Nhà thơ Nguyễn Hữu Điền: Trọn vẹn với đất, trọn tình với thơ

Cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hữu Điền là một tấm gương sáng về tinh thần phụng sự và tình yêu văn hóa nghệ thuật. Ông đã đi qua một chặng đường dài đầy cống hiến, để lại không chỉ những thành quả phát triển kinh tế – xã hội cho quê hương Phú Thọ mà còn cả một di sản thơ ca giàu cảm xúc…

Trong đời sống chính trị, văn hóa, văn nghệ của vùng đất Tổ Phú Thọ, Nguyễn Hữu Điền là một chân dung đặc biệt. Cả cuộc đời ông là sự hòa quyện trọn vẹn giữa hai con người: Một nhà lãnh đạo kiên trung, tận tụy, luôn trăn trở với sự phát triển của quê hương và một tâm hồn nghệ sĩ tha thiết với văn hóa, lịch sử, đắm đuối với thơ ca. Dù ở cương vị lãnh đạo cao nhất của tỉnh hay khi đã trở về với cuộc sống đời thường, ông vẫn giữ trọn một tâm thế bình dị, dễ gần, dễ mến và một tấm lòng trọn vẹn với đất, trọn tình với thơ.

Người lãnh đạo nặng lòng với Đất

Ông Nguyễn Hữu Điền sinh năm 1946 tại Bạch Hạc – Việt Trì (nay là phường Thanh Miếu, tỉnh Phú Thọ). Vùng đất ngã ba sông không chỉ là một danh thắng thiên nhiên kỳ vĩ mà còn là “cột mốc tâm linh”, lưu giữ ký ức lịch sử và bản sắc văn hóa cội nguồn của người Việt. Năm 1972, Nguyễn Hữu Điền đang là Chủ tịch UBND thị trấn Bạch Hạc, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc đã tình nguyện lên đường nhập ngũ và được biên chế vào đơn vị xe tăng – thiết giáp. Tháng 8.1972, ông cùng đơn vị hành quân vào Nam chiến đấu. Tiếp sau đó, ông làm Trợ lý Chính trị Lữ đoàn 201 và Trợ lý Tổ chức Bộ Tư lệnh Binh chủng Tăng – Thiết giáp.

Nhà thơ Nguyễn Hữu Điền nguyên Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ

Sau giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, ông trở về công tác trên quê hương đất Tổ với nhiều cương vị như: Phó Bí thư Thành ủy – Chủ tịch HĐND thành phố Việt Trì, Bí thư Thành ủy Việt Trì, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Phó Bí thư – Chủ tịch UBND tỉnh, Bí thư Tỉnh ủy – Chủ tịch HĐND tỉnh Phú Thọ.

Sinh ra và lớn lên trên vùng đất bãi bồi nghèo khó nhưng giàu truyền thống lịch sử, văn hóa Nguyễn Hữu Điền hiểu rõ từng hơi thở của đất, từng giọt mồ hôi của người dân lao động. Trên cương vị Bí thư Tỉnh ủy, ông cùng tập thể Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh trăn trở tìm hướng đi cho Phú Thọ trong những năm tháng đổi mới. Đối với ông, “Đất” không chỉ là địa giới hành chính mà là cội nguồn sức mạnh, là đất Tổ Hùng Vương linh thiêng, là đời sống của hàng triệu người dân. Tinh thần “trọn vẹn với Đất” của ông được thể hiện qua những quyết sách sâu sát về phát triển kinh tế – xã hội: Hình thành và phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp đầu tiên của tỉnh;  chú trọng nông nghiệp, nông thôn; chăm lo đời sống người dân vùng sâu, vùng xa; đồng thời quan tâm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của vùng đất Tổ.

Sự kiên định, tâm huyết và quyết liệt trong công việc của ông đã góp phần tạo nên những bước chuyển mình quan trọng của tỉnh Phú Thọ qua các thời kỳ. Dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, ông Nguyễn Hữu Điền vẫn giữ nguyên phong cách sống giản dị, gần gũi, điềm đạm lắng nghe tiếng nói của nhân dân. Tình yêu đất nước, yêu quê hương ở ông không phải là những khái niệm trừu tượng mà được cụ thể hóa bằng những việc làm thiết thực, bằng sự cống hiến không ngừng nghỉ cho sự phát triển của tỉnh nhà.

Bên cạnh sự quan tâm ở tầm vĩ mô, chúng ta còn nhận thấy ở ông Nguyễn Hữu Điền luôn đau đáu với nơi chôn nhau cắt rốn: Quê hương Bạch Hạc – chốn địa linh nhân kiệt, đặc biệt trong việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử. Trong “Lĩnh Nam trích quái”, Nguyễn Trãi viết: “Bạch Hạc thuộc đất Châu Phong, xưa có cây Chiên đàn, chim hạc trắng bay về đậu trắng xóa cả một vùng nên gọi là Bạch Hạc. Nơi đây chính là cố đô của nước Văn Lang xưa, nơi các Vua Hùng khai sơn phá thạch, xây dựng cơ đồ”. Sử cũ cũng chép, thời nhà Đường đô hộ nước ta, Thông Thánh Quán được xây ở ngã ba Hạc.

Nơi đây còn có di tích đền Tam Giang nổi tiếng, thờ Đức Thánh Hạc (Thổ lệnh Cao quan Bạch Hạc Đại Vương) với bước chân khổng lồ in hằn trước cửa đền năm tháng phôi phai. Ông đã cho khôi phục di tích này và chính tôi có may mắn được tham gia thực hiện công việc ý nghĩa đó. Đền Tam Giang còn có 5 quả chuông đồng lớn (đại hồng chung), sau nhiều biến cố đã bị thất lạc, không cánh mà bay. Nguyễn Hữu Điền là người quyết tâm hành trình gian nan nhiều năm để cuối cùng tìm được, trả lại vật thiêng cho làng. Vùng đất linh Bạch Hạc – nơi bến Tam Giang – còn ghi dấu các trận thủy chiến lẫy lừng chống quân Nguyên – Mông của vị danh tướng nhà Trần: Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật. Tâm huyết với lịch sử dân tộc và quê hương, ông Nguyễn Hữu Điền cũng đã dựng tượng tri ân vị danh tướng tài thao lược và giỏi ngoại giao này.

Nhà thơ – Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hữu Điền gặp gỡ văn nghệ sĩ Phú Thọ 

Tâm hồn nghệ sĩ trọn tình với thơ

Nhiều người thường nghĩ công việc lãnh đạo với những con số, chỉ tiêu và nghị quyết khô khan sẽ dễ làm xơ cứng tâm hồn; nhưng với Nguyễn Hữu Điền thì ngược lại. Thơ ca đối với ông như một dòng sông mát lành chảy song hành cùng công việc chính trị, giúp ông cân bằng cuộc sống, bộc lộ những góc khuất tâm hồn sâu lắng và nhân văn nhất.

Nếu như trong quản lý, ông là một người lãnh đạo quyết đoán, đề cao nguyên tắc tập trung theo phương châm “nguyên tắc cứng, phương pháp mềm” thì trong thơ, ông trở về là một người con nhân từ, đa cảm của quê hương. Thơ Nguyễn Hữu Điền không màu mè, xa hoa về từ ngữ hay cầu kỳ về hình thức; thơ ông đi thẳng vào lòng người bằng sự chân thành, mộc mạc nhưng chan chứa tình cảm, nặng lòng với lịch sử và văn hóa cội nguồn. Ông dành nhiều vần thơ sâu lắng, kính cẩn hướng về Đền Hùng và các bậc tiền nhân.

“Chỗ Bác cháu ta ngồi là vùng đất Phong Châu/ Vua Hùng từng dạy dân mình trồng tre đánh giặc/ Dạy dân cấy cày dạy cách ăn mặc/ Khi nhìn về phía trước nhớ sau lưng/ Chinh chiến bao năm trong nhịp trống đồng rung/ Chim Lạc vẫn bay cùng màu áo lính/ Như buổi ấy Bác Hồ trên Nghĩa Lĩnh/ Nhận về mình trách nhiệm với đời sau” (Bên giếng Ngọc chiều nay)

“Các cuộc khai quật đã chứng minh rõ ràng/ Cách bốn ngàn năm người Việt đã làm ra hạt gạo (1)/ Di chỉ Làng Cả nhiều hiện vật bằng đá đồng gốm/ Những di tích này thuộc giai đoạn Đông Sơn” (Bản Ngọc phả vĩnh hằng)

Chủ đề xuyên suốt trong các tập thơ của ông vẫn là tình yêu sâu nặng với quê hương Phú Thọ, với dòng sông Thao, sông Lô, với những đồi chè xanh ngát và những bãi bồi phù sa. Ông viết về mẹ, viết về đồng đội, về những người dân lao động bình dị bằng tất cả sự trân trọng và biết ơn. Đọc thơ ông, người ta cảm nhận được nhịp đập của một trái tim luôn trăn trở cùng thời cuộc: Luôn đau đáu trước những khó khăn của người dân và hân hoan trước từng đổi thay của quê nhà.

“Hòn Gành bên sông cây lớn mọc rồi (1) / Chim đậu trắng cả một vùng sông nước/ Và vì thế thành tên làng Bạch Hạc/ Thủy tụ, sơn chầu vùng đất tứ linh/ Nhà nước Văn Lang trong buổi bình minh/ Vua tuần thú trên sông Hồng, sông Cả/ Về hội tụ dưới bóng cây lớn đó/ Bàn việc quân cơ nên cây gọi Chiên Đàn” (Đất quê ta)

Đặc biệt, trong những vần thơ viết sau khi rời quân ngũ hay khi đã nghỉ hưu, cái “tình” trong thơ Nguyễn Hữu Điền lại càng đậm đà hơn. Đó là sự chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời, về nhân tình thế thái và về lẽ sống. Ông nhìn lại chặng đường đã qua bằng thái độ thanh thản, tự tại, không vướng bận danh lợi.

“Thời chúng tôi cuốn sách gối đầu giường/ Là tiểu thuyết “Thép đã tôi thế đấy”/ Đã thôi thúc và nâng hồn ta dậy/ Gọi ta đi khám phá những chân trời” (Thời chúng tôi)

Thơ trở thành người bạn tri kỷ, là nơi ông gửi gắm những suy tư về thời gian, về thế hệ tương lai và tình yêu bền chặt dành cho mảnh đất Tổ Hùng Vương.

Từ trái sang, các nhà văn nhà thơ quê Phú Thọ: Nguyễn Trọng Tân, Nguyễn Hữu Điền, Trần Quang Quý và Nguyễn Đình Ánh

Bên cạnh mảng thơ về quê hương, nhà thơ Nguyễn Hữu Điền còn có những vần thơ đầy xúc động dành cho đồng đội – những người đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

“Giữa đạn nổ bom rơi “Năm anh em” vẫn hát/ Giờ có lúc giật mình đớn đau mất mát/ Khi trở về nơi ấy Trường Sơn/ Hai mươi tám năm qua ai mất ai còn/ Vẫn có những chàng trai mong cha về mỏi mắt/ Vẫn có những cô gái thấy mẹ nhiều chủ nhật/ Đóng cửa buồng ngồi đọc “những ngày xưa” (Vẹn nguyên chất thép)

Nét đặc sắc trong thơ Nguyễn Hữu Điền là sự tự nhiên, mộc mạc nhưng giàu lắng đọng. Thơ ông không cầu kỳ về hình thức mà chú trọng vào cảm xúc chân thành của một người con luôn hướng về cội nguồn. Nhiều tác phẩm thơ của ông như: “Phú Thọ quê ta”, “Đất quê ta”, “Bên giếng Ngọc chiều nay”, “Vẹn nguyên chất thép”, “Chim đậu đất lành”… đã được các nhạc sĩ phổ thành những bài hát rất truyền cảm. Trong đó, có những ca khúc rất hay, lan tỏa rộng rãi trong đời sống tinh thần của người dân Phú Thọ và cả nước, từng làm nên một đêm nhạc đầy ấn tượng với các ca khúc phổ thơ Nguyễn Hữu Điền.

“Đàn chim thân thương trở về đất Tổ/ Phù sa bồi Bến Gót mãi sinh sôi/ Kinh đô Văn Lang lồng lộng dưới sao trời/ Nhà có số phố có tên người đi về tấp nập” (Chim đậu đất lành)

Cũng chính với tình cảm và tâm hồn của một nhà thơ, trọng các giá trị tinh thần mà ngay từ khi ở cương vị Bí thư Thành ủy Việt Trì, ông đã quan tâm chỉ đạo thành lập Hội Văn học nghệ thuật thành phố – Hội Văn nghệ cấp huyện đầu tiên của tỉnh Phú Thọ. Từ mô hình ấy, sau này chúng tôi đã thành lập thêm được 5 Hội VHNT cấp huyện. Khi lên tỉnh công tác, trải qua những cương vị như Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh, Bí thư Tỉnh ủy – Chủ tịch HĐND tỉnh, ông luôn dành dự quan tâm đặc biệt cho hoạt động VHNT của tỉnh nhà.

Tôi nhớ mãi hình ảnh người Bí thư Tỉnh ủy giản dị, nhẹ nhàng, gần gũi năm nào – hình ảnh mà sau này tôi gặp lại nhiều ở Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Nhớ những lần ông sang làm việc với Ban Chấp hành Hội; thăm hỏi, động viên, chúc mừng năm mới các văn nghệ sĩ cao tuổi mỗi dịp Tết đến, Xuân về; hay những sự kiện do Hội tổ chức, mời ông, ông đều đến dự. Ông đứng tên viết lời giới thiệu cho hai bộ Tuyển tập 30 năm Văn học và Nghệ thuật Phú Thọ. Kỷ niệm ngày Báo chí cách mạng 21.6 hằng năm, ông cũng thường đến Hội tặng hoa, chúc mừng những người làm báo chí văn nghệ chúng tôi; khi bận thì ông cử cấp dưới đi thay. Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, quyết định cho Hội được mua xe ô tô mới phục vụ công tác…

Tôi nhớ một lần Hội tổ chức Ngày Thơ Việt Nam, hôm ấy có nhà thơ Phạm Tiến Duật lên dự. Vì bận họp Trung ương không về dự được, ông đã cho thư ký đến tặng Hội toàn bộ số tiền nhuận bút các bài viết, bài thơ của ông đăng trên các báo để thêm vào quỹ sáng tác của Hội. Sự hỗ trợ này là bởi trước đó theo đề xuất của Hội khi còn là Chủ tịch UBND tỉnh, ông đã duyệt cấp cho Hội ba trăm triệu đồng làm quỹ hỗ trợ sáng tác cho hội viên.

Cuối chiều hôm ấy, sau khi họp Trung ương về, ông đến thẳng Hội gặp nhà thơ Phạm Tiến Duật. Bên bàn trà hai người lính từng xông pha trận mạc, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hữu Điền chia sẻ: “Phú Thọ là đất Tổ cội nguồn, nơi có những giá trị văn hóa, lịch sử độc đáo. Đồng thời, Phú Thọ còn là cái nôi của nền văn nghệ cách mạng thời kỳ kháng chiến chống Pháp – nơi diễn ra Đại hội thành lập Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1948 tại Hạ Hòa. Nhiều tên tuổi lớn của nền văn nghê nước nhà với nhiều tác phẩm bất hủ của họ được ra đời tại Phú Thọ. Từ ý nghĩa và truyền thống ấy mà tỉnh Phú Thọ luôn quan tâm, ưu ái, tạo cho đội ngũ văn nghệ sĩ và Hội những điều kiện tốt nhất để hoạt động”.

Về phần mình, nhà thơ Phạm Tiến Duật cho biết ông rất tự hào về quê hương có những lãnh đạo, đặc biệt là Bí thư Nguyễn Hữu Điền luôn coi trọng văn chương nghệ thuật, trân trọng kẻ sĩ; bởi họ và tác phẩm của họ đã góp phần nuôi dưỡng, chăm sóc phần hồn cho người dân. Nhà thơ cám ơn lãnh đạo tỉnh đã tạo nhiều điều kiện tốt nhất cho giới văn nghệ sĩ tỉnh nhà; tự hào về Hội Phú Thọ – có nhiều hoạt động văn học nghệ thuật sôi động, được cả nước biết đến và ghi nhận.

Không chỉ Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hữu Điền mà các vị lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh ngày ấy đều rất quan tâm, tạo mọi điều kiện cho Hội VHNT tỉnh hoạt động. Trong đó phải kể đến ông Bùi Đình Thi – Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy. Từ khi còn là Phó Văn phòng Tỉnh ủy kiêm thư ký Bí thư, rồi làm Trưởng Ban Tuyên giáo, nay là Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy, lúc nào đồng chí cũng quan tâm, ủng hộ Hội và dành tình cảm đặc biệt cho anh chị em văn nghệ sĩ tỉnh nhà.

Sau này, khi nghỉ công tác về với đời thường, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hữu Điền cùng người vợ thảo hiền – bà Trần Thị Phong sống cuộc đời thanh đạm, đọc sách, làm thơ, nêu tấm gương sáng cho con cháu noi theo. Thật hồng phúc cho gia đình, con trai ông là ông Nguyễn Hữu Đông, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Sơn La, hiện là Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương, Ủy viên Ủy ban Thường Vụ Quốc hội, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Trưởng ban Tổ chức Đảng ủy Quốc hội, Bí thư Đảng ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội.

Thi thoảng lại thấy ông đến với Hội, tham dự các sự kiện do Hội tổ chức – không chỉ với tư cách là nguyên Bí thư Tỉnh ủy, mà cả với tư cách là nhà thơ hội viên của Hội. Ông còn vui vẻ tham gia làm Chủ tịch danh dự Câu lạc bộ Thơ Việt Nam tỉnh Phú Thọ. Ông thanh cao, giản dị, gần gũi và hòa mình  cùng anh chị em văn nghệ sĩ trong mọi hoạt động văn hóa, văn nghệ.

Điều ấy ở những người khác từng là chính khách như ông khó có thể làm được bởi những mặc cảm địa vị xã hội. Nhưng với ông, chính sự hòa mình, giản dị và chân thành ấy đã dựng nên một tượng đài của sự tôn kính trong lòng những người dân và văn nghệ sĩ đất Tổ hôm nay.

Nhà thơ Nguyễn Hữu Điền tặng hoa chúc mừng nhà thơ Phan Hoàng giao lưu tặng sách ở Phú Thọ, 10.2025.

Sự hòa quyện giữa trách nhiệm và tâm hồn

Cái hay và cái đẹp ở Nguyễn Hữu Điền chính là sự hòa hợp giữa chính trị và thi ca. Sự quyết đoán của một người lãnh đạo giúp cho thơ ông có cái nhìn rộng lớn, tầm vóc và giàu tính tư tưởng; ngược lại, sự tinh tế của một tâm hồn thi sĩ, của sự đọc nhiều, biết nhiều lại giúp công tác lãnh đạo của ông trở nên uyển chuyển, thấu hiểu, gần gũi và nhân văn hơn. Trong ông luôn tâm niệm và ghi nhớ:

“Ơn nghĩa nhiều vùng đất ngã ba sông/ Nuôi ta lớn dạy ta thành chiến sỹ/ Chân cứng đá mềm vắt qua hai thế kỷ/ Để hôm nay khôn lớn thành người”. (Nhớ bến Hạc)

Ông không dùng thơ để làm dáng hay phô trương mà dùng thơ như một cách để sống thật nhất với chính mình. Dù ở đỉnh cao sự nghiệp hay khi trở về làm một ông lão làng quê thanh thản, ông Nguyễn Hữu Điền vẫn giữ nguyên một tâm thế: sống chân thành, giản dị, làm việc hết mình và yêu thương trọn vẹn.

“Ta đã nhận nhiều đời ban tặng/ Phải gắng làm điều thiện cho đời/ Đừng hận thù, tham lam, độc ác/ Cuộc đời là quy luật người ơi!” (Tâm sự cuối năm)

Cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hữu Điền là một tấm gương sáng về tinh thần phụng sự và tình yêu văn hóa nghệ thuật. Ông đã đi qua một chặng đường dài đầy cống hiến, để lại không chỉ những thành quả phát triển kinh tế – xã hội cho quê hương Phú Thọ mà còn cả một di sản thơ ca giàu cảm xúc; những quan tâm chỉ đạo, những quyết sách về gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa, văn học nghệ thuật vùng đất Tổ. Tên tuổi của ông sẽ còn đọng lại trong lòng người dân và văn nghệ sĩ đất Tổ như một hình mẫu đẹp: Người cán bộ trọn vẹn với đất, người nghệ sĩ trọn tình với thơ.

Phú Thọ, tháng 9.2026

ĐỖ NGỌC DŨNG

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *