Kỳ 1: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

Vanvn- Có thể nói, thơ 1-2-3 trên vanhocsaigon.com, vanvn.vn lúc này thật sự đã bước qua giai đoạn ồn ào ban đầu theo số lượng mà đang lặng lẽ bước từng bước đi dần vào chiều sâu của thi ca. Ở đấy, thấy có một vài tia sáng từ những chùm thơ 1-2-3 của nhiều tác giả đã bắt đầu lấp lánh, nó chưa đến độ hào quang chói gắt nhưng cũng đủ cho người ta một sự lặng lẽ ghi nhận gật đầu. Thành công bước đầu ấy đang rất cần cho phong trào sáng tác thơ 1-2-3, nó vừa hà hơi tiếp sức cho sự chạy bộ tự thân tỏa năng lượng tích cực ghị níu vừa như một yếu tố kích thích cho sự lan tỏa hơn nữa những cảm xúc sáng tạo chạy đua. Điều này, hiện tại rất đáng trân trọng!

Sau đây, chúng tôi xin mời quý vị cùng chúng tôi thưởng thức một vài những đốm lửa ấy từ hàng ngàn bài thơ của gần 500 tác giả sáng tác thơ 1-2-3!

Nhà thơ – nhà phê bình Khang Quốc Ngọc

Cái nhìn thiện tâm nhân quả tỏa sáng trong thơ 1-2-3 Tâm Như. Đây là một làn gió mát thiện lương nhân từ. Ý thơ chắc gọn, lời thơ tự nhiên, luận bàn mà như không hề luận bàn. Bài thơ là lời đề cao hành động từ tâm của con người, nó như là một hành trình từ tâm đi từ nhân đến quả. Bài thơ sử dụng nhiều động từ “rải”, “chảy”, “hóa thành”, “tỏa mát” như nhấn mạnh hành trình từ tâm là hành trình xâu chuỗi và kết nối hành động, như ngụ ý khẳng định cần lắm những hành động! Cái nhân yêu thương sẽ ra cái quả ngọt ngào. Đó là ước mơ và đó cũng là tất yếu. Cho nên, bài thơ như một lời bộc bạch tự nhủ, nhưng lại lấp lánh sắc màu hướng ngoại lan tỏa tích cực bởi lời nói tâm tình chia sẻ. Ý nghĩa cuộc sống thiện lành là “rải nụ cười, rải hạt xanh” vượt lên trên mọi nhu cầu điều kiện, tất cả sẽ có thế giới tự nhiên sắp đặt. Ấy là niềm tin thủ thỉ nhẹ nhàng mà sâu xa ý vị.

Rải nụ cười như rải những từ tâm

 

Giọt yêu thương chảy về biển rộng

Rải hạt xanh cho mầm mới sinh sôi

 

Rải nụ cười gieo nhân quả ngọt

Mai mốt vô thường hóa thành cát bụi

Hoa lá xanh tươi tỏa mát một góc trời

(Tâm Như – Bạc Liêu)

Lấy mùa thu để miêu tả sự yên bình của cuộc sống phải chăng đây là nét mới lạ trong thơ Từ Dạ Linh? Cái gam màu chất chứa niềm “kiêu hãnh” được gợi ra từ màu truyền thống của mùa thu lá vàng, nhưng qua sự cảm nhận của nhà thơ, thì màu vàng ấy không còn là tiếng nói báo hiệu cho sự tàn úa mà là một sắc màu đầy nội lực cho sự sống “cỏ cây cũng khoác áo hoàng bào”. Ta vẫn thấy một mùa thu đầy thi vị nhưng là thi vị được đặt trong một cảm thức mới khỏe khoắn và đầy năng lượng tích cực. Bởi thế, ý thơ phát triển đến một sự thực bung tỏa cho những ước mơ vượt thoát trỗi dậy lớn lao chăng? Ở đó, nhân vật trữ tình dường như đang bừng tỉnh mà vượt qua “cơn ngái ngủ”, “đời chật hẹp” để hướng tới một ngày mai “rộng đường bay rộn rã cánh chim bằng. Mùa hạ cánh, nắng thu vàng, lấp lánh điệu bình yên”. Do vậy, người đọc có cảm nhận, mùa thu được tác giả sử dụng phía trên như một dấu hiệu báo trước cho một cuộc vượt thoát độc đáo của nhân vật trữ tình. Đó không chỉ là khát khao mà đó còn như một dự liệu, phác họa tươi tắn đầy những tự tin cho tương lai “lấp lánh điệu bình yên” qua ý thơ mềm, lời thơ mượt:

Mùa thu dệt nét tơ trời bình yên

 

Chỉ có mùa thu đầy kiêu hãnh

Đến cỏ cây cũng khoác áo hoàng bào

 

Cơn ngái ngủ bỏ quên đời chật hẹp

Rộng đường bay rộn rã cánh chim bằng

Mùa hạ cánh, nắng thu vàng, lấp lánh điệu bình yên!

(Từ Dạ Linh – Kon Tum)

Hai câu hỏi tu từ chốt ở hai đoạn thơ, điều đó đồng nghĩa với việc 30% câu từ bài thơ xoắn lại thành câu hỏi. Câu thơ mở đầu “những lời thì thầm bên nhang khói” dường như ẩn chứa điều gì đó là lạ? Thoạt mới nghe tưởng rằng nhân vật trữ tình của bài thơ đang thầm thì nguyện cầu gì đó chăng? Người ta thầm thì bên nhang khói nếu không cầu nguyện thì làm gì? Hóa ra không phải. Sự thì thầm kia là sự thì thầm hướng vào cái bản ngã bên trong con người mình. Lời thơ như lời tâm kinh khai mở bản vị con người. Cái nhìn bề ngoài của người chưa ngộ đạo chỉ thấy sự giả tạo bủa vây. Cái nhìn ngộ đạo còn thấy sâu sắc hơn sự giả dối bên ngoài. Đôi khi vì lí do này lí do kia mà người tu đã mượn cớ phương tiện hóa mà đành mượn thuyền chở trăng hay mượn thân chịu chửi để rèn cho được sự kiên định? “Tháng bảy âm hồn” mới có sự “độ siêu linh”, thế thì phía trên “khi mình nghèo khó” đích thị không phải là sự nghèo khó tiền tài. Xâu chuỗi ý thơ cả ba phân đoạn người ta đã thấy một điều mà tác giả muốn gửi gắm: tự tâm tu lành đem ánh sáng thiện tâm mà soi rọi vào năm uẩn để bừng giác giấc ngộ đó là sự thì thầm ước ao tự thân tu tâm. Lời thơ tự sự, kết nối cả một chút luận giải mang màu sắc biện giải đã một lần nữa khắc họa kiểu nói thơ rất Trần Huy Minh Phương:

Những lời thì thầm bên nhang khói

 

đa phần là giả – bạn mình nói vậy

ai có thể thương hết thảy mọi loài khi mình nghèo khó

 

tháng bảy âm hồn nhiều sao độ hết siêu linh

thôi, hãy độ và siêu cho chằng chịt năm uẩn này ra ánh sáng

tu đâu kể một ngày đôi ba tháng – sao không thể từ tâm

(Trần Huy Minh Phương)

Bài thơ “Muốn rõ mình phải rốt ráo tự soi” tác giả Nguyễn Ngọc Hưng như đang đặt ra cho độc giả một vấn đề thường ngày bao bọc lấy con người mà vì tâm lí thích khen hơn nghe chê đã khiến con người đánh rơi chức năng “tự soi” trong bản thể con người mình. Giọng thơ chiêm nghiệm và chân tình. Sự chia sẻ bởi bài thơ như được chưng cất từ sự trải nghiệm. Ý thơ đằm đằm sâu lắng. Ở đó, không chỉ có sự tự răn mà còn có cả sự giãi bày. Một bài học nhân sinh được xàng xẩy không quá dụng công nhưng giàu ý nghĩa giáo dục. Không “tự soi” để được “rõ mình” thì mong cầu gì rõ người? Thực ra, một khi đã “tự soi” rồi thì lo gì không “luôn tiếp thụ khi người ta trung thực chửi hay chê đúng”, tâm sẽ sáng không bị dắt đi thổi thành bong bóng bởi “thiên hạ vị tình ca ẩu tụng sai”! Minh triết sẽ hé lộ khi ánh sáng “tự soi” luôn được duy trì mọi lúc mọi nơi. Sâu sắc thấm thía và cũng thật hiện sinh!

Muốn rõ mình phải rốt ráo tự soi

 

Luôn tiếp thụ khi người ta trung thực chửi hay chê đúng

Chẳng đón mừng lúc thiên hạ vị tình ca ẩu tụng sai

 

Tự biết mình chỗ trắng chỗ đen nơi ngắn nơi dài

Năm bảy vô năng xen lẫn một vài hữu dụng

Có hơn ai mà vênh váo huênh hoang “chân đức” với “thực tài”?

(Nguyễn Ngọc Hưng – Quảng Ngãi)

Vũ Tuyết Nhung đã rất khéo léo trong việc sử dụng kiểu kĩ thuật “truyện lồng truyện” ở trong văn tự sự để xây dựng khá thành công hình tượng “khái niệm người tốt” trong bài thơ “Có nhiều cách nghĩ khác nhau về khái niệm người tốt”. Người tốt là những con người luôn tìm mọi cách cứu người, sẵn sàng xả thân cứu giúp, mục đích của họ là làm sao cho “nạn nhân đuối nước kia được đưa vào bờ”, được “sơ cứu” nhanh chừng nào tốt chừng ấy. Mọi người bị hút vào công việc “sơ cứu” nạn nhân. Chỉ có một nhân vật trữ tình “tôi” là có phát hiện ra một người khác “hoảng loạn đứng ngoài” cũng đang rất cần sự hỗ trợ cứu giúp. Cái nhìn nhân văn và sự nhạy cảm đã giúp nhân vật trữ tình “tôi” hiện ra cực kì nhân hậu. Cử chỉ “ôm cậu bé vào lòng” và khuyên nhủ “rồi anh cậu sẽ tỉnh lại” nghe ấm lòng làm sao! Trong kinh Phật gọi là kiểu “vô úy thí”, nghĩa là làm cho người khác không sợ sệt, vững tin hơn. Hành vi “cậu bé lau nước mắt mỉm cười” cho thấy cậu bé đã bớt sợ. Sự an ủi kia đã có kết quả. Kết quả nở hoa thêm một lần nữa: “lòng tôi cũng rất vui”. Quả thật lòng tốt cho đi là nhận lại. Bài thơ gọn, chặt, lời thơ tự sự mà sâu sắc như một bài học giàu triết lí nhân sinh. Rồi còn như ngầm gửi đến độc giả rằng hãy tôn trọng sự tự do và đa dạng của cuộc sống!

Nhà thơ Phan Hoàng trao Tặng thưởng Thơ 1-2-3 cho tác giả Vũ Tuyết Nhung ở Hà Nội, 11.2020.

Có nhiều cách nghĩ khác nhau về khái niệm người tốt

 

Sáng hôm nay một nạn nhân đuối nước được đưa vào bờ

Lập tức có người sơ cứu, mọi người xúm quanh bàn tán

 

Không ai để ý đến em trai nạn nhân hoảng loạn đứng ngoài

Tôi ôm cậu bé vào lòng: Rồi anh cậu sẽ nhanh tỉnh lại

Cậu bé lau nước mắt mỉm cười và lòng tôi cũng rất vui

(Vũ Tuyết Nhung – Thanh Hóa)

Thơ Trần Thanh Dũng vẫn kiểu “lửng lơ con cá vàng” nhưng lại ẩn chứa sự đau đớn phía sau con chữ, cái giọng thơ bỡn cợt của anh, ta lại được bắt gặp ở trong bài thơ này. Mở đầu bài thơ đã là một câu hỏi tu từ “Chân lí có mọc ra vòi bạch tuộc”. Anh cứ thủng thẳng đưa ra những mệnh đề “giả thuyết đôi khi không cần chứng minh/ học thiệt và học giả có khi là giả thiệt”, và câu thơ cũng như là một ý nghĩ dự đoán vậy “hình như thế giới luôn phóng đại dưới mắt kính hiển vi” để rồi phía sau lại là những câu hỏi tiếp nối “những câu hỏi có làm giàu thêm tri thức/ sự nghèo đói cần gì mọc vòi?”. Trước đó là sự tủm tỉm chơi chữ thật thú vị “học thiệt và học giả có khi là giả thiệt” khiến chúng ta đọc lên không thể không giật mình và nhói lòng. Dư âm đọng lại ở bài thơ anh nơi độc giả là một câu hỏi dài đến bất tận. Chữ ít mà ý nhiều, anh đã đưa sự hàm súc của tứ tuyệt vào trong thơ 1-2-3, tạo cho bài thơ nhiều dư ba suy lắng.

Chân lý có mọc ra vòi bạch tuộc

 

giả thuyết đôi khi không cần chứng minh

học thiệt và học giả có khi là giả thiệt

 

những câu hỏi có làm giàu thêm tri thức

hình như thế giới luôn phóng đại dưới mắt kính hiển vi

sự nghèo đói cần gì mọc vòi?

(Trần Thanh Dũng)

Cái nhìn thấu cảm nhân sinh bằng con mắt của một người lính nên có sự trung thực dũng cảm. Bài thơ “Có binh pháp nào cho tướng quân, binh sĩ” của Huỳnh Thanh Liêm mượn cách suy nghĩ của quân đội xưa nay, với nhiều từ ngữ hình ảnh mang màu sắc quân ngũ: binh pháp, tướng quân, binh sĩ, chiến đấu, vòng vây, người lính, hy sinh, thiêng liêng, quân thù, bi tráng để tập trung diễn giải vấn đề nhân sinh, nhân quần. Không có sự trung thực, chỉ “lặng im rồi quanh co nước sông công lính” mà không có sự rạch ròi thì cuối cùng cũng chỉ đi đến một hậu quả khôn lường “không sống mái với quân thù nên bi tráng hóa bi thương”. Câu thơ cuối như một đúc kết chiêm nghiệm khó tránh ở đời, nó đau đáu như một tiếng thở dài, nhưng lại dứt khoát như một vết chém quyết đoán. Tôi đồ rằng tác giả Huỳnh Thanh Liêm đã là một người lính dạn dày và can trường. Không thế sẽ không thể có một câu thơ tự nhiên hay bất ngờ đến thảng thốt như vậy!

Có binh pháp nào cho tướng quân, binh sĩ

 

Chiến đấu trong vòng vây nhân quả, thực thi trả giá?

Phải trung thực câu trả lời, trung thực diễn văn lí giải

 

Không thể lặng im rồi quanh co “nước sông công lính”

Người lính trung thành, hy sinh nào cũng thiêng liêng điều gửi lại

Không sống mái với quân thù nên bi tráng hóa bi thương

(Huỳnh Thanh Liêm)

“Hội tụ những thân phận không cần quá khứ” là một câu thơ mở đầu bài thơ như cho thấy người viết đã cảm được cái chất giang rộng vòng tay nhân ái và chấp chứa bao dung của Sài Gòn. Một sự chở che và dung nạp không hề có chút mùi vị của sự phân biệt cao thấp, sang hèn; là nơi đất lành chim đậu hội tụ trăm miền “dung thân bao con người xa xứ”, từ “kẻ cao sang trí thức đến bà mẹ gánh nhặt ve chai”. Đấy là sự quan sát, sự chiêm nghiệm đúc rút theo chuỗi những sự việc và con người theo thời gian. Những câu thơ mở ra tả thực mà như ẩn chứa sự trân trọng và lòng cám ơn. Điều gì đã giúp Sài Gòn hoa lệ có được sự bao dung độ lượng lớn lao ấy? Ba câu thơ phía sau như là chìa khóa trả lời đã mở toang thắc mắc trên: “Bình đẳng” tự do và lối sống đậm “tình người” đã tạo ra sức mạnh tinh thần dung chứa lớn lao ấy cho Sài Gòn. Lời thơ mang màu sắc kiếm tìm và khai mở, để rồi sau cùng đọng lại ánh sáng tràn đầy năng lượng tích cực cho “ngày mai” “lấp lánh”. Lời thơ tự nhiên, trong sáng pha chất tự luận làm cho bài thơ thấm chất ngợi ca mà không hề lộ liễu, nó như một sự cảm nhận chân thành tự thân vậy.

Hội tụ những thân phận không cần quá khứ

 

Sài Gòn dung thân bao con người xa xứ

Kẻ cao sang trí thức đến bà mẹ nghèo gánh nhặt ve chai

 

Bình đẳng xin việc làm hay chạm ly bia tụ bạn

Ấm áp tình người bữa ăn xã hội mở rộng vòng tay

Lầm lũi mỗi phận người cũng lấp lánh một ngày mai

(Hoàng Hải Phương)

Sài Gòn những ngày giãn cách 2021

KHANG QUỐC NGỌC

(Còn tiếp)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *