Tiểu luận của Hữu Thỉnh: Thơ Lê Văn Vọng

VHSG- Mùa đông năm 1979, sau những ngày chờ đợi, khóa 1 Trường Viết văn Nguyễn Du khai mạc. Trải bao chiến trận, nay được trở lại ghế nhà trường, đòi lại thời gian đã mất, chúng tôi vẫn giữ được cái háo hức với sách vở như hồi nào. Vào học được hai tuần, một buổi chiều Lê Văn Vọng sang phòng tôi nhờ chuyển giấy xin phép chủ nhiệm khoa nghỉ học một tuần trở lại Thành phố Hồ Chí Minh có việc gấp. Thói quen người lính việc ai người ấy biết tôi không tiện hỏi anh trở lại đơn vị cũ có việc gì.

Đúng một tuần sau, Lê Văn Vọng trở ra Hà Nội tiếp tục đến lớp đều đặn. Vào một buổi tối, Nguyễn Ngọc Mộc ở cùng phòng với Lê Văn Vọng gõ cửa phòng tôi mang theo tờ báo Sài Gòn Giải Phóng số mới nhất và bảo: Tin quan trọng thế này mà thằng Vọng nó ỉm đi không cho ai biết ông ạ. Tôi mở báo. Hóa ra Lê Văn Vọng xin nghỉ học để về nhận giải nhất cuộc thi thơ của Thành phố Hồ Chí Minh với một ban chung khảo rất xịn gồm nhà phê bình văn học Hoài Thanh, các nhà thơ Chế Lan Viên, Bảo Định Giang, Viễn Phương. Tin vui đó nhanh chóng loang ra cả lớp. Bạn bè bắt đầu nhìn Vọng với một cái nhìn khác hẳn.

Nhà thơ Lê Văn Vọng bên tượng thi hào Tagore ở Ấn Độ

Giải nhất thơ của một thành phố vừa giải phóng. Hơn nữa, không phải là một chùm thơ mà là cả một tập thơ đầu tay với cái tên Người của hôm nay, là một may mắn, một cuộc ra mắt ấn tượng không dễ gì có được của Lê Văn Vọng.

Lê Văn Vọng ngoài đời là người luôn thu mình lại với dáng dong dỏng thư sinh, giọng nói nhỏ nhẹ và nụ cười rất hiền. Khó ai nghĩ rằng đó là một người lính hai lần nhận bằng Dũn sĩ diệt Mỹ Dũng sĩ diệt xe cơ giới .Một tay súng như thế, ngay đám lính chúng tôi cũng phải cảm phục. Bạn đọc sẽ hỏi, một chiến binh ngang dọc như thế thơ anh có nhiều bão táp như cuộc đời anh không? Là người bạn đã từng sống và dõi theo đường thơ của Lê Văn Vọng mấy chục năm qua, tôi có thể nói rằng thơ anh là thơ của một người lính cũng có rất nhiều bão táp, nhưng không phải bão táp của bom đạn mà là những trận bão lòng. Đó là những rung động thành thực, đậm hơi nồng, nhiều ngẫm ngợi và phấp phỏng. Anh biết khai thác và thể hiện hiện thực chiến tranh theo nhiều lăng kính khác nhau khiến cho mỗi bài thơ là một phiên bản thẩm mỹ góp phần làm đầy cho cảm quan lịch sử. Bài Chuyện người Tư lệnh trong tập thơ được giải nhất của anh là một nghệ thuật dựng tứ rất mộc, thô thép và đau đớn, một bài thơ gây ấn tượng rất mạnh mà bất cứ sự thêm thắt, vẽ vời nào cũng sẽ làm tổn thương đến sự truyền cảm mạnh mẽ của nó.

Ngày đầu tiên vừa kết thúc chiến tranh

Tư lệnh đến thăm con trong bệnh viện

Ông đến khi con đang trong cơn co giật

Bác sĩ nhìn ông, nói bằng ánh mắt

“Bệnh tâm thần do tra tấn dã man

Bảy năm trời đi khắp các trại giam”

 

Tư lệnh không ngồi, ông đứng nhìn con

Bên tai ông vang những lời la hét

“Tao đặt mìn Sở Cảnh sát

Lùng giết lũ xâm lược…

Rôi cô gái lặng đi, thở dốc.

 

Chợt cô gái chồm lên quát người cha trước mặt

“Bay hỏi gì

Ba tao chết

Má tao không còn”

Tư lệnh lặng im

Quanh ông nhưng gương mặt nhòe nước mắt.

Bài thơ đan nhuyễn quá khứ và hiện tại, tội ác và khí phách, khoảnh khắc và trường đời. Đây là lần thứ hai ông thăm con, còn laanf thứ nhất, con gái ông chào đời. Lần thứ nhất ông hôn con trên tay vợ / Rồi ra đi / Đêm mung lung đạn giặc xé ngang trời /. Khoảng cách giữa hai lần gặp là ‘ Hai mươi năm, gần nửa cuộc đời “. Một câu chuyện bi thương, nếu không biết cấu trúc sẽ dẫn đến lan man, kể lể, ảnh hưởng đến sự cô đọng của thơ. Lê Văn Vọng tổ chức tình huống, xếp đặt tình tiết khiến bài thơ không thể thêm bớt một từ nào được. Một bài thơ trước khi vào trường Viết văn Nguyễn Du, chứng tỏ một năng khiếu bẩm sinh tươi tốt. Chuyện người Tư lệnh là câu chuyện cha gặp con sau chiến tranh chống Mỹ. Còn Viếng mộ là câu chuyện cha gặp con ngoài Trường Sa trong hòa bình. Thời thế đã khác, không gian cũng khác, nhưng những hy sinh cao cả thì chỉ là một. Nó giống như sự nối dài bất tận của lòng yêu nước.

      Thôi con nằm lại đây

      Với bạn bè đồng đội

     Với đảo chìm đảo nổi

     Trời xanh và biển xanh.

 

     Thôi con ở lại đây

      Nén hương thơm cha thắp

     Bia mộ con cha đặt

     Đây, tấm bia chủ quyền.

Bài thơ viết trong chuyến đi Trường Sa của tác giả năm 2007. Thể thơ khác, hoàn cảnh người cha cũng khác. Đi suốt cuộc chiến tranh / Một tay cha đạn cắt / Mái tóc đen nhuộm bạc / Vẫn không mất nụ cười. Nhưng nghệ thuật tổ chức bài thơ vẫn rất cô đọng. Và đặc biệt nó rất tự nhiên, tự nhiên như cuộc sống. R. Tagor thiên tài đã có lần nói rằng, tự nhiên là nghệ thuật cao nhất của thơ ca. Hai câu thơ có sức khai quát, một cảm hứng nhân văn rất có tầm:

      Bia mộ con cha đặt

     Đây, tấm bia chủ quyền.

Hai câu kết nâng hẳn bài thơ lên. Thế đấy, Tổ quốc được cắm mốc, được bảo vệ từ một tấm bia mộ liệt sĩ. Sống, hy sinh vì Tổ quốc. Chết lấy xương cốt để giữ chủ quyền cho Tổ quốc. Sự hy sinh của người lính thật vô cùng cao cả, một cách nhìn giàu tính phát hiện.

Ở trên tôi nói Lê Văn Vọng có năng khiếu bẩm sinh tươi tốt. Cái năng khiếu ấy ở anh thể hiện rõ nhất ở khâu khó nhất của thơ là cấu trúc. Cấu trúc là thiết kế một tứ thơ. Cấu trúc vững thì tư tưởng cao, ấn tượng sắc, tôi thực lòng nể trọng Lê Văn Vọng với tư duy cấu trúc này. Vào tháng 2 năm 1975, lúc mà thơ chống Mỹ đang còn ham huy động thật nhiều chi tiết chiến trường và đời lính thì Lê Văn Vọng đã rất cô đọng. Trong nghề thơ phải có sự tu luyện đến mức nào đấy mới có thể cô đọng được. Ra trận là một đề tài quá quen thuộc và cũng có một số bài hay. Nhớ của Hồng Nguyên, Cuộc chia ly màu đỏ của Nguyễn Mỹ, Chia tay trong đêm Hà Nội của Nguyễn Đình Thi… chẳng hạn. Nhưng Ra trận của Lê Văn Vọng hoàn toàn khác. Bài thơ có cái gân guốc, chắc nịch đầy chất lính. Một tổ ba người ra trận bí mật như một khối thép di động.

       Họ ra đi

       Không nói không cười

       Tổ ba người

       Một đoạn đường – chốt chặn.

 

      Cơm vắt, nước bình

     Da dày vì nắng

     Mắt đựng dầy khói đạn

     Áo dày cộm đất đồi

     Những nghách hầm sạt lở

     Đêm lại ngày bom rơi.

 

     Và khẩu súng đã trao tay lần thứ mấy

     Những khẩu súng lửa cháy xém đen.

 

     Không ai nói

     Đang bước là họ đang nói

     Những lời chắc như đóng đinh.

Đang bước là họ đang nói, câu thơ hay quá.

Một cách nói rất lính, rất cô đọng, mà gợi rất nhiều, theo kiểu vô thanh thắng hữu thanh. Im lặng nói nhiều hơn lên tiếng. Bài thơ có một bút pháp già dặn, gợi cảm và gợi nghĩ về tầm vóc và vẻ đẹp của người lính được khắc họa bằng những lời thơ như dao sắc khắc trên đá. Tôi rất tiếc là tập thơ được giải nhất của Lê Văn Vọng không được các nhà phê bình quan tâm và đánh giá xứng đáng. Viết về tình đồng đội, ta đã đọc biết bao bài thơ nổi tiếng. Nhưng trong bài Nhớ bạn, Lê Văn Vọng vẫn tìm được cách nói riêng, chứng tỏ anh luôn biết cách đào sâu về đề tài. Bài Chiếc áo màu xanh cũng được viết theo hướng đó. Bảo là bài thơ về tình quân dân chắc không ai phản đối, nhưng bảo là bài thơ tình, kín đáo, e lệ, tinh tế thì ai cũng nhận ra.

       Và bao điều em chẳng nói với ai

       Cả chuyện trời mưa định sang rút áo

      Mà hôm đến trường con bạn em nó bảo

      Trong mắt mày có chiếc áo màu xanh.

       Không nói hoa mà nói nụ, không đại ngôn to tát mà chỉ nói thầm, tìm chi tiết nhỏ để nói cái lớn, đó là cách viết rất Lê Văn Vọng.

Cũng như các nhà thơ cùng thế hệ, Lê Văn Vọng rất quan tâm mở rộng đề tài. Cùng với thời gian, tính chất xã hội trong thơ anh ngày càng tăng thêm, chiêm nghiệm về đời sống cũng tăng thêm, vừa gần gũi vừa sâu sắc. Cái mà anh thao thức đi tìm chính là cái chiêm nghiệm ấy. Một hướng đi đổi mới thơ đúng đắn khó khăn, nhưng sẽ tìm được nhiều đồng điệu. Bài Tôi muốn rất tiêu biểu cho hướng đi này. Đó là vấn đề hoàn thiện nhân cách, một vấn đề cấp bách, nóng bỏng, rớm máu cho mọi kiếp người.

      Tôi muốn như củ hành kia

      Sau mỗi ngày lại lột mình đi một lớp

      …

      Vứt lại sau

      Vay trả

      Khóc cười

      Và cứ thế

      Mỗi ngày lại nhẹ lòng đi một ít

      Và cứ thế

      Mỗi ngày lại Người thêm một ít.

Một bài thơ có tầm. Tiếp cận với xã hội công nghiệp, Lê Văn Vọng cảm nhận rất sâu sự xung đột giữa văn hóa và văn minh. Đó là nguy cơ đứt gãy, hụt hẫng các giá trị truyền thống. Anh lên án lối sống tuyệt đối hóa đồng tiền. Anh lo lắng chiếc điện thoại, một tiến bộ của văn minh, nhưng lạm dụng thái quá, nó làm doãng hơi ấm gia đình. Chiếc điện thoại thông minh / Xóa đi mọi ngăn cách / Kéo nhân loại lại gần / Nhưng đẩy gia đình mỗi người một góc. Bài Trong thang máy phê phán thói vô cảm, đặt vấn đề giữa cá nhân và công đồng. Chất keo gắn kết con người, trở lại với bản thể sinh tồn của nó, chính là tình thương. Lê Văn Vọng có rất nhiều bài thơ chia sẻ những cảnh đời cực nhọc, buồn đau, thua thiệt, nhỡ tàu. Đó là sự làm giàu xu thế hướn thiện. Tình cảm đó không giới hạn trong phạm vi quốc gia, nghĩa đồng bào mà anh còn mở rộng ra trong tầm nhân loại. Bài Những đứa trẻ tật nguyền viết trong chuyến thăm Ấn Độ là bài thơ hay và cảm động. Anh viết về những đứa trẻ tật nguyền buộc phải làm nghề hành khất quanh một trung tâm tôn giáo lớn của Ấn Độ và thế giới, Bồ đề đạo tràng, tháng 2 năm 2018. Hai câu kết rất đắc địa, sáng tạo.

         Rộng thêm nữa vòng tay nhân ái

         Dắt những ban mai khuyết tật qua đường

 Dắt ban mai khuyết tật có thể là dắt những đứa trẻ khuyết tật và cũng là dắt cả hành tinh đang bị hủy hoại của chúng ta nữa. Sức mạnh của tưởng tượng thật lạ kỳ. Hóa ra, vòng tay nhân ái không chỉ có khả năng cứu rỗi con người mà còn có sức mạnh cứu rỗi thế giới. Dắt ban mai khuyết tật qua đường là một câu thơ lạ, mới, sáng tạo và rất gợi. Hai từ ban mai đặt rất đắc địa. Nó là tuổi thơ, ban mai của loài người, nhưng nó còn là ban mai của không gian sinh tồn của chúng ta nữa. Một câu thơ rất ảo mà lại thực hơn cả sự thực. Bài Trái tim người mẹ dẫn ta đến đỉnh cao của tình mẫu tử. Người mẹ bị bệnh ung thư hành hạ đau đớn, nhưng không chịu uống thuốc để giữ cho thai nhi lành lặn. Một bài thơ quặn thắt đau đơn và cao cả biết chừng nào.

       Như có hàng trăm mũi dao rạch, xuyên nội tạng

       Những cơn đau cắt đi từng khúc ruột

       Người mẹ trẻ gồng mình

       Vẫn chối từ mọi thứ thuốc

       Chị muốn đổi mạng mình để giữ lại đứa con.

Tôi sẽ rất thiếu sót khi khép lại bài viết này nếu không nhắc đến có một Lê Văn Vọng trong văn xuôi. Anh đã hai lần nhận Giải văn học Sông Mê Kong với tập truyện ngắn Năm tháng chưa xa và tiểu thuyết Nhịp cầu. Đó là những tác phẩm làm dày thêm , đem lại vinh dự cho sự nghiệp cầm bút của anh.

Hà Nội, 13.9.2020

 HỮU THỈNH

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *