Những vật liệu kiến tạo thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê – Kỳ 1

VHSG- Từ lâu đã có nhiều người nghiên cứu về thơ Bích Khê, một trong những hiện tượng độc đáo của nền thi ca Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Cứ tưởng “đỉnh núi lạ” Bích Khê không còn gì để nói nữa, nhưng khi đọc luận văn Thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê của Thạc sĩ Phạm Thị Như Thuý, tức nhà thơ Doãn Thuỵ Như, thì tôi thật bất ngờ với những khám phá mới.

Có lẽ cũng là người làm thơ nên Phạm Thị Như Thuý dễ thấu cảm cái hay cái đẹp và phát hiện ra những khác lạ của thơ Bích Khê, từ ngôn ngữ, thi ảnh, cấu trúc đến các thủ pháp nghệ thuật. Tôi đặc biệt thích thú với phần “Những vật liệu kiến tạo thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê” với những nhận biết bằng ngũ quan, trực giác và cách đọc liên văn bản. Không chỉ bằng cảm thụ thẩm mỹ mà Phạm Thị Như Thuý còn cho thấy một tư duy khoa học trong việc khám phá, phân tích, nhận định với những dẫn chứng minh xác, lý luận thuyết phục và thể hiện bằng thứ văn phong giản dị, sinh động và chặt chẽ.

Có thể nói những khám phá trên là một đóng góp đáng quý của Phạm Thị Như Thuý đối với quá trình nghiên cứu thơ Bích Khê nói riêng và nền thi ca Việt Nam hiện đại nói chung. Mà thi ca là một trong những gốc rễ của văn hoá. Người biết cảm nhận, phân tích được cái hay cái đẹp của thi ca cũng chính là người có khả năng thẩm thấu về văn hoá bằng tư duy lý luận khoa học và tinh thần nhân văn. Tôi mong Phạm Thị Như Thuý dành nhiều thời gian nghiên cứu về văn học, nhất là thơ đương đại, đồng thời sớm “nâng cấp” luận văn Thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê trở thành công trình hoàn thiện hơn, giá trị hơn để công bố tác phẩm rộng rãi đến bạn đọc qua con đường xuất bản sách.

Xin giới thiệu một phần của công trình này trên VHSG.

PHAN HOÀNG

Nhà thơ Bích Khê

Những vật liệu được nhận biết bằng ngũ quan  

Bước vào thế giới tượng trưng của thơ Bích Khê, ta như lạc vào một cõi trời kỳ ảo luôn vang lên bản giao hưởng tuyệt vời của hương thơm, sắc màu và giai điệu. Có điều đó bởi những vật liệu kiến tạo thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê trước hết là những vật liệu có thể nhận biết được bằng ngũ quan.

Sắc màu huyền diệu và hương thơm thanh khiết

Trong tập Tinh huyết, các bài như: Mộng cầm ca, Đôi mắt, Xuân tượng trưng, Duy tân thể hiện khá rõ quan niệm thẩm mỹ thơ của Bích Khê:

Hỡi lời ca man dại

Điệu nhạc thở hơi rừng

Đêm nay xuân đã lại

Thuần túy và Tượng trưng

                                (Xuân Tượng trưng)

Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới

Của lời thơ lóng đẹp – Hạt châu trong –

Hạt châu trong ngời nhỏ giọt vô lòng

Tràn âm hưởng như chiều thu sóng nắng…

…Ta nhịp nhàng ý nhị nhịp theoTa

Lời nối lời bố thí lộc tinh hoa

Của âm điệu, mơ màng run lẩy bẩy,

Một hỗn hợp đẹp xô bồ say dậy

Bằng cảm tình, bằng hình ảnh yêu thương

Và mới mẻ – trên viễn cổ Đông phương!

 (Ai có nghe sức tiềm tàng bí mật?)

Thơ lõa thể! Giai nhân tuần trăng mật,

Nữ thần ơi! Ta nô lệ bên người!…

                           (Duy tân)

Quách Tấn đã nhận định: “Tinh huyết mang nhiều sắc thái của Tây phương, còn Tinh hoa chứa nhiều khí vị của Đông phương”. Cái “sắc thái của Tây phương” đã kết hợp một cách hài hòa với “khí vị của Đông phương” để sinh ra một tiếng thơ đặc biệt “Của âm điệu, mơ màng run lẩy bẩy / Một hỗn hợp đẹp xô bồ say dậy” mà trong đó có sự phối màu tuyệt diệu với đủ các gam màu:

Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng

– Vàng sao nằm im trên hoa gầy

– Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông                 

– Lam nhung ô! màu lưng chừng trời;

Xanh nhung ô! màu phơi nơi nơi.

– Ô trời hôm nay sao mà xanh?

Ngọc trăng xây vàng trên muôn cành…

– Khung trắng trời mây trắng lạ thường

Với đôi dòng suối sữa trắng như tinh

– Buồn lưu cây đào xin hơi xuân

Buồn sang cây tùng thăm đông quân

Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông.

                                  (Tỳ bà)

Sẽ không có sự phối màu tuyệt diệu đó nếu không có ánh sáng, hay nói cách khác, ánh sáng đã tạo nên sự phối màu tuyệt diệu đó. Và thế là trong những câu thơ của Bích Khê luôn tràn ngập ánh sáng: ánh sáng phát ra từ bàn tay búp sen của giai nhân đi trong chiêm bao ẻo lả, biến thành cái nhìn ảo giác chỉ có trong tưởng tượng huyền diệu:

Tay búp sen kẻ lên vàng óng ả

Những đường thêu kim tuyến rúng đêm huyền.

                                         (Đồ mi hoa)

Ánh sáng phát ra từ:

Ôi! cặp mắt của người trong tựa ngọc

Sáng như gươm và chấp chóa kim cương!

Hai mắt ấy chói hào quang sáng ngợp

Dẫn hồn ta vào thế giới thiêng liêng.

                    (Cặp mắt)

Ánh sáng tràn ra từ bước chân thiếu nữ, đẹp như chuyện thần tiên:

Nàng bước tới như sông trăng chảy ngọc

Như nắng thơm hớp đặc cả nguồn hương

                           (Nàng bước tới…)

Và ngay cả khi “chàng Lãng Tử” u buồn thì ánh sáng vẫn bừng lên:

Đây chàng Lãng Tử buồn rơi lệ

Miệng cứng hào quang chảy tợ vàng…

                             (Sầu lãng tử)

Có thể nói, ánh sáng là một phần đặc biệt quan trọng trong tư duy nghệ thuật của Bích Khê và không gian thơ của Bích khê luôn ngập tràn ánh sáng “Cả không gian là bể sáng trà lan”. Ánh sáng như là có phép nhiệm màu đã khiến những câu thơ của Bích Khê luôn lấp lánh, lung linh, ngời sắc, kể cả khi màn đêm bao phủ, ánh sáng cũng không hề bị triệt tiêu mà thật ám ảnh:

Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc.

Một chút trăng say đọng ở làn môi.

                      (Tranh lõa thể)

Thậm chí, ngay cả khi tâm tư Bích Khê ở trong trạng thái tĩnh lặng nhất, lòng lắm nỗi bất an, nhiều băn khoăn bởi những nỗi buồn mông lung, xa vắng

Nơi đây: làng cũ buồn thu quạnh

Anh có khi nào trở lại chưa?

Ngày đi chậm lắm. Giòng sông biếc

Hừng sáng trong trời sợi sợi mưa.

                          (Làng em)

Song nỗi buồn ấy cũng không giam cầm được tâm hồn nhà thơ mà trong những bước chuyển của mùa thu cô quạnh vẫn hừng sáng ánh biếc của dòng sông bí ẩn, mênh mang, lan tỏa… Hai câu thơ: Ngày đi chậm lắm. Giồng sông biếc – Hừng sáng trong trời sợi sợi mưa là những câu thơ tả cảnh tả tình tuyệt bút của đóa hoa thần diệu thơ Bích Khê. Đó chính bởi Bích Khê luôn hướng thơ mình về phía ánh sáng – thứ ánh sáng khởi nguồn của sự sống.

Thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê không chỉ đa dạng, phong phú về sắc màu mà điều quan trọng là cái thế giới muôn vàn sắc màu đó ngào ngạt hương thơm.

Đây bát ngát và thơm như sữa lúa;

Nhựa đương lên: sức mạnh của lòng thương;

Mùi tô hợp quyện trong tơ trăng lụa;

Đây dạ lan hương, đây đỉnh trầm hương;

Đây bát ngát và thơm như sữa lúa;

Hồn xạ hương phơ phất ở trong sương.

                               (Mộng cầm ca)

Những bài thơ như Nàng bước tới, Nhạc, Xuân tượng trưng, Châu… tràn ngập những hình ảnh nhạc thơm, nắng thơm, khí trời thơm, hoa thơm, cỏ thơm, nụ cười:

Nàng bước tới như sông trăng chảy ngọc

Như nắng thơm hớp đặc cả nguồn hương

Là nơi đây đoàn tụ nhạc mười phương

Ứ thành xuân cho niên hoa bất tuyệt.

                     (Nàng bước tới)

Trăng gây vàng, vàng gây nên sắc trắng

Của gương hồ im lặng tợ bài thơ.

Chân nhịp nhàng, lòng nghe hương nằng nặng

Đây bài thơ không tiếng của đêm tơ.

Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng

Của hồn thu đi lạc ở trong mơ…

                  (Mộng cầm ca)

Một mùi hương rất đặc biệt là Hương thơm của da thịt của người con gái Nàng là hương hay nhan sắc lên hương, Hương da thịt còn thơm hơn chất xạ (Lõa thể), một mùi thơm quyến rũ: Tôi uống trọn cặp môi hường thơm phức (Chân):

Có cặp lông mày phớt ráng đêm

Dậy như men rượu gợi mơ thèm

Có gì uyển chuyển trên da thịt

Nức một đường thơm một điệu êm

                            (Châu)

Hay:

Gió thiệt đa tình hôn mặt hoa

Thơm tho da thịt bắt say ngà

                      (Hiện hình)

Những cặp môi cười gươm sắc lẹm

Chóa lên không khí dội hương vang.

                       (Mộng lạ)

Điều đặc biệt là, mùi hương ấy vang xa chứ không bay xa: dội hương vang. Đây lại là một kiểu tư duy lạ của Bích Khê. Không chỉ có vậy, lời nói cũng nức ra hơi hương, mỗi cái liếc yêu cũng phảng phất mùi hương, đến cả hồn tôi cũng như đỉnh hương… Có thể nói, thiên nhiên, vũ trụ mở ra trước mắt Bích Khê, đâu đâu cũng ngây ngất mùi hương.

 Song, cái chết cũng có mùi thơm thì quả là chỉ có ở thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê: thế giới của Sọ người, Nấm mộ

Ôi khối mộng của hồn thơ chếnh choáng!

Ôi buồng xuân hơ hớ cánh đào sương!

Ôi bình vàng! ôi chén ngọc đầy hương!

Ôi hồ nguyệt đọng nhiều trăng lấp loáng!

Ôi thần tình! Người chứa một trời thương.

                          (Sọ người) 

Một đêm vàng – một đêm vàng âm điệu

Đầy nhựa thơm, xanh mịt ngàn phi lau

Mộng ngời lên bay đến một bến tàu –

Biển ngọc bích, thuyền buồm say sóng dịu;

Hương ngọt ngào, ánh sáng chớp mau mau.

                                     (Nấm mộ)

Thạc sĩ Phạm Thị Như Thúy (Doãn Thụy Như)

Nhạc điệu du dương

Đặc điểm nổi bật của thơ tượng trưng là đề cao tính nhạc. Thơ phải gắn chặt với âm nhạc, phải gợi chứ không vẽ các đường nét, hình thể. Nghĩa là thơ không cần có hình tượng rõ nét, và được quan niệm như một bản hòa âm huyền ảo. Mỗi từ trong thơ phải gắn liền với một nốt nhạc. Mỗi bài thơ phải là một bản nhạc. Với Bích Khê, điệu nhạc của những vần thơ, những lời ca man dại được thi sĩ rút tỉa ra từ chính thiên nhiên:

Hỡi lời ca man dại

Điệu nhạc thở hơi rừng

       (Xuân tượng trưng)

Bích Khê đặc biệt đam mê âm nhạc và âm nhạc đã trở thành nét chủ đạo trong bản giao hưởng thơ tuyệt vời của ông. Âm nhạc với những biến tấu kỳ ảo của nó đã tạo nên một giọng điệu riêng trong thơ Bích Khê. Âm nhạc, với Bích Khê, không chỉ nghe bằng thính giác mà còn có thể cảm nhận bằng mọi giác quan. Sự tương giao cảm giác này là một sáng tạo độc đáo của thơ Bích Khê. Bằng thơ, Bích Khê đã đưa người đọc đến với một không gian âm nhạc giàu có với những giai điệu lung linh, với những biến hóa kỳ ảo. Giai điệu ấy có thể là hương thơm, là màu sắc:

Ô! Nắng vàng thơm… rung rinh điệu ngọc,

Những cánh hồng đơm, – những cánh hồng đơm

…      

Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trong mây

Nhạc lên cung hường, nhạc vô đào động,

Ô nàng tiên nương! – hớp nhạc đầy hương.

                                (Nhạc)

Là đường nét với những điệu ca thần diệu vẳng đưa lên qua hình ảnh cung thiềm vắt vẻo cài lên mây (Nghê thường) bay bổng, lãng mạn và tình tứ với cái hé môi quyến rũ của người con gái có đôi môi mọng ngọt:

Nường hé môi ra. Bay điệu nhạc

Mát như xuân và ngọt tợ hương.

               (Hiện hình)

Đó là giai điệu của tình yêu với những cung bậc khác nhau của cảm giác được diễn tả thật tinh tế:

Cây đàn yêu đương làm bằng thơ

Dây đàn yêu đương run trong mơ

                              (Tỳ bà)

Tại sao hầu như bài thơ nào của Bích Khê cũng có tiếng nhạc? Bởi cả thiên nhiên đầy ắp nhạc: Nhạc thiên nhiên nhạc đầy pha lê (Lên Kim Tinh). Giai điệu của âm nhạc là hơi thở, là nhịp đập của con tim nhà thơ Bích Khê và với sự nhạy cảm tuyệt vời, nhà thơ đã sáng tạo nên những giai điệu đẹp cho thơ, làm nên những hình ảnh mới lạ độc đáo, làm nên âm nhạc – thơ mang tên Bích Khê:

Ròng âm nhạc của lòng trai ấp mái

Người họa điệu với thiên nhiên ân ái

                               (Duy tân)

Cái độc đáo trong tư duy nghệ thuật của Bích Khê là khi ông lấy một hình ảnh vừa cụ thể vừa trừu tượng lòng trai ấp mái nói về một hình ảnh cũng vừa cụ thể vừa trừu tượng là âm nhạc, để rồi từ đó đọc ra bản hòa ca tuyệt diệu của cuộc sống: Người họa điệu với thiên nhiên ân ái:

Thơ bay; thơ bay vô bàn tay ngà,

Thơ ngà ngà say! thơ ngà ngà say!

Nàng ơi đừng động… có nhạc trong giây

Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trong mây,

Nhạc lên cung hường, nhạc vô đào động,

Ô nàng tiên nương! Hớp nhạc đầy hương

                                     (Nhạc)

Những vật liệu kiến tạo thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê được thể hiện ở những vật liệu được nhận biết bằng ngũ quan thể hiện rõ ở những câu thơ tương hợp. Câu thơ tương hợp là loại hình câu thơ hàm chứa nhiều phạm trù khác nhau của cuộc sống. Loại hình câu thơ này là kết quả của quá trình ảnh hưởng thuyết tương hợp của chủ nghĩa tượng trưng. Trước hết là câu thơ thể hiện sự tương hợp giữa các giác quan, chẳng hạn như trong câu thơ: Cây du dương lâu đài song sóng. Để viết được câu thơ này, Bích Khê đã sử dụng cả thị giác và thính giác: vừa thấy lại vừa nghe, thấy cây giống lâu đài song sóng, nghe cây phát nhạc du dương. Vì vậy mà cái được biểu đạt của khái niệm “cây” có khả năng đánh thức cùng một lúc thị giác và thính giác người đọc.

Trong bài thơ Tranh lõa thể, Bích Khê viết:

Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố Nữ,

Ô tiên nương! nàng lại ngự nơi nầy?

Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?

Đến triển lãm cả tấm thân

Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm

Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?

                         (Tranh lõa thể)

Đó là sự tương hợp giữa các giác quan – cả thị giác, thính giác, vị giác, xúc giác, khứu giác – cũng chính là sự tương hợp giữa các đối tượng của chúng. Do đó mà âm thanh, màu sắc, hương thơm, cơ thể… có thể hòa hợp trong một thực thể. Đối tượng phản ảnh của thơ ca được hiện lên nhiều chiều, nhiều sắc thái, câu thơ lúc đó trở nên sống động và quá trình tri giác nghệ thuật cũng trở nên phong phú và hấp dẫn.

Trong phần tìm hiểu những vật liệu kiến tạo thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê được nhận biết bằng ngũ quan, luận văn có chia ra làm hai mục sắc màu – âm thanh và nhạc điệu, song sự phân chia đó chỉ là tương đối bởi cả ba vật liệu kiến tạo nên thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê được nhận biết bằng ngũ quan đó luôn quấn quýt, đan xen, kết hợp với nhau, thậm chí hòa tan vào nhau mà thành hình tượng thơ tượng trưng của Bích Khê:

Tiếng ngọc, màu trăng quấn quýt nường

Phút giây người lộ mỏng như sương.

– Nường tan ra nhạc? – tan ra nhạc!

Khung trắng trời mây trắng lạ thường!

                             (Hiện hình)

Hầu như các nhà nghiên cứu đều nhận xét, tính nhạc là điểm nổi bật trong thơ Bích Khê, ở khắp các trang thơ Bích Khê đều vang lên những giai điệu phong phú đến không ngờ. Về tính nhạc trong thơ Bích Khê, luận văn sẽ trở lại ở mục 1 của chương 3 với sự tìm hiểu kỹ hơn về một quan niệm mới của Bích Khê về nhạc của thơ, trong thơ.

Bằng cái nhìn của mỹ cảm tượng trưng và có cả siêu thực, Bích Khê nhìn cuộc đời, con người và thi ca ở phía không hiện hữu và ở đó Bích Khê đã gặp Nàng Thơ của mình. Hình tượng cuộc đời thơm như sữa lúa với muôn sắc màu khoái lạcnhững hương thơm thanh khiết, con người chứa một trời thương với tình yêu cuộc sống và tình yêu nghệ thuật, thi ca những rung động truyền thần với đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mớinhững lời thơ lóng đẹp hạt châu trong hiện lên lung linh, kỳ ảo qua tư duy nghệ thuật tinh tế và giàu sức tưởng tượng của nhà thơ. Có được như vậy là bởi Bích Khê đã tích hợp được những tinh túy của tư duy nghệ thuật phương Tây hiện đại và nền tảng tư duy nghệ thuật phương Đông truyền thống Và mới mẻ – trên cổ viện phương Đông!.

Bích Khê chủ động mở rộng biên độ của thơ, đưa cả âm nhạc, hội họa, kiến trúc, vũ điệu… vào trong thơ, khiến thơ ông không chỉ là thơ mà còn là nhạc điệu, bức tranh, lâu đài…; ngôn ngữ không chỉ là ngôn ngữ, mà còn là âm thanh, màu sắc đường nét của hội họa.

Ròng âm nhạc của lòng trai ấp mái

Hỡi hội họa đến muôn đời nức nở

Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới

Của lời thơ lóng đẹp. Hạt châu trong…

Ngôn ngữ lúc này không chỉ là một phương tiện mà trở thành cứu cánh của thơ nhờ vẻ đẹp của sự giao thoa của các loại hình nghệ thuật. Như vậy, có thể nói, tiềm năng tượng trưng của những vật liệu được nhận biết bằng ngũ quan để kiến tạo thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê là vô cùng rộng mở, có thể tới vô hạn.

PHẠM THỊ NHƯ THÚY

 

 

One thought on “Những vật liệu kiến tạo thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê – Kỳ 1

  1. Phạm Thị Như Thuý says:

    Cảm ơn vanhocsaigon đã cùng đồng cảm và chia sẻ bài viết nghiên cứu về Bích Khê.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *