân tộc, cho đất nước. Vẫn kết hợp giữa bon chen cuộc sống và tiếp thu kiến thức và thực hiện ước mơ và làm những điều cao cả cho dân tộc sau khi học tập ở Nga. Tôi coi đó mới là chân lý, mới là yếu tố tích cực của sự thật. Còn người bạn đã nói câu gì đó với Nguyễn Khắc Phục hoặc kể cả ông đã từ chối những tích cực, từ chối hướng tới sự độc lập lớn lao hơn, to đẹp hơn là năm năm rèn rũa để về sau cống hiến được nhiều hơn. Bất chấp phải vượt qua những điều mắt thấy tai nghe, những mặt tiêu cực của sự thật mà chính bản thân mình chưa giác ngộ ra. Hoặc đã giác ngộ ở một tầm với mới của người hùng, sống cho loài người, cho thế giới mà quên dân tộc. Hoặc chưa hướng tới một sức mạnh độc lập lớn lao hơn, hoặc sức mạnh độc lập của bản thân chưa làm bản thân vượt qua được chính mình và sự thật là quyết định hồi hương được toàn tâm giải thích và diễn giải thực hiện.
    Chuyện bức ảnh Le nin: đành vậy là một sự thật đau lòng và sai lầm của cô bé sinh viên kia, và cội nguồn là vì hai cái bắp cải. Nhưng chính cách hành xử của vị cựu chiến binh lại làm chúng ta an lòng. Mong ước có bức ảnh Le nin gửi về gia đình đã nói lên tinh thần gắn kết và sức mạnh dân tộc lớn hơn nhiều so với những con người của quốc gia khác. Chỉ có sinh viên Việt Nam mới bị triệu tập vì lẽ đó thì có gì đâu mà xoắn. Sự thật là như vậy, phải chấp nhận và ngửng cao đầu hãnh diễn với mặt tích cực của nó chứ đừng bị mặt tiêu cực chiến thắng sự độc lập của riêng bản thân mình, từ đó làm phai mờ đi nhiệm vụ và con đường hướng tới sự độc lập lớn lao hơn cho nhiều người, cho nhiều ngành, cho dân tộc, từ đó mới nói tới cho loài người, cho thế giới. Thiếu tư tưởng vững chắc, thiếu cái sức mạnh hướng tới độc lập lớn lao hơn, thiếu cái vững vàng và giác ngộ cũng như các tính cách của một lãnh tụ mà vì thế tài năng đã không được khai thác, sức mạnh của dân tộc vì thế mà không được nhân lên, đất nước và con người vì thế mà chậm thoát ra được cảnh nghèo khó, khổ cực.
    Có những sai lầm trong sự thật, không phải là sự thật sai lầm mà là sự ngộ nhận và sai lầm của những suy nghĩ của những con người trong sự thật ấy! Những cựu chiến binh, thanh niên xung phong, cựu người lính trải qua chiến trận là vì sự độc lập, tự do cho dân tộc, là vì sự thống nhất đất nước và từ đó hy vọng cho những hy vọng. Chứ đừng ngộ nhận và nhầm lẫn với việc đánh Mỹ, đánh Pháp, đuổi Tàu…đuổi quân thù, chấm dứt chiết tranh thì dân ta có mười đồng, một trăm đồng, và vì thế không đói khổ. Chính chiến tranh mới sinh ra đói khổ…vv, nếu không chiến tranh nếu có Mỹ, còn Pháp…có khi nhiều người còn không đói khổ. Nhưng đừng nhầm lẫn việc này, giống nhưng nhầm lẫn như trong văn bản này, là việc người hy sinh sẽ đảm bảo cho rằng người dân sẽ không còn khổ, sẽ đảm bảo rằng các em sinh viên không buôn hàng bán chợ, đảm bảo rằng dân ta không còn nghèo đói, ai cũng đủ ăn đủ mặc …vẽ vời! Ngụy biện!…chúng ta phải tách rời hai điều này một cách rõ ràng. Chiến đấu và hy sinh là giành lại độc lập tự do cho tất cả mọi người, cho dân tộc ta, là chắc chắn, và đó là sự thật. Còn việc kia không phải là do hy sinh ở trận địa mà làm cho dân giầu được, làm cho hết đói được, phải rõ ràng như thế. Nhưng nếu không hy sinh thì cả về tinh thần và vật chất chắc chắn sẽ không bao giờ có hy vọng. Còn khi đã hy sinh và chiến thắng thì có hy vọng, và là cơ sở cho giầu có, cho phát triển sau này. Chính đi học nước ngoài để có thêm kiến thức, chính một phần gom hàng, hoặc tích kiệm bằng bắp cải, bằng bắt bồ câu- biểu tượng của hòa bình, giết nó đi ấy mới góp phần làm cho dân giầu, nước mạnh sau này được!
    Nói tới đây tôi nghĩ mình viết đã dài, có khi dài hơn cả văn bản gốc. Việc tả về Le Nin, và đứng quay lưng đó là việc làm và suy nghĩ độc lập của một bộ óc độc lập. Chúng ta tôn trọng điều đó. Nhưng không chỉ như vậy là có thể thay đổi được sự thật. Và cũng không noi theo những gương điển hình ấy máy móc khi mà cần hơn cả sự độc lập của ngành, của dân tộc, cần sức mạnh độc lập sau khi đã độc lập, cần sức mạnh tự do sau khi đã tự do…Thôi tôi xin dừng lại. Bài viết này chỉ nhằm làm rõ các suy tư và cách nhìn nhận về nội dung văn bản chứ không hề có ý đồ lật lại, quy chụp…hoặc nói xấu tác giả Tô Hoàng, cũng như cố nhà văn Nguyễn Khắc Phục.
    Hòa Phong.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *