Khát vọng giữ gìn bản sắc dân tộc trong “Chân quê” của Nguyễn Bính

Nỗi lo lắng của chàng trai đất Việt Nguyễn Bính về chất “chân quê”, “quê mùa” chất phác mộc mạc, về “hương đồng gió nội” sẽ bị mất đi ở cô thôn nữ – người yêu của chàng, trước ảnh hưởng từ cuộc cuộc sống thành thị thời hiện đại (1936), vẫn là vấn đề thời sự nóng hổi trong thời kỳ toàn cầu hóa, trong thế giới phẳng hiện nay…

Nhà thơ Nguyễn Bính

Hôm qua em đi tỉnh về,

Đợi em ở mãi con đê đầu làng.

Khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng,

Áo dài khuy bấm, em làm khổ tôi!

 

Nào đâu cây yếm lụa sồi,

Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?

Nào đâu cái áo tứ thân,

Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?

 

Nói ra sợ mất lòng em,

Van em! Em hãy giữ nguyên quê mùa.

Như hôm em đi lễ chùa,

Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh.

 

Hoa chanh nở giữa vườn chanh,

Thầy u mình với chúng mình chân quê.

Hôm qua em đi tỉnh về,

Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.

 

(Chân quê – thơ Nguyễn Bính)

 

Hiện nay chúng ta đang sống trong thế giới phẳng của thời đại toàn cầu hóa. Một nỗi lo lắng nảy sinh: liệu thế giới phẳng có tạo ra nguy cơ thống trị về văn hóa và vì thế làm mất đi tính đa dạng về văn hóa của các dân tộc trên Trái đất này? Theo tôi, trong văn học Việt Nam có một bài thơ, cho tới hôm nay không chỉ thể hiện khát vọng thiết tha mà còn bộc lộ bản lĩnh giữ gìn vững chắc bản sắc dân tộc của thơ ca Việt. Đó là bài “Chân quê”, sáng tác năm 1936, trong tập “Tâm hồn tôi” của thi sĩ Nguyễn Bính – người được tôn vinh là nhà thơ thể hiện xuất sắc nhất “hồn quê” dân tộc Việt.

Bài thơ “Chân quê” diễn tả diễn biến tâm trạng của một chàng trai làng khi đón người yêu là cô thôn nữ vừa mới “đi tỉnh về”. Bài thơ gồm bốn khổ. Khổ một gồm bốn cặp câu lục bát cho ta thấy hai biểu hiện đối lập nhau trong chàng trai:

Hôm qua em đi tỉnh về,

Đợi em ở mãi con đê đầu làng.

Khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng,

 Áo dài khuy bấm, em làm khổ tôi!

Trong ca dao xưa, người chờ đợi thường là cô gái, được ẩn dụ bằng bến; người                                                đi… về thường là chàng trai ẩn dụ bằng thuyền. Nhưng đây ngược lại người đi về lại là “em” – cô gái. Tình thái từ “mãi” kết hợp cụm từ “con đê đầu làng” đã khắc họa thời gian chờ “đợi” rất lâu, không gian đứng đợi cũng rất xa. Không dám đứng ở cổng làng, đình làng, gốc đa, lũy tre vì gần làng mạc, xóm giềng, bè bạn, gia đình… vì muốn tránh con mắt để ý của mọi người, đồng thời mong sớm được nhìn thấy em về từ xa. Chỉ một câu thơ thôi mà chàng trai đã kín đáo bộc lộ nỗi khắc khoải trông ngóng, nóng lòng sốt ruột vô cùng của mình “Đợi em ở mãi con đê đầu làng”.

Nhưng bất ngờ thay! Sự xuất hiện của cô gái lại gây cho chàng trai một phản ứng lạ lùng. Không phải là dáng hình, nét mặt, nụ cười, ánh mắt quen thuộc mà là một loạt yếu tố trang phục khác lạ đập vào mắt chàng. Chuỗi liệt kê “khăn nhung, quần lĩnh… áo cài khuy bấm” đồng điệu với tâm hồn “rộn ràng” như ca hát, nhảy múa, reo vui của cô gái vì đã khoác được vẻ bề ngoài tân thời trong trang phục mang hơi hướng tỉnh thành. Vì vậy, với chàng trai không phải là thái độ hớn hở, vồ vập, âu yếm, vui mừng lẽ ra phải có, mà trái lại là nỗi sững sờ, đau đớn, thất vọng – “Em làm khổ tôi!”

Điều gì ở cô gái gây khổ cho chàng trai? Nghệ thuật ngôn ngữ của Nguyễn Bính trong hai cặp lục bát tiếp theo đã tập trung làm sáng tỏ:

Nào đâu cây yếm lụa sồi, 

Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?

Nào đâu cái áo tứ thân,

Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?

Dòng hồi tưởng của chàng trai làm hiện lên vẻ đẹp tâm hồn của cô gái trong trang phục quá khứ – trước cái ngày “hôm qua em đi tỉnh” – đó là sự kín đáo giữ gìn sức sống thanh xuân của bộ ngực, của eo thắt eo lưng thắt đáy như “cái yếm lụa sồi”, “cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân”; đó là tình cảm hồn nhiên, yêu đời, duyên dáng như “cái áo tứ thân”; đó là đường ăn, ý ở khéo léo, tinh tế như “cái khăn mỏ quạ”; và cuối cùng là nét dáng mát mẻ, mềm mại, thanh thoát như “cái quần nái đen”. Điệp từ “cái” lặp tới bốn lần với các cụm từ liền kề liệt kê thành chuỗi cho ta thấy vẻ đẹp của cô trong trang phục được anh quan tâm săn sóc, chú ý tỉ mỉ, cẩn trọng nâng niu đến mức như ghi, như khắc từng chi tiết trong tâm hồn mình.

Đó là vẻ đẹp của cô – một thôn nữ làng quê trong lũy tre làng, nơi đồng ruộng, xóm thôn quen thuộc mà anh yêu mến. Anh từng say sưa nhìn ngắm vẻ đẹp ấy khi ở gần và hình dung tưởng tượng, thú vị khi cách xa. Vẻ đẹp ấy là của cô và hoàn toàn thuộc về anh vì anh và cô yêu nhau tha thiết.

Nhưng… điệp ngữ “nào đâu” đứng đầu mỗi cặp lục bát đã diễn tả sự sững sờ đến hốt hoảng tìm kiếm của anh đối với vẻ đẹp của cô, mãi mà không thấy. Đồng thời, nó không chỉ nhắc cho cô nhớ lại và hối hận vì lỗi lầm của mình, mà nó như lời trách móc, hờn giận, day dứt bực bội đến mức như hằn gắt rất nam tính của chàng trai trước người yêu. Hai câu hỏi tu từ (?) cuối mỗi cặp câu như một tiếng kêu đau đớn từ thất vọng đến gần như tuyệt vọng: mất rồi, mất thật rồi, còn đâu cô gái mà tôi yêu! Cô đã đánh mất mình cả trang phục bên ngoài lẫn tâm hồn bên trong… và trong anh, cô cũng không còn nữa.

Song, nếu những khổ sở, đau đớn này chỉ dẫn đến tan vỡ tình yêu thì chàng trai ấy thật bình thường, thậm chí tầm thường như bao người hời hợt, nông nổi khác. Tạo nên sự khác thường ở chàng chính là nét độ lượng, bao dung, sâu sắc trong tình yêu.

Đạp đổ thì dễ nhưng dựng xây và gìn giữ cho bền vững mỗi thật là khó. Muốn thế phải làm sao cho người mình yêu đạt tình thấu lý. Do đó chàng trai bình tĩnh lại và bộc lộ tình cảm, mong muốn của mình:

Nói ra sợ mất lòng em,

Van em em hãy giữ nguyên quê mùa.

Như hôm em đi lễ chùa,

Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh.

Tục ngữ có câu “Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng”. Điều mong muốn của anh với cô là sự thật giản dị “em hãy giữ nguyên quê mùa”, được giãi bày bằng lời lẽ hết sức nhẹ nhàng, tinh tế mà vẫn chân thật, trong sáng đầy yêu thương, trân trọng: “sợ mất lòng em”, “van em”, “cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh”. Cái duyên, cái hóm của chàng trai chính là ở chỗ: một ý định khá nghiêm túc được bộc lộ bằng thái độ khẩn khoản, bằng cảm xúc chân thành tha thiết, đắm say. Hơn nữa, ngôn từ quen thuộc, dân dã như lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân quê. Chỉ bằng so sánh “như hôm em đi lễ chùa”, chàng trai đã làm hiện lên hình ảnh vừa trang trọng, vừa trẻ trung, tươi tắn của cô gái trong những ngày lễ hội đầu xuân. Chàng như muốn bộc lộ rằng: Với anh, “giữ nguyên quê mùa” là vẻ đẹp tuyệt vời vô cùng đáng yêu, đáng quý!

Tuy nhiên, cái tình của chàng trai chỉ thấm thía trên cơ sở của cái lý vững vàng. Khổ thơ cuối là lời tâm tình như giải thích, như nhắc nhở nhắn nhủ cô gái của chàng trai:

Hoa chanh nở giữa vườn chanh,

Thầy u mình với chúng mình chân quê.

Không phải hoa sen giữa đầm nước mênh mông, không phải hoa bưởi trên cành cao trong vườn mà là hoa chanh bé xíu xinh xinh, trắng trong, nổi bật giữa đám lá xanh trên lùm cây thấp nhỏ bên hiên nhà. Chọn một loài hoa không hề rực rỡ, lộng lẫy, quý phái nhưng gần gũi đáng yêu để ẩn dụ, giải thích cho thân phận, hoàn cảnh xuất xứ của đôi ta: chúng ta là những người con trai, con gái bình dị xuất thân từ gia đình truyền thống làm nghề nông, quanh năm lam lũ vất vả trên đồng ruộng. Hoa chanh chỉ đẹp và đáng yêu khi nó mọc hài hòa “nở giữa vườn chanh”; giống như em chỉ đẹp khi trang phục thôn nữ “quê mùa” hài hòa với sắc màu, cuộc sống con người nơi thôn dã: “yếm lụa sồi, dây lưng đũi, áo tứ thân, khăn mỏ quạ, quần nái đen…” đơn sơ, gọn gàng, giản dị mà đằm thắm. Nâu, đen, xanh điểm chút hồng, vàng là sắc màu của ruộng đồng, lũy tre, bầu trời, hoa cải, hoa râm bụt… các loài hoa nơi thôn dã.

Tình cảm dân quê là thật thà, chất phác, cần cù cày cấy, gắn bó với con người và cuộc sống thôn làng. Đó là nét “chân quê” đậm chất dân tộc của người nông dân Việt. Ngay cả từ gọi “thày u” cũng thân thương, ấm áp, gần gũi máu thịt với quê nhà biết bao! Em hãy hiểu vẻ đẹp của sự quý giá của chất “chân quê” ấy. Nó giữ cho em mãi mãi là em, không lẫn với bất cứ ai, vừa nổi bật vừa hài hòa giữa quê hương xứ sở nông thôn đất Việt.

Còn trang phục kiểu tân thời khi em “đi tỉnh về” kia không xấu nhưng không hề phù hợp, không hề hài hòa với gia đình, quê hương ta. Đó là kiểu trang phục của các cô gái, các bà, các tiểu thư chốn thị thành nơi buôn bán sầm uất, hoặc các gia đình viên chức. Lao động ở thôn quê mà ăn mặc diêm dúa, thướt tha, sang trọng kiểu thị thành chỉ tạo nên sự kệch cỡm, lố lăng, a dua, học đòi đáng chê cười mà thôi. Các cụ có câu “Y phục xứng kỳ đức” – y phục phải tương xứng phù hợp với hoàn cảnh sống và đức độ con người.

Cuối cùng sau tất cả diễn biến tâm trạng phong phú, sâu sắc ấy là lời thơ vừa day dứt, vừa than thở, vừa tiếc nuối, tràn đầy lo lắng cho vẻ đẹp “quê mùa” của những con người “chân quê” đáng quý đã bắt đầu bị phôi pha:

Hôm qua em đi tỉnh về

Hương đồng, gió nội bay đi ít nhiều.

Nỗi lo lắng của chàng trai đất Việt Nguyễn Bính về chất “chân quê”, “quê mùa” chất phác mộc mạc, về “hương đồng gió nội” sẽ bị mất đi ở cô thôn nữ – người yêu của chàng, trước ảnh hưởng từ cuộc cuộc sống thành thị thời hiện đại (1936), vẫn là vấn đề thời sự nóng hổi trong thời kỳ toàn cầu hóa, trong thế giới phẳng hiện nay. Thực tiễn cho thấy, ở lĩnh vực văn hóa, về âm nhạc các nhạc cụ dân tộc như đàn bầu, đàn tranh, đàn Tơ – rưng của Việt Nam khi trình diễn khắp nơi trên thế giới đều được nhiệt liệt hoan nghênh. Những món ăn trong lĩnh vực ẩm thực như bánh chưng, phở, mật hoa dừa được công nhận xếp vào hàng ngon xuất sắc trên thế giới. Về trang phục, chúng ta không thể không kiêu hãnh với tà áo dài Việt Nam. Mỗi khi phụ nữ Việt Nam mặc áo dài xuất hiện tại một nơi nào đó trên trái đất đều thu hút bao ánh nhìn say sưa, thán phục.

Vì vậy, điều lo lắng và khát vọng giữ gìn vẻ đẹp đáng yêu, đáng quý của chất “quê mùa”, “chân quê”, “hương đồng gió nội” trong tâm hồn và trang phục thôn nữ của nhà thơ Nguyễn Bính đã được trả lời. Vẻ đẹp mang tính dân tộc Việt Nam ấy tồn tại vĩnh viễn và luôn được bảo lưu, sáng tạo trong cuộc sống hôm nay và mai sau. Nếu dân ca quan họ Bắc Ninh được các liền anh, liền chị – nghệ nhân miền quê Kinh Bắc trình diễn, từng được Unesco công nhận là văn hóa thế giới, thì làm sao khi hát lên lại không phấp phới cùng với “yếm lụa sồi, dây lưng đũi, áo tứ thân, khăn mỏ quạ…”. Thiếu những trang phục “quê mùa” ấy không thể thành quan họ Bắc Ninh. Thiếu dân ca quan họ Bắc Ninh, bản sắc dân văn hóa dân tộc Việt Nam tổn thất biết nhường nào!

Bởi vì vào thập niên 30 của thế kỷ 21 hiện nay, bản sắc dân tộc của các nước trên thế giới thể hiện trong lĩnh vực văn hóa, phong tục, ẩm thực, âm nhạc, du lịch, trang phục, văn học không hề bị thống trị bởi sức mạnh duy nhất nào. Trái lại nó là những yếu tố địa phương góp phần làm giàu tính đa dạng về văn hóa. Không phải là các nhân tố toàn cầu bao trùm lên chúng ta, mà là cái yếu tố địa phương được đưa ra toàn cầu. Các yếu tố địa phương chính là quá trình đảo ngược của toàn cầu hóa.

Với bài thơ “Chân quê”, Nguyễn Bính không hề nhà quê, bảo thủ, lạc hậu với thời cuộc, mà đã lo trước “cái lo của thiên hạ”. Tuy đã khuất núi, mong cho linh hồn ông chóng siêu thoát và không phải lo nghĩ nữa. Vì bảo tồn và phát huy sáng tạo văn hóa dân tộc là nghĩa vụ và vinh quang của mỗi người Việt Nam chúng ta.

Hà Nội 8.4.2024

THÁI THỊ HẢI

(Cựu giáo viên Ngữ văn trường Lomonosov, Hà Nội)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *