Trong những ngày tháng 7, tháng của sự tri ân, khi cả dân tộc hướng về Ngày Thương binh – Liệt sĩ 27.7 bằng lòng biết ơn sâu nặng đối với những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, mỗi địa danh gắn với những năm tháng chiến tranh lại trở thành một điểm tựa của ký ức. Có những vùng đất được ghi dấu bằng tên gọi trên bản đồ, đồng thời được khắc sâu trong tâm hồn dân tộc bằng máu xương, bằng những chiến công và bằng cả những câu chuyện được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Đèo Pha Đin là một vùng đất như thế.
Với người dân Tây Bắc, Pha Đin là một con đèo nối Sơn La với Điện Biên, một cung đường hiểm trở giữa núi cao, vực sâu, mây phủ và gió ngàn. Đặc biệt hơn, Pha Đin còn là nơi lưu giữ dấu chân của một thời đại anh hùng; nơi từng chứng kiến những đoàn quân, những đoàn dân công, những chiếc xe thồ chở nặng nghĩa tình hướng về chiến trường Điện Biên Phủ; nơi hàng nghìn thanh niên xung phong đã gửi lại tuổi xuân của mình cho độc lập dân tộc.

Trong những ngày tháng 7 thiêng liêng này, người viết mong muốn được góp một tiếng nói nhỏ bé để tri ân các anh hùng liệt sĩ, các thế hệ cha anh đã làm nên một phần lịch sử hào hùng của dân tộc bằng việc trở lại với hình tượng Pha Đin trong văn học Việt Nam. Bởi văn học không chỉ lưu giữ vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn lưu giữ linh hồn của những vùng đất. Qua thơ ca, Pha Đin đã vượt ra khỏi giới hạn của một địa danh địa lý để trở thành một biểu tượng nghệ thuật giàu sức sống: biểu tượng của sự giao hòa giữa đất và trời, của lịch sử và ký ức, của vẻ đẹp thiên nhiên Tây Bắc và tâm hồn con người Việt Nam.
Tên gọi Pha Đin trong tiếng Thái được hiểu là sự kết hợp giữa “Phạ” (trời) và “Đin” (đất), gợi nên ý niệm về nơi đất trời gặp gỡ. Quả thực, từ góc nhìn địa lý, Pha Đin đã mang trong mình vẻ đẹp vừa hùng vĩ vừa khắc nghiệt. Con đèo nằm trên Quốc lộ 6, nối từ Thuận Châu (Sơn La) đến Tuần Giáo (Điện Biên), từng có độ cao gần 1.650 mét, với những khúc cua hiểm trở, những dốc núi dựng đứng, một bên là vách đá, một bên là vực sâu. Người đi qua Pha Đin không chỉ đối diện với thử thách của thiên nhiên mà còn cảm nhận được sự nhỏ bé của con người trước sự bao la của núi rừng.
Chính vẻ đẹp dữ dội ấy đã tạo nên nguồn cảm hứng lớn cho thi ca. Trong thơ ca Việt Nam, những địa danh gắn với lịch sử thường không đứng yên như một phong cảnh thuần túy mà luôn mang theo những lớp nghĩa tinh thần. Trường Sơn trở thành biểu tượng của ý chí ra trận. Sông Đà trở thành biểu tượng của sức mạnh thiên nhiên và con người lao động còn Pha Đin trở thành biểu tượng của sự vượt lên gian khổ, của con đường đi tới chiến thắng và của vẻ đẹp tâm hồn Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến.
1. Ngay từ những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp, Pha Đin đã đi vào thơ ca với tư cách một chứng nhân lịch sử. Đó là nơi tuyến đường vận tải chiến lược lên Điện Biên Phủ đi qua, nơi quân và dân ta phải đối mặt với bom đạn ác liệt của kẻ thù để giữ mạch giao thông thông suốt cho chiến dịch. Trên đoạn đường ấy, hàng nghìn thanh niên xung phong đã ngày đêm mở đường, sửa đường, bảo vệ từng cung đèo, từng mét đất. Những con người bình dị ấy đã biến một con đèo hiểm trở thành biểu tượng của lòng yêu nước và ý chí kiên cường.
Bởi vậy, khi thơ ca viết về Pha Đin, đó không chỉ là sự miêu tả cảnh sắc mà còn là sự tái hiện một thời đại. Trong bài thơ “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”, nhà thơ Tố Hữu đã ghi lại hình ảnh Pha Đin gắn với những con người đang làm nên lịch sử: “Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ/ Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát/ Dù bom đạn xương tan, thịt nát/ Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh”. Chỉ bằng 4 câu thơ, Tố Hữu đã dựng lên cả một không khí chiến trường hào hùng. Pha Đin hiện lên bằng độ cao của núi dốc và bằng tầm vóc của con người. Trước bom đạn, trước gian khổ, những người dân công, thanh niên xung phong vẫn giữ được tinh thần lạc quan, vẫn mang trong mình niềm tin chiến thắng. Con đèo vì thế trở thành thước đo của lòng dũng cảm.
Nếu Tố Hữu nhìn Pha Đin từ chiều kích sử thi của cuộc kháng chiến thì Quang Dũng lại đem đến một cảm nhận giàu chất tạo hình trong bài thơ “Pha Đin”. Bằng những nét vẽ mạnh mẽ, ông khắc họa con đèo như một thực thể sống động: “Như từng đợt sóng bủa lên trời/ Hùng vĩ Pha Đin gì sánh được/ Lắc đầu tài xế thấm mồ hôi/ Bên dốc chon von ngàn thước vực”. Pha Đin vừa là thiên nhiên hùng vĩ vừa là thử thách đối với con người. Hình ảnh “sóng bủa lên trời”, “dốc chon von ngàn thước vực” tạo nên cảm giác choáng ngợp trước sự dữ dội của núi non. Nhưng điều quan trọng hơn là trong sự hiểm trở ấy, con người vẫn hiện lên với tư thế làm chủ.
Người tài xế, người dân công, người chiến sĩ không bị khuất phục trước con đường gian nan. Chính sự hiện diện của họ đã làm cho thiên nhiên trở nên có ý nghĩa. Đặc biệt, thơ Quang Dũng còn ghi lại hình ảnh Pha Đin trong chiều sâu của một miền đất chiến công: “Đường của dân công đi dưới đuốc/ Giọng hò Nghệ Tĩnh nức lòng quân/ Gạo, muối, đêm ngày vây hãm giặc”. Những câu thơ kể về một con đường vận chuyển lương thực, vũ khí, đồng thời tái hiện sức mạnh của hậu phương lớn trong cuộc kháng chiến. Pha Đin trở thành nơi hội tụ của hàng vạn con người, của những bước chân âm thầm nhưng góp phần quyết định vào thắng lợi lịch sử.
2. Nếu trong thơ ca kháng chiến, Pha Đin trước hết là biểu tượng của con đường ra trận, của ý chí chiến đấu và sức mạnh cộng đồng, thì trong thơ ca đương đại, hình tượng ấy tiếp tục được mở rộng bằng những chiều sâu mới: chiều sâu văn hóa, chiều sâu tâm linh và chiều sâu của ký ức con người. Các nhà thơ hôm nay không chỉ nhìn Pha Đin bằng ánh sáng của chiến công mà còn nhìn bằng sự lắng đọng của thời gian, bằng tình yêu đối với vùng đất Tây Bắc và sự trân trọng những giá trị văn hóa đã được bồi đắp qua nhiều thế hệ.
Có thể nói, sau chiến tranh, Pha Đin không mất đi âm hưởng sử thi mà ngược lại, được tiếp nhận trong một hệ quy chiếu rộng hơn. Con đèo năm xưa từng vang tiếng bom, tiếng pháo, tiếng bước chân hành quân nay còn vang vọng tiếng khèn, tiếng hát, tiếng gọi của núi rừng. Lịch sử không bị phủ lấp bởi thời gian mà hòa vào cảnh sắc, trở thành một phần linh hồn của đất trời Tây Bắc.
Nhà thơ dân tộc Thái Lò Văn Cậy trong bài thơ “Đèo Pha Đin” đã nhìn con đèo như một biểu tượng trường tồn của non sông: “Những khúc suối, nguồn khe/ Còn thoang thoảng hơi ấm đoàn quân qua/ Tiến về Điện Biên rầm rập…/ Đoàn quân kéo pháo ung dung qua/ Nhịp hò ai trong trẻo vút cao/ Đèo Pha Đin hiên ngang bất diệt”. Những câu thơ vừa mang âm hưởng sử thi vừa chứa đựng tình cảm gắn bó của một người con Tây Bắc đối với quê hương. Pha Đin trong cảm nhận của Lò Văn Cậy là nơi từng diễn ra những sự kiện lịch sử và đã trở thành một phần máu thịt của vùng đất và con người nơi đây.
Trong dòng thơ viết về Pha Đin những năm gần đây, nhà thơ Kiều Duy Khánh là một trong những tác giả đã tạo dựng được một thế giới nghệ thuật giàu bản sắc với hai bài thơ tiêu biểu: “Phía ngoài cơn mưa” và “Vọng dấu sử xưa”. Nếu “Phía ngoài cơn mưa” nghiêng về cảm nhận trữ tình, khám phá vẻ đẹp huyền ảo của thiên nhiên và con người vùng cao, thì “Vọng dấu sử xưa” lại hướng về chiều sâu lịch sử, về sự giao thoa giữa ký ức dân tộc và không gian văn hóa bản địa. Trong “Phía ngoài cơn mưa”, Pha Đin hiện lên bằng những đường nét của núi đá, mây trời và bằng cảm giác của một không gian thiêng: “Pha Đin trời rộng đất gầy/ Ở đây đêm thấp mà ngày lại cao”. Câu thơ mở ra một nghịch lý giàu chất thơ. “Trời rộng”, “đất gầy”, “đêm thấp”, “ngày cao” vừa miêu tả đặc điểm địa hình vừa gợi nên cảm giác con người đang đứng giữa một thế giới khác biệt, nơi khoảng cách giữa trời và đất dường như được rút ngắn. Pha Đin trở thành nơi con người đối thoại với thiên nhiên, nơi mỗi thanh âm, mỗi màu sắc đều mang theo linh hồn của núi rừng.

Đặc biệt, những hình ảnh văn hóa như: “Khăn Piêu buông mảnh trăng treo nắng cài” đã đưa Pha Đin ra khỏi phạm vi của một cảnh quan thiên nhiên để trở thành không gian văn hóa. Khăn Piêu của người Thái không còn chỉ là một vật dụng quen thuộc trong đời sống mà trở thành biểu tượng nghệ thuật. Qua sự liên tưởng của nhà thơ, khăn Piêu hòa vào vũ trụ, trở thành “mảnh trăng”, trở thành vẻ đẹp của con người Tây Bắc trong mối giao hòa với trời đất. Cùng mạch cảm hứng ấy, bài thơ “Vọng dấu sử xưa” của tác giả lại đặt Pha Đin trong chiều sâu của lịch sử: “Pha Đin! Những cung đèo tự cong để giữ thẳng lòng người/ Tự vẽ dọc núi tấm bản đồ khắc mình vào trang sử”. Đây là một cách nhìn giàu tính biểu tượng.
Cung đèo vốn quanh co, khúc khuỷu nhưng qua cảm nhận của nhà thơ lại trở thành hình ảnh của phẩm chất con người: càng nhiều gian khó càng thể hiện bản lĩnh kiên cường. “Cung đèo tự cong để giữ thẳng lòng người” là một phát hiện nghệ thuật đẹp, bởi nó biến địa hình thành nhân cách, biến đá núi thành ký ức tinh thần. Pha Đin không đơn thuần ghi dấu những đoàn quân năm xưa mà còn lưu giữ cả văn hóa của cộng đồng các dân tộc Tây Bắc: “Đợi một tiếng khèn phía sau chân núi/ Đợi cô gái Mông thẹn ánh nhìn bối rối/ Váy như hoa hắt vệt nắng sang chiều”.
Sau chiến tranh, Pha Đin trở về với đời sống bình yên. Nhưng sự bình yên ấy không xóa nhòa quá khứ mà làm cho quá khứ trở nên sâu sắc hơn. Tiếng khèn, sắc váy, điệu xòe, những phong tục văn hóa truyền thống chính là sự tiếp nối của sức sống dân tộc. Nếu chiến tranh tạo nên vẻ đẹp anh hùng thì hòa bình làm hiện lên vẻ đẹp văn hóa. Cũng khai thác vẻ đẹp lãng mạn của Pha Đin, nhà thơ Bùi Nguyên Lượng trong bài thơ “Trên đỉnh Pha Đin ta hát” đã đưa người đọc vào một thế giới giàu chất mộng: “Trên đỉnh Pha Đin ta hát/ Gió luồn theo lọn tóc ai/ Sơn nữ cài trăng lên ngực/ Mắt chiều lả lướt men say”. Pha Đin không còn là con đèo của bom đạn mà là đỉnh cao của cái đẹp. Thiên nhiên và con người hòa quyện trong một không gian gần như huyền thoại. Hình ảnh “sơn nữ cài trăng lên ngực” mang màu sắc lãng mạn, biến vẻ đẹp người con gái vùng cao thành sự kết tinh của núi rừng. Cái đẹp ấy không xa rời hiện thực mà bắt nguồn từ chính đời sống văn hóa Tây Bắc.
Trong bài thơ “Pha Đin nơi gặp gỡ đất trời”, Bùi Nguyên Lượng tiếp tục khai thác chiều sâu lịch sử của địa danh này. Nhà thơ viết về những người đã nằm lại trong chiến dịch Điện Biên Phủ bằng giọng điệu thành kính: “Có người ngã mây giang cánh đỡ/ Và đất ôm lặng lẽ không lời/ Có người sống nhưng tim gửi lại/ Ngày Pha Đin bom đạn tơi bời”. Pha Đin ở đây trở thành một không gian tưởng niệm. Đất, đá, mây trời đều như mang trong mình dấu tích của những con người đã hy sinh. Những người lính, những thanh niên xung phong không biến mất. Họ hóa thân vào núi rừng, vào từng con đường, từng mùa hoa nở. Cùng chung cảm hứng tri ân, bài thơ “Nói với các anh người nằm lại Pha Đin” của Bùi Nguyên Lượng là một tiếng nói xúc động hướng về các liệt sĩ: “Các anh nằm đây, giấc ngủ trải dài theo thế núi/ Lưng tựa vào trời, hồn vắt qua mây”. Những câu thơ không chỉ là lời tưởng niệm mà còn là sự đối thoại giữa thế hệ hôm nay với thế hệ đã hy sinh. Pha Đin trở thành nơi người sống tìm về với quá khứ, nơi mỗi bước chân hôm nay đều mang theo lòng biết ơn.
Cảm hứng tri ân ấy cũng được thể hiện trong bài thơ “Chiều Pha Đin” của Nguyễn Huyền Mến. Đứng trước con đèo lịch sử, nhà thơ say mê vẻ đẹp thiên nhiên: “Chạm hoàng hôn! Pha Đin lung linh như đảo ngọc/ Lá non tơ khát cả trời chiều/ Mảnh trăng ngác ngơ nhìn lữ khách/ Bông dẻ cười, rụng trắng một bờ vai” và nhớ về những năm tháng gian lao: “Những khúc khuỷu, ngoằn ngoèo thương lại ngày xương máu/ Ẩn hiện dấu chân/ hơn tám nghìn thanh niên xung phong”. Thiên nhiên đẹp hơn bởi trong đó có ký ức. Hoa, trăng, gió không chỉ là vẻ đẹp tạo hóa mà còn là những chứng nhân lặng lẽ của lịch sử. Chính sự kết hợp giữa trữ tình và sử thi đã tạo nên chiều sâu cho hình tượng Pha Đin trong thơ hôm nay.
Bên cạnh các nhà thơ trên, nhiều tác giả khác cũng tiếp tục làm phong phú thêm hình tượng Pha Đin. Trong bài thơ “Cảm xúc Pha Đin”, nhà thơ Phạm Ngọc Vĩnh nhìn con đèo từ chiều kích của sự suy tưởng: “Bao nhiêu chiến sĩ/ Ngày đêm/ Lao vào chiến trận dựng nên sử vàng”. Pha Đin trong thơ ông là nơi quá khứ trở về trong hiện tại, nơi người hôm nay đứng trước cảnh sắc thiên nhiên để nhận ra giá trị của hòa bình. Còn với Nguyễn Thành Phong trong bài thơ “Viết trên đèo Pha Đin”, hình ảnh những người lính, những nấm mồ chiến sĩ và mùa xuân Tây Bắc hòa quyện thành một khúc tưởng niệm: “Những chàng trai trấn thủ/ Kéo súng lên Mường Trời/ Biết bao người nằm lại/ Nằm ở đâu rừng ơi!”. Những tiếng gọi ấy khiến Pha Đin từ một địa danh lịch sử trở thành một miền ký ức sống động trong tâm thức cộng đồng.
Nhìn lại hành trình của hình tượng Pha Đin trong thơ ca Việt Nam, có thể thấy sự vận động rất rõ: từ một địa danh cụ thể trở thành biểu tượng nghệ thuật; từ không gian chiến tranh trở thành không gian văn hóa; từ ký ức đau thương trở thành vẻ đẹp trường tồn. Mỗi thế hệ nhà thơ tiếp cận Pha Đin bằng một cách riêng nhưng đều gặp nhau ở tình yêu đất nước, sự trân trọng con người và niềm tự hào về một vùng đất giàu truyền thống.
3. Nếu giá trị lịch sử tạo nên chiều sâu tư tưởng thì giá trị thẩm mỹ chính là yếu tố làm nên sức sống bền vững của hình tượng Pha Đin trong thơ ca Việt Nam. Qua nhiều thế hệ tác giả, Pha Đin không chỉ được khắc họa như một địa danh mà đã trở thành một không gian nghệ thuật giàu tính biểu tượng, nơi thiên nhiên, lịch sử, văn hóa và con người hòa quyện trong một chỉnh thể thẩm mỹ thống nhất.
Trước hết, thơ viết về Pha Đin nổi bật ở vẻ đẹp của cái hùng. Những dốc núi, vực sâu, mây phủ, những cung đèo quanh co hiện lên với tầm vóc lớn lao, nhưng thiên nhiên không lấn át con người mà trở thành phông nền làm nổi bật ý chí và bản lĩnh Việt Nam. Từ thơ Tố Hữu, Quang Dũng đến các tác giả hôm nay, Pha Đin luôn là nơi con người vượt lên thử thách để khẳng định sức mạnh tinh thần và khát vọng chiến thắng.
Bên cạnh đó là sự kết hợp hài hòa giữa chất sử thi và chất trữ tình. Lịch sử không hiện lên như một bản ghi chép khô cứng mà được soi chiếu qua cảm xúc của người hôm nay. Vì thế, Pha Đin vừa là con đèo của những đoàn quân năm xưa, vừa là miền ký ức thiêng liêng, nơi mỗi cảnh sắc đều gợi nhớ những hy sinh vì Tổ quốc. Cái bi trong thơ không chìm vào đau thương mà được nâng lên thành vẻ đẹp cao cả, khiến sự hy sinh của người lính, thanh niên xung phong trở thành một phần bất tử của non sông.

Một giá trị thẩm mỹ nổi bật khác là khả năng biểu tượng hóa không gian nghệ thuật. Trong thơ, Pha Đin vừa là nơi “đất gặp trời” theo ý nghĩa địa danh vừa là nơi giao hòa giữa quá khứ và hiện tại, giữa con người và thiên nhiên, giữa lịch sử và văn hóa. Những hình ảnh như mây, hoa ban, hoa mua, khăn Piêu, tiếng khèn, lá cờ hay những cung đèo đều vượt ra ngoài ý nghĩa tả thực để trở thành những biểu tượng giàu sức gợi. Đặc biệt, nhiều câu thơ có những liên tưởng độc đáo như “Những cung đèo tự cong để giữ thẳng lòng người”, “Khăn Piêu buông mảnh trăng treo nắng cài” hay “Sơn nữ cài trăng lên ngực”, góp phần tạo nên vẻ đẹp vừa lãng mạn, vừa giàu chất triết lý.
Thơ viết về Pha Đin còn hấp dẫn bởi đậm đà bản sắc văn hóa Tây Bắc. Hoa ban, tiếng khèn, điệu xòe, váy áo các dân tộc, những phong tục và nhịp sống miền sơn cước đã làm cho hình tượng Pha Đin không chỉ mang âm hưởng sử thi mà còn thấm đẫm chất thơ của đời sống. Thiên nhiên, lịch sử và văn hóa hòa quyện, tạo nên một không gian vừa hùng vĩ, vừa thiêng liêng, vừa giàu chất trữ tình.
Có thể nói, giá trị thẩm mỹ lớn nhất của thơ viết về Pha Đin là đã biến một địa danh địa lý thành một biểu tượng nghệ thuật đa tầng ý nghĩa. Ở đó hội tụ vẻ đẹp của đất trời Tây Bắc, chiều sâu lịch sử dân tộc, bản sắc văn hóa các dân tộc vùng cao và vẻ đẹp tâm hồn Việt Nam. Chính sự kết tinh ấy đã làm cho Pha Đin trở thành một trong những hình tượng giàu sức ám gợi và có vị trí riêng trong thơ ca Việt Nam hiện đại.
***
Có thể khẳng định rằng, trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại, Pha Đin đã trở thành một hình tượng có vị trí riêng. Nếu những con đường khác của Tổ quốc ghi dấu những chặng đường lịch sử khác nhau thì Pha Đin mang trong mình vẻ đẹp đặc biệt của một vùng đất vừa hùng vĩ vừa thiêng liêng. Đó là nơi kết tinh của ba giá trị lớn: vẻ đẹp của đất trời Tây Bắc, chiều sâu của lịch sử dân tộc và sức sáng tạo của thi ca Việt Nam. Tuy nhiên, những khảo sát về thơ viết về Pha Đin hiện nay vẫn còn là một hướng nghiên cứu rộng mở. Do nguồn tư liệu chưa được tập hợp đầy đủ, nhiều sáng tác của các tác giả địa phương, các bài thơ đăng trên báo chí, tạp chí hoặc còn lưu giữ trong các tuyển tập chưa có điều kiện được khảo sát toàn diện. Vì vậy, bài viết này chỉ là một sự tiếp cận ban đầu, với mong muốn gợi mở thêm một hướng nhìn về một hình tượng giàu giá trị trong văn học Việt Nam.
Trong tương lai, việc tiếp tục sưu tầm, hệ thống hóa và nghiên cứu các sáng tác về Pha Đin sẽ giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ hơn về sự vận động của hình tượng này. Đặc biệt, từ góc nhìn liên ngành giữa văn học, lịch sử và văn hóa học, Pha Đin còn mở ra nhiều khả năng khám phá về ký ức chiến tranh, bản sắc Tây Bắc và mối quan hệ giữa con người với không gian sống. Bởi Pha Đin không chỉ là một con đèo. Pha Đin là một phần ký ức của dân tộc, là nơi những người đã hy sinh gửi lại tuổi xuân cho đất nước, là nơi vẻ đẹp thiên nhiên hòa cùng vẻ đẹp tâm hồn con người Việt Nam. Qua thời gian, tiếng gió trên đỉnh đèo vẫn còn vang vọng những câu chuyện của quá khứ để mỗi thế hệ hôm nay khi đặt chân lên Pha Đin đều có thể cảm nhận được sự thiêng liêng của một vùng đất – nơi trời và đất gặp nhau, nơi lịch sử hóa thành thơ ca.
HOÀNG KIM NGỌC
—————————–
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Đình Minh, Thức với những tập mờ, NXB Hội Nhà văn, 2014
2. Phạm Đình Ân. Thơ viết về chiến thắng Điện Biên Phủ: Nối dài âm hưởng bản hợp xướng anh hùng ca. Tạp chí Người Hà Nội (06/05/2024)
3. Quang Dũng. Mây đầu ô. 1986
4. Vương Trọng. Về thôi nàng Vọng Phu (1991)
5. Những bài thơ của các tác giả: Kiều Duy Khánh, Bùi Nguyên Lượng, Nguyễn Huyền Mến (in trong tạp chí Suối Reo – Hội LHVHNT tỉnh Sơn La)

















