Nhà thơ Nguyễn Tấn Việt: Con đường của sự mơ hồ

VHSG- Cho đến bây giờ, tôi vẫn không sao thoát khỏi hình ảnh về nhà thơ Nguyễn Tấn Việt. Đó là một con đường đơn độc – con đường của thơ ca – và Nguyễn Tấn Việt đi trên con đường ấy từ thuở mười tám đôi mươi cho đến giờ. Ông cứ thế kiên nhẫn bước đi chưa một lần ngừng bước. Dù cho thời tiết và con người thay đổi thế nào, quanh ông và tay ông chưa bao giờ dời bỏ ngọn lửa của thơ ca.

Thơ ca chạm vào ông giống như lửa chạm vào xăng không gì có thể ngăn nổi. Không ít người đã từng kêu lên: thơ đã chết. Nhưng ông là một trong không nhiều nhà thơ là sự minh chứng tin cậy nhất rằng, thơ ca vẫn sống mãnh liệt trong đời sống con người. Gương mặt ông đẹp nhất, thánh thiện nhất và uy quyền nhất là những khi ông đọc thơ. Ông đứng đọc thơ giống như một con chim đang bay thẳng đứng lên trời xanh và vừa bay vừa cất tiếng hót. Khi ông đọc thơ thì mọi ưu phiền không phải trong ông mà trong chúng ta vụt tan biến.

Nhà thơ Nguyễn Tấn Việt

Sau khi Nguyễn Tấn Việt tốt nghiệp Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, ông trở thành phiên dịch cho các chuyên gia Thụy Điển trong những ngày đầu xây dựng Nhà máy Giấy Bãi Bằng. Đấy là những năm 70 của thế kỷ trước. Ngày ấy, những chùm thơ của ông thường xuyên xuất hiện trên Báo Văn nghệ và các tờ báo lớn. Nhưng rồi đến một ngày, ông phải lựa chọn một trong hai con đường. Một con đường của hiện thực vật chất (làm việc cho người nước ngoài) và một con đường của sáng tạo mơ hồ (thơ ca). Ông đã chọn con đường của sự mơ hồ và bước đi với tình yêu lớn mà không hề lưỡng lự. Đấy là con đường mà mỗi nhà thơ phải tự đi một mình. Ông dời bỏ công việc phiên dịch cho các chuyên gia Thụy Điển để về làm biên tập thơ cho một tạp chí nhỏ hai tháng ra một kỳ của một phòng sáng tác thuộc một Ty Văn hóa Thông tin.

Làm cho các chuyên gia nước ngoài ngày đó và cả bây giờ luôn luôn là một cơ hội tốt để thay đổi đời sống. Ngày ấy, một sự thật hiển nhiên là chỉ những vỏ chai, vỏ đồ hộp vứt quanh các khu chuyên gia nước ngoài không thôi cũng là một nguồn thu đáng kể của một số người. Nhưng Nguyễn Tấn Việt đã dời bỏ con đường chắc chắn là đảm bảo một đời sống vật chất cho ông và gia đình ông để đi theo một con đường mà ông cũng chắc chắn biết đời sống vật chất sẽ khó khăn. Nhưng không chỉ khó khăn mà ông phải sống một đời sống vô cùng khó khăn.

Vợ chồng ông có năm người con, vợ ông làm ruộng, còn ông là một công chức quèn, chính thế mà ông phải gánh chịu những năm tháng khốc liệt của cơm áo. Vậy mà ông không hề kêu ca, phiền muộn và chưa một lần thơ ông đánh mất bản chất thiêng liêng của nó. Cứ khi một câu thơ vang lên thì thế gian ông đang sống với nỗi kinh hãi về đồng tiền lại ngay tức khắc biến thành thiên đường của cái đẹp và tình người sâu nặng. Thơ ca đã giải phóng ông khỏi sự đầy đọa của đời sống vật chất. Ông đọc thơ trong quán nước chè và trong nhà trường. Ông đọc thơ trong hội nghị và trên giường ngủ. Ông đọc thơ trong tiệc cưới và trong nhà tù. Dù đọc thơ ở đâu ông cũng đắm say và uy quyền như thế. Bởi với ông, thơ ca không là sở hữu của riêng ai, thơ ca là của đời sống.

Người ta kể rằng: có một người bạn cưới con mời ông đến dự tiệc. Ông trịnh trọng trao một phong bao mừng hạnh phúc đôi uyên ương mới. Nhưng trong phong bao đó không phải là tiền mà là một bài thơ. Khi mở phong bao ra, vợ người bạn đã “sầm mặt” vì không thấy tiền. Sự thiêng liêng và giá trị nhân văn đã bị xúc phạm. Người đàn bà kia đã đánh mất cái giá trị vĩnh hằng của văn hóa và thay vào đó là nuối tiếc cái giá trị ngắn ngủi của những đồng tiền. Người đàn bà đó không phải là trường hợp cá biệt. Có thể chưa từng có câu chuyện như thế. Nhưng người nào đó làm ra câu chuyện này chỉ nhằm thông báo về một đời sống tinh thần đang bị vật chất đe dọa. Những năm tháng thiếu thốn về vật chất và nhiều giá lạnh của tình người, chỉ có thơ ca mới cứu thoát ông và làm trong sạch ông khi xung quanh ông biết bao điều và bao người đang bị phủ đầy rác bụi.

Người ta luôn luôn mang cảm giác khi ông đi đến đâu thì một đời sống tinh thần của thi ca hiện ra đến đó. Ông lôi kéo không chỉ những người làm thơ quen biết ông mà cả những người ông không biết viết một câu thơ nào vào thế giới của sự say đắm, sự nhân ái và sự thiêng liêng của thơ ca. Bởi thế mà ông sống không lừa dối ai và không thù hận ai. Bạn bè vô cùng ngạc nhiên về sự dịu dàng tinh tế của ông đối với cả những kẻ đố kỵ, ghen ghét và đôi khi có những hành động ác với ông trong cuộc sống thường nhật.

Ai đó không phải với ông, ông bước đến nhẹ nhàng và nói như nói với một người thân: Chúng mình là người làm thơ, ai lại đối với nhau như thế nhỉ. Bởi với ông, thơ ca là để chia sẻ chứ không phải để thách đố nhau. Vậy mà cho đến bây giờ, có những người đã qua lâu rồi cái tuổi “tri thiên mệnh” mà vẫn ghen ghét, đố kỵ với ông. Nhưng với ông, mặt lá nào cũng biếc xanh, mặt người nào cũng ngời sáng. Có lẽ đó là một trong những lý do để ông sinh ra những câu thơ: Nếu không yêu mặt đất/ Trên trời mây không bay. Hai câu thơ này trong bài thơ Những người sống trong mây đã tôn vinh ông lên giải nhất trong cuộc thi thơ của Báo Văn nghệ, Hội Nhà văn cách đây bốn năm. Báo Văn nghệ đã nhận đúng giá trị của những câu thơ đó và đặt bài thơ và tác giả của nó vào đúng vị trí.

Ông từng nhận giải thưởng thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, ông nhiều lần nhận giải thưởng thơ của Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật toàn quốc và các giải thưởng uy tín khác. Nhưng tất cả những giải thưởng đó không làm con người ông thay đổi như nó vốn thường thay đổi không ít các nhà thơ. Sau mỗi giải thưởng, ông lại trở về một tỉnh miền núi nơi ông đang sống và làm việc để tiếp tục suy ngẫm và sáng tạo trong im lặng vốn là bản chất và ý thức của ông. Mỗi giải thưởng đối với ông như một vụ mùa. Mà thơ ca như những cánh đồng rộng lớn của thế gian. Ông chỉ biết đắm say gieo trồng và đắm say gieo trồng cho tới khi nào có thể.

Có không ít những người bạn thơ của ông đã không chịu nổi sự mơ hồ và cô độc trên con đường của thi ca đã phải rẽ sang ngả khác. Bởi không ít người đi mãi, đi mãi vẫn không thấy được lợi quyền gì cho riêng họ trên con đường ấy. Nhưng nhà thơ Nguyễn Tấn Việt chưa một lần lưỡng lự, chưa một lần hoang mang. Ông đi một mình trên con đường ấy trong mọi thách thức, trong mọi cám dỗ mà chẳng hề đổi thay.

Một nhà thơ đã nói với tôi: Tình yêu thơ lớn lao không vụ lợi của Nguyễn Tấn Việt làm cho tôi nhiều lúc phải xem lại chính bản thân mình. Lúc này, trong lòng tôi lại vang lên những câu thơ của ông :

Giấc ngủ ngủ trong mây

Sấm chớp rơi vào mặt

Nhưng không ai ngửa tay

Xin trời cao tiếng hát

(Những người sống trong mây)

Tôi thường nghĩ, Nguyễn Tấn Việt không làm ra những câu thơ như những người xưa ngồi trong phòng hì hục với “thuật giả kim” mong tìm ra cái sản phẩm cuối cùng mà họ mong muốn mà tôi tin đời sống đi qua tâm hồn ông, đi qua tình yêu con người và thiên nhiên của ông và trở thành những câu thơ. Thơ ca không bao giờ là sản phẩm của “thuật giả kim ngôn từ” mà là sản phẩm của những biến động tâm hồn mang tính sự kiện.

Khá nhiều những người làm thơ của thế hệ sau ông đã mang thơ đến cho ông. Cái ông chờ đợi đầu tiên và quan trọng nhất ở những người làm thơ ấy là những thông điệp của tâm hồn họ, rồi sau đó mới đến những vấn đề thuộc kinh nghiệm và kỹ thuật. Chính vì thế mà một số học trò thơ ca trong những bước đi đầu của họ đã được ông truyền ngọn lửa của tình yêu con người và cái đẹp, những trải nghiệm sống, trải nghiệm sáng tạo, đã trở thành những nhà thơ có tên tuổi hiện nay.

Bây giờ, nhà thơ Nguyễn Tấn Việt vẫn sống và vẫn sáng tạo thơ ca cùng dịch thuật như ông đã làm mấy chục năm nay ở một tỉnh miền núi. Cuộc sống của ông vẫn như thuở trước. Ông hình như chẳng lúc nào nghĩ mình phải ăn như thế nào, uống như thế nào. Ông chẳng bao giờ phải nghĩ mình sẽ ở trong một ngôi nhà như thế nào và đi chiếc xe như thế nào. Vật chất, chất lượng A và chất lượng Z, với ông đều như nhau. Những thứ đó chẳng mảy may chạm vào lòng ông. Chỉ có thơ ca ngày đêm với ông như hình với bóng. Thiếu thơ ca ông sẽ ốm đau. Ông chỉ vụt trở nên tinh thông, trở nên đẹp đẽ, trở nên ngùn ngụt như một con cá khi được trả lại đại dương thơ ca mênh mông. Khi không có thơ ca thì một miếng ăn mặn nhạt ông cũng không phân biệt được rõ ràng. Ông không là người làm đột biến thơ ca nước nhà nhưng ông là người giữ cho những phẩm tính của thơ ca và của thi sỹ luôn luôn trong sáng và thiêng liêng.

Trên những con đường của một thị xã miền núi, ông vẫn đạp xe như muôn vàn người dân khác. Rất ít người nhận biết được ông là một nhà thơ. Chỉ có vẻ đẹp của đời sống và những bất trắc của phận người nhận ra ông là một thi sỹ.

NGUYỄN HOÀ BÌNH

__________________________________

Nhà thơ Nguyễn Tấn Việt sinh ngày 26 tháng 12 năm 1948, quê tại xóm Chùa Cát, thôn Lam Điền, xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây, nay thuộc Hà Nội. Ông từng công tác tại Sở Văn hoá thông tin tỉnh Hoà Bình. Hiện về sống ở quê nhà Chương Mỹ.

Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Hội viên Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam.

Tác phẩm đã xuất bản:
– Màu cây miền châu thổ (tập thơ in chung với Hoàng Hữu, 1976)

– Ba con nai trắng biết bay (tập truyện dịch, 1983)
– Cánh giang bay lẻ (tập thơ, 1992)
– Văn hoá gia đình người Mường (tập chuyên đề khoa học, 1994)
– Mảnh trăng núi (tập thơ, 1995)
– Giọt nắng trong mơ (tập thơ, 1996)
– Mùa hoa chuông (tập thơ in chung với Đặng Ngọc Thành và Lò Cao Nhum, 1997)
– Hạt gạo đồng trời (tập thơ, 2000)
– Rừng xanh một mình (tập thơ, 2003)
Giải thưởng văn học:
– Giải A về thơ của tuần báo Văn Nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam

– Giải thưởng của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam với tập thơ Hạt gạo đồng trời.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *