Thơ Đông Triều – “Như là con đường khác…”

VHSG- Đông Triều sinh vào đầu những năm 1970, thuộc số ít tác giả của đồng bằng sông Cửu Long sở hữu giọng điệu thơ hiện đại và cá tính.  Anh đã xuất bản hai tập thơ: “Đi như trở về con đường khác” (Nxb Phương Đông, 2010) và “Cho dù Nátita…” (Nxb Hội Nhà văn, 2016).  Tác giả từng gây ấn tượng với công chúng và bè bạn văn chương qua tác phẩm “Ngôi nhà ngó mặt ra đại dương”(Tặng thưởng Thơ hay – Tạp chí Sông Hương, 2010) và chùm thơ đoạt giải Ba –  Cuộc thi thơ Tạp chí Văn nghệ Quân đội, năm 2016: “Trong ống khói con tàu; Cửa rừng (VNQĐ – 854); Nói chuyện ở Trường Sơn; Trôi theo Parasailing” (VNQĐ – 857). Gần đây, thi pháp thơ Đông Triều có nhiều điểm mới lạ, tạo ra nét chấm phá riêng của anh vào dòng chảy chung…

Nhà thơ Đông Triều

Đọc thơ Đông Triều, ta nhận ra nhịp điệu trong thơ anh lắng sâu. Như là mênh mênh mang mang, như là suy tưởng, như là lắng nghe, nhìn sâu vào thế giới nội tâm… Những giá trị thẩm mĩ được tác giả khái quát và biểu hiện trong tác phẩm, không tách rời đề tài, chủ đề, sự lí giải, cảm hứng, nhưng không đồng nhất với chúng. Nội dung bao giờ cũng là nội dung của một hình thức nhất định, hình thức và nội dung luôn luôn ở trong nhau, xâm nhập lẫn nhau, làm nên nhau.

Không dễ gì trích dẫn một khổ thơ trong một bài thơ hay một câu thơ trong một khổ thơ của anh, bởi cảm hứng thơ trọn vẹn trong chỉnh thể tác phẩm. Dường như anh đã phá bỏ thi pháp thơ quen thuộc theo kiểu “thi nhãn”, cô đúc, kiệm lời… mà anh để cho dòng cảm xúc trôi chảy trong vô thức, sử dụng ngôn ngữ – ký âm lại dòng vô thức đó. Và mỗi bài thơ là một trạng thái bồng bềnh, giữa sự cảm nhận của cái tôi trữ tình với không gian, thời gian và qua biểu tượng thơ. Anh đã từng trăn trở: “Đọc bản tin trong bộ não của ai đây?/ Một – là quá nhiều năm em vẫn đứng im một chỗ/ Hai – là sự suy tàn tột cùng của thể xác tôi cùng với khối óc là như nhau…” (Ngờ hoặc). Đây chính là thử thách với người cầm bút. Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của tác phẩm văn học, nội dung thì vô hạn, hình thức thì hữu hạn. Và quan hệ hình thức và nội dung không hoàn toàn là quan hệ đối xứng, mà vẫn có tính độc lập tương đối. Sáng tác văn học, cụ thể với thơ là một sự chọn lựa. Tại sao chọn thể loại này, nhịp thơ này, chữ này… mà không lại là cái khác… Điều đó bị chi phối bởi một số quan niệm nghệ thuật về con người, về thế giới, về truyền thống và sáng tạo… Thời gian qua, thơ ca Việt Nam đã không ngừng cách tân và đổi mới, tạo sự phát triển đa dạng và mới mẻ. Gần đây, thơ tự do dường như thắng thế trên văn đàn, phát huy và khai triển trên nhiều hình thức như: thơ văn xuôi, tân hình thức… Ngay cả thể thơ lục bát truyền thống cũng đã có nhiều biến thể, cách tân.

Đông Triều mở rộng đường biên trong cấu tứ, sơ lược đi vần điệu, nhằm chuyển tải những thông điệp về nhân sinh, nên cảm giác như mỗi bài thơ là một dòng tự sự trữ tình miên man trong hoài niệm, cảm thức hiện tại và tất cả đồng hiện: “Người thấy mình như đôi khi vừa nói/ người thấy mình đôi khi cũng buồn vời vợi/ nhưng bây giờ chuột đồng và chim sẻ bỏ đi đâu? Đã bỏ đi đâu?/…tôi đang nghĩ về những chú chim sẻ trong nhà hàng, nhốt bên hông chùa và trên đường phố hôm qua/ Những lúc rộn ràng này thưa vắng tiếng ca đàn chim sẻ…/ bao nhiêu năm nữa con người nhìn vào điều gì mà tưởng nhớ/ theo những bài thơ hay như bóng ma ám lửng hồn người/ chim trời, chuột nhũi và hương lúa mới/ gió ngả nghiêng cười trăm năm xa xôi” (Hương lúa mới nhớ chuột đồng và chim sẻ). Câu chuyện kể bằng giọng điệu thơ ca buồn man mác, con người tận diệt môi sinh, để rồi phải hối tiếc. Đồng bằng sông Cửu Long một thời là vùng đất mỡ màu, nay cũng phải đứng trước bao thách thức. Bất chợt nhớ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh từng viết: “Chạng vạng, xe tôi chạy trong tiếng bịp bịp vẳng ra từ cầu ao xa tít. Tiếng kêu bi thương đã làm góa cả buổi chiều. Để những buổi chiều làng quê lẻ loi vẫn còn luôn níu nắng, mong đợi bước chân quên xứ tìm về… Nhưng tôi vẫn lo, đến một ngày nào đó nó có hỏi – Nội ơi, con bìm bịp là con gì mà nó biết thổi tò tí te? – Thì tôi không biết làm sao cho nó thấy tận mắt và nghe tận tai khi mà nước lớn nước ròng vẫn còn đó, mà loài chim mang tiếng kêu buồn thương này đã bay về cổ tích rồi!”

Những dự cảm về nhân sinh trong thơ anh xem chừng đau đớn, đầy âu lo, cảm giác như lòng nhà thơ quặn đau khi viết những dòng chữ trên trang giấy trắng. Và thơ anh rất ít dòng trắng, chữ và chữ miên man trong những liên tưởng, suy tư và dằn vặt:“Nghe tin lửa đã xém đôi cánh chim chiều mang tới/ Em đã đi hấp hối cuộc tìm mình/ Chiều đã sôi trên nóc rừng nguyên sinh… Chúng ta chẳng phải đang lách mình trong hạt gạo chứa đầy bã/ Lách mình qua nhánh rau mời gọi chết người/ Lách mình qua miếng mồi tươi ướp vị thoát xác lên trời/ Ôi, cuộc đua ngoạn mục còn xa lắm đường vôi trắng/ Như những con ếch mắc câu nằm vương vãi đâu đó bên vệ đường” (Mơ hồ sự sống khó hơn). Cái nhìn hiện thực của Đông Triều đau đáu những suy tư về nhân sinh thế sự. Điều mà báo chí lẫn mỗi người chúng ta đều âu lo, trăn trở hàng ngày. Anh đã chắt lọc, liên tưởng qua các thi ảnh và biểu tượng đầy ám ảnh.

Nhà phê bình Hoàng Thị Thu Thủy

Chiều kích không gian trong thơ anh phóng khoáng, mênh mang; dù nơi anh sinh ra và lớn lên là đồng bằng, nhưng cảm thức về thảo nguyên chập chờn trong vó ngựa. Có cảm giác như thi nhân muốn bứt phá và vượt thoát khỏi cái bức bối, bằng phẳng, tẻ nhạt thường ngày để tìm nguồn thi hứng vô tận: “Đã quên rằng có lúc cũng phải xuống vì một điều gì đó cần thiết hơn lương thực/ Ví như nó cũng phải dừng lại đôi giây hí vang trước con rắn hổ mây chờn vờn trước mặt…/ Đó không phải hấp lực của đám cỏ mởn xanh/ Qua biết bao hình cảnh quá giản đơn nhưng tri giác phải soi bằng tia quá khứ đã trùng lắp/ Nếu không nằm xuống như thế này thì xa xăm ấy ít hiện về, không cần giải mã hình cảnh, gió thuận tai hơn/ Ai đã trói đôi chân mình trước cuộc truy phong lời mời? Phiền phức đã xảy đến ngay trong điều tôi nói: Giải mã đầu mối của những ngón tay/… Thôi được, ta tưởng về những con đường xanh mơ ngựa nhé/ Chiếc đuôi thơm mùi cỏ úa, mùi khét nắng và cả những thứ lồng lên chưa tìm thấy trong bảng mùi trần ai quất qua mặt tôi lơ lửng/ Nó lại muốn dừng ở trạm xăng thảo nguyên đường xa hun hút, tôi vụt nó: vớ vẩn…/ Nhiên liệu bên vệ đường, hãy thòng mõm bất cứ lúc nào chứ không phải bên chiếc gương ở trạm xăng” (Trên lưng ngựa đang chạy đi).

Ngỡ như anh coi trọng sự bứt phá, làm mới trong thi tứ để đưa lại cho thơ chiều kích khác. Nhưng đọc kĩ bài thơ “Như trong quán trà ở Kaohsiung” mới giật mình, thi pháp cổ điển vẫn nhuần nhuyễn bởi cái thủ pháp dùng “tĩnh” tả “động”, dùng “động” tả “tĩnh”, thi trung hữu họa: “Ngoài kia dòng sông đang dâng lên mùa hương mới như chưa từng/ Tiếng hát ai nghe hoang vu kéo dài qua rặng núi/ Những con cánh cam bình yên lướt trên chiều vàng gỗ tếch/ Chúng ta cũng bâng quơ ngó lướt về phía cánh đồng/ Mỗi tiềm thức chợt dậy tiếng vó hùng phong…/ Như trong quán trà ở Kaohsiung/ Chiếc xích đu bỏ trống cách nhau vài tiếng nói/ Đôi tình già mỉm cười nhìn ngút sau rặng núi/ Phố vắng tiếng còi xe, phố vắng bóng dù che chiều sương nhói bên rừng/ Như chúng ta đã từng/ Nhói trong nhau ánh nhìn từ biệt/ Đường qua bên sông mùa dâng lên hương biếc/ Đứng ngắm thân cây trơ lá tìm ai vừa vứt lại tên mình?/ Về ở quán nói với nhau cùng đôi ba lọn sóng/ Loang cuối tầm nhìn, loang cả vào đêm trang giấy gấp cuộc tình/ Cũng chừng đó ở Kaohsiung!…/ Giọt trà rơi xuống mùa hoa lữ thứ/ Chong mắt theo nhau đường lên núi Ngự Bình/ Giật mình vọng lại tiếng vó hùng phong/ Nơi bản quán trường ca đang thắp lửa…”. Bức tranh phong cảnh có hình khối, màu sắc, và đường nét; phong cảnh hữu tình, bởi hình bóng con người chuyển động trong ánh mắt, trong cái nhìn, trong cách chiêm nghiệm và suy tưởng. Không gian thanh tĩnh, lắng lọc đến mức nghe tiếng ai hát kéo dài qua rặng núi, không gian đó bình yên cho đôi tình già chỉ nhìn ngắm nhau cũng đủ yêu thương; tiếng giọt trà rơi xuống càng tô đậm thêm cái thinh không, cái tĩnh lặng và cái tôi trữ tình thi nhân đạt đến độ vô vi, huyền diệu. Càng đọc kĩ bài thơ Như trong quán trà ở Kaohsiung, càng nhận ra sự bất ngờ trong thi tứ. Viết như thế, tâm đã nhập vào cảnh trong tĩnh lặng suy tưởng.

Mỗi tác phẩm của anh khi phản ánh hiện thực khái quát, ở khía cạnh tư tưởng và cảm xúc, đều tái hiện những lớp hiện tượng đời sống có giá trị thẩm mĩ nhất định, độc đáo, không lặp lại. Băn khoăn, suy ngẫm, nhìn sâu vào mỗi trạng thái cảm xúc của con người, Đông Triều đã viết: “Và trong ta hốt hoảng ngỡ đã để mọi người chờ đợi quá lâu trước ngày mòn/ Khi tất cả mở ra một thế giới đã im lìm…/ Tất cả hình như không có ai đợi mình/ Tất cả hình như chẳng có ai gọi mình/ Những chuyện thường ngày đã không còn xảy đến/ Tôi tìm đến quán cà phê quen em đã không còn ngồi đó như tượng đồng/ Tìm về ngôi nhà mẹ, chỉ có mảnh giấy treo nghiêng ngửa nơi rào cửa ghi “người đi vắng”/ Mở smartphone bấm vài số quen nghe ò é e rồi chìm vào im lặng/ Vút chiếc xe lao đi giữa thành phố mênh mông hoang vắng tìm nơi đã rút đi đâu những bóng người/ Những hàng cổ thụ già nua không còn nắng xuyên qua nhảy múa tình đời/ Tôi xoáy tít trong vùng gió tơi bời lá cuốn...” (Người đi vắng). Đọc xong bài thơ, cảm nhận về phận người bé nhỏ làm sao, chưa đến mức bi kịch như nhân vật Gregor Samsa bị đóng khung trong cái nhìn xã hội trong tác phẩm “Hóa thân” của Kafka; nhưng vẫn gợn lên nỗi sợ hãi về cái tôi cô đơn, cái tôi bị quên lãng trong cơn ác mộng, cảm giác như cái tôi càng vùng vẫy, thì càng bế tắc, ngột ngạt, vô định. Cái cô đơn là chủ đề phổ biến trong văn học, mỗi nhà văn có cách viết về cái cô đơn khác nhau, và nhà thơ Đông Triều cũng đã góp tiếng nói riêng của mình về chủ đề này khá độc đáo.

Không ngừng tìm tòi, sáng tạo, mở rộng đường biên cảm xúc ý tứ, nới rộng không gian và thời gian trong mỗi tác phẩm. Hành trình sáng tạo của Đông Triều theo thời gian có nhiều thay đổi về thể loại cũng như cách thức biểu đạt. Ở tập thơ đầu “Đi như trở về con đường khác” (Nxb Phương Đông, 2010) cấu tứ thơ tự do nhưng lại khá chặt chẽ, dễ thấy nhất qua các tác phẩm: Điều còn lại trên cánh đồng, Điệp khúc đường đi, Đêm thiêng; Buổi trưa ngồi với nỗi buồn, Ngày mới, Bức tranh gửi lại…; với tứ thơ trùng điệp, bởi sử dụng lặp lại các điệp ngữ, chữ ở mỗi dòng thơ cân đối, rất ít dòng trắng; đọc lên vẫn nhận ra nhịp điệu trên mỗi câu thơ, mỗi khổ thơ. Đến tập thơ “Cho dù Nátita…” (Nxb Hội Nhà văn, 2016) và một số bài thơ gần đây, anh đã nới rộng biên độ trên mỗi dòng thơ, mỗi bài thơ số câu cũng dài hơn, có những câu thơ có đến 14- 16 từ… Sử dụng câu thơ dài đương nhiên sẽ phá vỡ quy luật của nhịp điệu. Đây là bước đi mới trong quá trình sáng tạo của Đông Triều, dường như viết câu thơ dài là để chuyển tải ý tưởng, anh lược qua yếu tố vần điệu, đó cũng là thử thách, là dấu ấn mới đáng lưu tâm. Thử thách này, dấu ấn mới này có gây nên ấn tượng với người đọc hay không, còn tùy thuộc vào quá trình tiếp nhận của độc giả. Tôi tin rằng, thơ anh sẽ được đón nhận trong một chiều kích mới, khi người đọc bắt được nhịp dẫn, cấu tứ và các thông điệp thẩm mĩ. Cũng có thể, đã đến lúc thi ca nới rộng biên độ về ngôn từ, cấu tứ. Cũng như con người thời đại chúng ta cần phải tinh tường hơn. Bởi những thông tin với các giá trị lẩn khuất, mơ hồ…

Huế, tháng 11.2019
TS. HOÀNG THỊ THU THỦY

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *