Kỳ 2: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

Một bài thơ ngắn dù chỉ có sáu dòng thôi nhưng lại thấy một bức tranh lãng mạn kì ảo được vẽ nên, ở đó có đầy đủ không gian (núi, non xanh, gương hồ), thời gian (sương mai), sắc màu (xanh, lụa nắng, chè lam) và con người với vẻ đẹp dịu dàng đằm thắm. Rõ ràng, cái không gian, thời gian kia đã làm nền tôn vinh cho vẻ đẹp con người…

Nhà thơ – nhà phê bình Khang Quốc Ngọc

>> Kỳ 1: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

>> Kỳ 3: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

Tôi đồ rằng sự từng trải qua bao thăng trầm cuộc đời đã làm nên bản lĩnh một người đàn bà – hóa thân trong nhân vật trữ tình – “người đàn bà đem phơi từng vết cắt”. Phơi là hiển lộ, là công khai ra bàn dân thiên hạ để mong cầu điều gì? Tại sao “lầm lỡ đời mình” bây giờ đem ra “phơi từng vết cắt” mà không ém nhẹm đi cho an lành có hơn không? Bản lĩnh là ở chỗ ấy, bởi đó là sự dấn thân dám đối mặt với sự thật mà không phải ai cũng có thể làm được. Sự so sánh phía dưới như một lần nữa khắc họa cho rõ nét điều phía trên tỏ bày. Rằng “cũng đành thế, còn hơn lặng lẽ hát/ Khúc ca buồn, chẳng thèm ai ghé qua/ Người đàn bà tìm vui khoe riêng tư, cười khẽ”. Kết thúc là hình ảnh thể hiện hành vi “cười khẽ” khá độc đáo. Tất cả rồi sẽ qua đi nhưng cái gì còn lại mới là điều quan trọng. Chi tiết “cười khẽ” phản ảnh rất đúng, rất hay cái tâm thế nhẹ nhàng khi đã giải tỏa được năng lượng ẩn ức nó gấp ngàn lần một cuộc đời ẩm ê khi phải chọn con đường“lặng lẽ hát”. Bởi xét cho cùng thì việc chọn “lặng lẽ hát” là tìm quên trong sự nhớ, cố đẩy mình lên một cao độ khác với thực tiễn u ám kia nhưng rồi cô đơn lại hoàn cô đơn “khúc ca buồn, chẳng thèm ai ghé qua”. Thế thì hà cớ gì không mạnh dạn một lần nhìn thẳng, một lần dấn bước, có thể sẽ giũ bỏ được sự nặng nề mà tìm được chính mình? Ý thơ tuy có phần luận bàn căng thẳng nhưng lời thơ vẫn ngập tràn nữ tính, nó lấp ló một sự quyết liệt nhưng lại đằm dịu, phảng phất sự chịu đựng và vùng thoát khi phải đối mặt với cuộc đời “lầm lỡ”. Bài thơ vừa như giãi bày vừa như là tiếng nói tâm tình chia sẻ nên giọng thơ chân tình tha thiết, có chút điềm đạm lắng suy mà dứt khoát:

Người đàn bà đem phơi từng vết cắt

 

Của lầm lỡ đời mình làm trò vui thiên hạ

Ai đó ghé chơi rồi nói chuyện làm quà

 

Cũng đành thế, còn hơn lặng lẽ hát

Khúc ca buồn, chẳng thèm ai ghé qua

Người đàn bà tìm vui khoe riêng tư, cười khẽ

(Hồ Xuân Đà – TPHCM)

Sự lãng mạn thấm đẫm chất vị tình yêu lứa đôi đã được tác giả Phạm Thị Kim Khánh đò đưa bằng câu chữ khá duyên dáng. Lấy cái hấp dẫn của nề nếp cũ mà tung rắc cái mới đầy mê dụ “hôm lơ ngơ lạc phố cứ theo hương bông trang đi mãi/ Nương quen xưa dẫn dụ mê say ta bỗng vào vườn mới”. Bên ngoài thì lắc lư ngả nghiêng cảm xúc “nương quen xưa dẫn dụ mê say” nhưng bên trong thì lại vô cùng lí trí bởi ngay sau khi “mê say ta bỗng vào vườn mới” thì có liền ngay “ta bối rối gặp lại sắc hương thuở bên đồi nơi phố thị”. Sự bối rối ấy nhắn nhủ với độc giả một điều rằng cũ mới nương duyên, cũ mới chuyển hóa xoay vòng “tình cờ thôi hay cơn cớ mãi từ ngàn xưa/ Ta thơm giấc Sài Gòn, từ ấy, một mùa xưa”. Triết lí cũ mới tương giao chuyển hóa xoay vòng ẩn hiện. Cho nên có thể nói, tác giả đã rất khéo léo khi mượn chuyện nay mà nói đến chuyện xưa. Ở đó có lấp lánh ánh sáng của duyên kì ngộ, cũng có cái chân tình xưa cũ cho dù chỉ là chấp chới mơ hồ. Cái mới có từ cái cũ, và cái cũ làm nền móng cho cái mới thăng hoa. Tiếp bước kế thừa. Hòa quyện xoắn quýt. Tứ thơ ào ra trên cái đà nhún nhảy của con chữ. Một loạt từ ngữ tượng thanh tượng hình đi kèm nhau tạo nên một bài thơ 1-2-3 độc đáo và thú vị qua một giọng thơ đằm ngọt:

Ta có Sài Gòn vừa chín với thu nay

 

Hôm lơ ngơ lạc phố cứ theo hương bông trang* đi mãi

Nương quen xưa dẫn dụ mê say ta bỗng vào vườn mới

 

Ta bối rối gặp lại sắc hương thuở bên đồi nơi phố thị

Tình cờ thôi hay cơn cớ mãi từ ngàn xưa

Ta thơm giấc Sài Gòn, từ ấy, một mùa mưa

______

* Bông trang tượng trưng cho tình yêu của người Mường.

(Phạm Thị Kim Khánh – Thanh Hóa)

Các tác giả nhận Tặng thưởng Thơ 1-2-3

Chỉ một lát cắt của sự thăm viếng thôi mà Trần Thùy Linh đã như dựng lên và gợi ra được dư âm của cả một thời kì đau thương bi hùng. Câu chuyện thăm viếng người đã ngã xuống nơi Thành cổ (Quảng Trị chăng?) được kể lại với những câu bỏ lửng nhưng lại đầy xao xác “địa chỉ mới nhà mình/ Anh hãy về thăm mẹ và em!”. Lời thơ khép lại nhưng tâm hồn thì mở ra. Bất chấp thời tiết mưa gió “mưa lạnh tê”, bất chấp thời gian trôi qua vùn vụt “ngón tay thô ráp”, “sợi tóc bạc thưa”, nhân vật trữ tình “người đàn bà” vẫn tìm đến với Thành cổ, bởi nơi ấy có người thân của mình đã ngã xuống, thì đó đích thị là sự bất chấp mọi đổi thay của thời gian và hoàn cảnh, người đàn bà vẫn một mực đợi chờ và khát khao nhắn nhủ “anh hãy về thăm mẹ và em!”. Do vậy, có thể khẳng định sự thủy chung vẹn nghĩa đã được khắc họa qua thái độ “mắt thăm thẳm những điều không thể nói” phía trên. Nghe có sự hô ứng nhịp nhàng, xoắn quyện, câu trên là đợi chờ chung thủy thì câu dưới là khát khao gặp mặt. Do đó, thông điệp bài thơ nổi lên khá rõ, ấy là tiếng nói ngợi ca sự vẹn tròn của lòng thủy chung sẽ vượt lên tất cả, cho dù hiện tại có gì đó đổi thay như “địa chỉ mới nhà mình…” thì hình ảnh của người đã ngã xuống kia, “anh” vẫn vẹn nguyên trong lòng “em”! Thêm nữa, hai từ “mẹ”“em” được tác giả cố tình xếp đặt đi liền nhau trong cùng một dòng thơ đã như ngầm đem đến cho độc giả một thông tin vô cùng quý giá, “mẹ” của “anh” ngày trước bây giờ đang vẫn ở bên cạnh “em” đây chăng? Một sự trân quý trước sau không hề thay đổi đáng để cho người đời sau phải suy ngẫm. Giọng thơ ấm. Lời thơ tha thiết.

Mưa lạnh tê những ngón tay thô ráp

 

Người đàn bà vuốt những sợi tóc bạc thưa

Mắt thăm thẳm những điều không thể nói

 

Chị lần dở quyển lưu bút Thành cổ

Nắn nót: “Địa chỉ mới nhà mình…

Anh hãy về thăm mẹ và em!”

(Trần Thùy Linh – Hải Dương)

Hào khí Đại Việt được tác giả Nguyễn Thị Thanh bày tỏ trong bài thơ “Huyền thoại xứ Thanh vẫn âm vang” như là một sự khẳng định sức sống bất tận của của Tổ quốc trong huyền sử. Sự bất tận ấy được kết nối qua việc dựng nước “Ông Đùng quảy núi cày sông thành núi Nưa sông Mã” đến việc giữ nước “Chàng Độc Cước xẻ thân giúp dân đánh quỷ hung tàn”. Văn hóa thăng hoa trong sự nối kết của lịch sử “Tiếng trống đồng Đông Sơn buổi vua hùng dựng nước” đã thổi vút lên tỏa ra muôn ngàn hình ảnh đẹp “Ngàn cánh hạc bay lên nối dòng thời gian kim cổ” để đúc kết một chân lí gắn kết vững bền “Sáp nhập hay phân chia chẳng thay đổi tên miền”. Tính thuyết phục rất lớn khi tác giả đã xâu chuỗi gần như đầy đủ các yếu tố tạo dựng nên tổ quốc từ huyền thoại đến lịch sử, rồi cộng hưởng thêm vẻ đẹp văn hóa trống đồng, nên sức sống của Tổ quốc đẹp hơn, lung linh hơn. Ý thơ chắc, lời thơ mạnh, tứ xoắn lại bay lên như hình tượng tổ quốc rồng bay thuở nào! Tác giả đã chắt lọc lịch sử văn hóa mà viết, thấy có sự tự hào lóng lánh trong từng câu chữ, nên bài thơ thế sự mà vẫn mềm mượt ngọt ngào. Phải chăng tác giả muốn khẳng định một sự tự tin ăm ắp trong bài, rằng Tổ quốc là vẹn nguyên, gắn kết và vĩ đại!?

Huyền thoại xứ Thanh vẫn âm vang

 

Ông Đùng quảy núi cày sông thành núi Nưa sông Mã

Chàng Độc Cước xẻ thân giúp dân đánh quỷ hung tàn

 

Tiếng trống đồng Đông Sơn buổi vua hùng dựng nước

Ngàn cánh hạc bay lên nối dòng thời gian kim cổ

Sáp nhập hay phân chia chẳng thay đổi tên miền

(Nguyễn Thị Thanh – Bình Định)

Lại thấy một Nguyễn Đinh Văn Hiếu lấp lánh chất văn hóa Nam Bộ khi anh sử dụng chi tiết trong vở cải lương “Cuộc đời cô Lựu” của soạn giả Trần Hữu Trang để làm chất liệu xây dựng nên bài thơ “Em nói với anh về cô Lựu”. Nếu không đằm mình trong không khí thưởng ngoạn cải lương một thời như cơm ăn nước uống thì khó có cái nhìn, cách cảm về cuộc đời sâu lắng đẫm mùi ca cổ đến vậy. Tác giả đã rất khéo khi mượn nhân vật trữ tình “em” để ngầm ca ngợi về tình mẫu tử thiêng liêng cao quý. Sự phản ứng ban đầu của nhân vật “em” đã được liệt kê ra khá chi tiết và đầy đủ “Nhu nhược, chịu thương, nhẫn nhịn, đớn hèn”, rồi chê trách “Không biết quyên sinh giữ tròn khí tiết”là tiếng nói của con người ngoài cuộc, là lời trách mang chút bóng dáng bộc trực của con người Nam Bộ, bằng giọng điệu tương đối khách quan và có phần lạnh lùng. Nhưng “Đến lúc mang thai, em thường vuốt ve cái bụng/ Nói âm thầm một mình đủ thứ trên đời cho bào thai nghe” thì bất ngờ tiếng nói ấy là tiếng nói của người trong cuộc, vì lúc ấy, cái bào thai xuất hiện, điều đó đồng nghĩa với việc nhân vật “em” tự nhiên được đặt mình vào vị trí của người khác để cảm nhận, để hiểu, nên đã có sự thay đổi trong thái độ đánh giá về “cô Lựu”,Anh mở Đời cô Lựu, em ngượng ngùng: thương cô Lựu quá anh!”. Thực ra chi tiết “anh mở Đời cô Lựu” là cái cớ để em bày tỏ thái độ ngượng ngùng khi đã trót đánh giá và trách sai “cô Lựu” như đã thốt ra trước đó. “Thương cô Lựu quá anh!” là tiếng nói từ tận trong sâu thẳm tâm hồn nhân vật bật ra. Phải chăng bài thơ muốn chuyển đến cho độc giả một thông điệp, khoan hãy nhận xét đánh giá ai đó khi chúng ta chỉ là người ngoài cuộc!? Lời thơ nhẹ nhàng giản dị, giọng thơ tự nhiên, chân chất. Bài thơ tự sự gọn mà vang ngân dư ba hệt điệu Phụng Hoàng mượt dịu nhưng vẫn cồm cộm tình đời, tình người.

Em nói với anh về cô Lựu

 

Nhu nhược, chịu thương, nhẫn nhịn, đớn hèn

Không biết quyên sinh giữ tròn khí tiết

 

Đến lúc mang thai, em thường vuốt ve cái bụng

Nói âm thầm một mình đủ thứ trên đời cho bào thai nghe

Anh mở Đời cô Lựu, em ngượng ngùng: thương cô Lựu quá anh!

(Nguyễn Đinh Văn Hiếu – Trà Vinh)

Hai địa danh “Tản Viên”“Tiên Sa” xuất hiện để làm điểm tựa nhún nhảy cho chất lãng mạn loang ra “non xanh cúc quỳ đơm xanh vạt áo”, “gương hồ quyến luyến sương mai”. Một buổi sớm mai huyễn hoặc lung linh làm cho “hương núi còn say” hay người say hương núi? Chỉ biết cái thực “non xanh, cúc quỳ” đang hòa vào cái ảo “đơm xanh vạt áo” làm cho đoạn thơ vốn đã mang nặng tâm trạng “quyến luyến” giờ mơ hồ hơn trong khung cảnh thần tiên dịu vợi. Đoạn thơ phía dưới không thể không có bóng hình con người xuất hiện. Để thưởng ngoạn và để say nồng sau phút “ngẩn ngơ giữa đất trời trinh bạch”. Nhân vật em như thật như mơ “dịu dàng lụa nắng”. Sắc diện ấy sẽ không đủ để làm cho “ta” ngất ngây nếu thiếu đi hương vị ở câu dưới “hương chè lam thơm ngọt nét môi cười”. Một bài thơ ngắn dù chỉ có sáu dòng thôi nhưng lại thấy một bức tranh lãng mạn kì ảo được vẽ nên, ở đó có đầy đủ không gian (núi, non xanh, gương hồ), thời gian (sương mai), sắc màu (xanh, lụa nắng, chè lam) và con người với vẻ đẹp dịu dàng đằm thắm. Rõ ràng, cái không gian, thời gian kia đã làm nền tôn vinh cho vẻ đẹp con người. Những sắc thái tâm trạng thay đổi theo cái nhìn của nhân vật, từ chỗ “say” với cảnh, kế đến “quyến luyến” rồi thì“ngẩn ngơ” là phải chăng tác giả có ý muốn nhấn mạnh rằng, một khi thiên nhiên và con người hòa hợp, lúc ấy con người vẫn là đẹp nhất? Nếu để ý thêm một chút nữa, tác giả Hà Phi Phượng còn sử dụng cả nghệ thuật điện ảnh để hỗ trợ thêm trong việc xây dựng vẻ đẹp cho bức tranh ở đây, vì không gian thu hẹp dần theo điểm nhìn của sự quan sát, từ xa “Tản Viên non xanh”, “Tiên Sa gương hồ” đến gần là “em dịu dàng” như vạt “lụa nắng” ngoài kia. Giọng thơ ngọt. Lời thơ đằm. Người và cảnh hòa quyện bay bổng, lãng mạn.

Hương núi còn say

 

Tản Viên non xanh cúc quỳ đơm vạt áo

Tiên Sa gương hồ quyến luyến sương mai.

 

Ta ngẩn ngơ giữa đất trời trinh bạch

Em dịu dàng lụa nắng

Hương chè lam thơm ngọt nét môi cười.

(Hà Phi Phượng – Thái Bình)

Bức tranh về ngoại buồn đến thắt ruột. Bài thơ 1-2-3 của Lê Kỳ Nam buộc người ta phải lắng lòng mình lại. Có lúc nào đó ta lơ đễnh, hoặc vì công việc cuốn đi mà ta quên ngoại? Không có cơn triều cường thì nhà ngoại vẫn đó, cái cô quạnh nơi ấy chưa được nhân lên đến vậy, nên có thể làm cho con cháu không nhớ đến ngoại chăng? Chiều nay, triều cường. Lời thơ run run, tâm trạng nhân vật trữ tình như khụy xuống. Hình ảnh “Ngoại lom khom tát hoài ra ngạch cửa/ Từng ca nước run run vì mưa lạnh, lũ tràn” bùng lên cắt cứa lòng người. Ngoại đang lạnh run vì mưa hay lạnh run vì sự “cô quạnh”? Thơ gợi tả mà xồng xộc tuôn ra bao nhiêu nỗi niềm. “Triều cường” là nước lớn, nước dâng, mà “ngoại lom khom” cố tát từng “ca nước”, hình ảnh đối lập đến nghẹn ngào. Nhưng ngoại vẫn kiên nhẫn tát nước, ngoại kiên nhẫn với con với cháu cả đời này rồi. “Không ai về” dĩ nhiên là chỉ mình ngoại như vẫn thế. Ngoại âm thầm, không một lời oán trách, thở than. Và cũng không thấy lời mong ngóng ở đây vì phải chăng ngoại đã mong quá nhiều rồi? Câu thơ cuối kích cho ấm bài thơ lên hay làm cho bài thơ xót xa thêm “Chỉ có đốm nhang buồn ngoại thắp đỏ mênh mông”? “Đốm nhang” biết buồn hay “đốm nhang” làm cho không gian kia thinh lặng buồn bã cô quạnh hơn? Lại một sự tương phản được cài đặt ở câu cuối giữa “đốm nhang đỏ”“mênh mông” trong không gian im lặng. Những câu thơ khắc khoải, càng làm cho tình người thêm xạc xào. Lời thơ tỏa ra hun hút. Ý thơ phảng phất sự trách hờn nhưng lại mênh mông quặn thắt.

Trong nỗi cô quạnh giữa triều cường

 

Ngoại lom khom tát hoài ra ngạch cửa

Từng ca nước run run vì mưa lạnh, lũ tràn

 

Nội thành có xa gì đâu chỉ gần mươi cây số

Không ai về cho ngoại ấm lưng cong

Chỉ có đốm nhang buồn ngoại thắp đỏ mênh mông

(Lê Kỳ Nam – Cần Thơ)

Nữ sỹ Bùi Kim Anh có một bức tranh mùa thu hòa quyện với bức tranh lòng khá độc đáo. Cái nhìn Hà Nội với những nhát cọ họa hồn thu rất tinh tế “Thu tự nhiên với tất cả/ mặc riêng Hà Nội lối xưa”. Ở đó có phảng phất phong vị mùa thu xưa của Hà Nội. “Lối xưa”, “nơi ta chập chững bước đông”. Câu thơ vẽ nên bước chân nhi nhiên an lặng “mùa thản nhiên sang không cần gõ cửa”. Thu Hà Nội lặng, tình Hà Nội yên. “Nơi ta thu ngự trị quá lâu” là lời xác nhận hiển nhiên như đôi bạn. Cho nên lại thấy có phơ phất của sự đón nhận và cũng phơ phất của sự chuyển giao. Đều là tĩnh tại. Lời thơ đằm. Ý thơ sâu như mặc khải sự hòa hợp an yên.

Mà ta có trốn tránh nhau đâu

 

Thu tự nhiên với tất cả

mặc riêng Hà Nội lối xưa

 

Nơi ta thu ngự trị quá lâu

nơi ta chập chững bước đông

mùa thản nhiên sang không cần gõ cửa

(Bùi Kim Anh – Hà Nội)

Sài Gòn, 03.12.2021

KHANG QUỐC NGỌC

(còn tiếp)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.