Trường ca về một con người viết hoa

VHSG- Trong văn học Việt Nam hiện đại, ngoài Thu Bồn với số lượng 7 trường ca, Thanh Thảo là nhà thơ viết trường ca nhiều nhất, đến 12 tác phẩm. Với những trường ca Những người đi tới biển (1977), Trẻ con ở Sơn Mỹ (1978), Những nghĩa sĩ Cần Giuộc (1980),  Bùng nổ của mùa xuân (1982), Đêm trên cát (1983), Khối vuông rubic (1985), Những ngọn sóng mặt trời (1994), Cỏ vẫn mọc (2002), Trò chuyện với nhân vật của mình (2002), Thanh Thảo là ông vua trường ca, như có người gọi. Quả đúng vậy. Sức viết, sức nghĩ thật đáng trân trọng, nếu không muốn nói là đáng khâm phục và kinh ngạc.

Cái khó nhất của trường ca, đó là làm sao đảm bảo sự hài hòa giữa tính tự nhiên, trôi chảy, liền mạch của hình tượng, không có chỗ gợn với sự chặt chẽ trong tổ chức, cấu trúc những mảnh ghép của đời sống được phản ánh. Thanh Thảo đạt được sự tương hợp này.

Nhà thơ Thanh Thảo

Trường ca của Thanh Thảo là loại trường ca có hương sắc riêng. Hương sắc ấy toát ra từ quan niệm nghệ thuật về con người và cuộc đời của nhà thơ. Thanh Thảo, với thể loại trường ca, đã có những sáng tạo, tìm tòi vừa đột phá, vừa phong phú, vừa mới mẻ trong tạc dựng chân dung nhân vật vừa thổi vào đó một âm sắc riêng, thấm đẫm chất thơ, chất nhân văn, chất thời đại và cả chất bi tráng của lịch sử. Những nhân vật mà nhà thơ xây dựng trong trường ca ẩn chứa những quầng sáng lung linh của hơi thở nhân dân, khát vọng của dân tộc và hướng đến mỹ học của cái cao cả, vĩnh hằng. Nói như Nguyên Ngọc, “Văn học nói cho cùng bao giờ cũng là viết về con người, là sự ngạc nhiên không bao giờ dứt về con người, là sự cố gắng mãi mãi, không cùng tận tìm cắt nghĩa con người”. 

Lần này, vào dịp kỷ niệm 40 năm thống nhất đất nước, Thanh Thảo viết trường ca về một nhân vật đương đại, một tổng công trình sư của thời kỳ đổi mới, đó là Võ Văn Kiệt. Trường ca có tên: Dạ, tôi là Sáu Dân, giới thiệu trên Tạp chí Thơ, số 4-2015, với 486 câu và 4 câu lục bát  đề từ:

Dạ, tôi là Sáu Dân

Là tôi thưa với nghĩa ân tình người

Tôi thưa với nhân dân tôi

Thưa cùng đất nước muôn đời Việt Nam       

Trường ca Dạ, tôi là Sáu Dân không kết cấu theo tiến trình lịch sử. Điều này có chủ đích của tác giả. Trục thẩm mỹ của trường ca, như đề từ, là nói về, nói đến Nhân Dân. Từ trục này, những nhân vật lịch sử mà số phận của họ, bi kịch của họ, theo chiều dài thời gian, ít hay nhiều đều gắn với nhân vật trữ tình Sáu Dân – Võ Văn Kiệt. Trong 86 năm trên cõi thế, thời gian dành cho cuộc chiến đấu của dân tộc chiếm trọn 30 năm. Thời gian còn lại là những trăn trở, dằn vặt về cái được, cái mất của người thắng cuộc. Gần như suốt một đời, Sáu Dân – Võ Văn Kiệt, đều tham dự vào những biến động của đất nước, có những thời khắc khó khăn, đau đớn của đời mình. Một cuộc chiến tranh quá nhiều khổ đau hệ lụy / Một bàn thờ hai đứa con khác phía / Mẹ đứt ruột đẻ ra giờ cư xử thế nào ? Một cuộc chiến tranh không chỉ tàn phá đất nước mà còn chia rẽ lòng người. Ngay cả giờ phút “Ngày đám tang tôi người ta đuổi các nông dân mất đất chạy có cờ / Cả những bà mẹ từng mang cơm xuống hầm bí mật nuôi tôi / Sao lại thế ? / Chúng ta không bảo vệ dân / Dân không bảo vệ ta / Thì làm sao ta bảo vệ được mình ? “. Day dứt quá! 

Có thể nói, trường ca khắc họa khá rõ nét chân dung Sáu Dân – Võ Văn Kiệt ở vào những thời khắc hết sức tiêu biểu và điển hình. Với độ lùi của thời gian, Thanh Thảo đã viết những dòng thơ trữ tình, cảm xúc, đầy sức lay động về Sáu Dân, tên gọi một cách trìu mến của nhân dân về vị lãnh đạo gần gũi, quý trọng của mình. Nổi lên trên những trang thơ là chân dung một con người đau đáu về Dân, về Nước, hoài bão cả một đời: “mong được thấy nhân dân mình đỡ khổ / trái cây chín trên cành là Dân chủ Tự do”. Cảm hứng chủ đạo về “con nợ của nhân dân” trở thành trục đồng tâm, lan tỏa đến các góc cạnh của hình tượng thơ, góp phần làm nên một Sáu Dân nghĩa ân và nhân hậu. Trong toàn bộ trường ca, chỉ một lần và chỉ một lần duy nhất, nhà thơ có nói đến chiếc ghế Thủ tướng nhưng viết: Dù ngồi ghế Thủ tướng / Tôi không bao giờ mơ tưởng / Mình đứng trên mấy chục triệu người / Mấy chục triệu đồng bào tôi / Đứng trên làm gì hay để họ đè xuống / Tôi không bao giờ tưởng tượng / Mình làm được điều thất đức này / Vua Hùng xưa cũng không làm thế.

Trường ca bắt đầu về con tàu mang tên Thuận Phong bị quân đội Hoa Kỳ bắn chìm trong một cuộc càn quét qua Củ Chi vào đầu năm 1966. Trận càn đó, cùng với 100 người, vợ con ông Võ Văn Kiệt, gồm vợ, bà Trần Kim Anh cùng hai con Phan Chí Tâm (1966), vừa mới sinh được ít lâu, con gái Phan Thị Ánh Hồng (1958), 8 tuổi, đã chết. Họ vĩnh viễn nằm lại ở đáy sông, không tìm thấy xác. Khi còn sống, ông có niềm mong mỏi khôn nguôi, khi qua đời, hỏa thiêu, tro của mình được rải xuống khúc sông mà hai người con và người vợ đã yên nằm:

                             Vợ con tôi giờ này ở đâu

                             Đáy sông nước êm hay nước xiết

                             Lục bình trôi mải miết

                             Hồn vợ con tôi nương náu nơi nào

                             Nửa khuya buồn nghe tiếng quốc kêu

                             Sao con tàu lại mang tên Thuận Phong

                             Sao vợ con tôi lại ngồi con tàu đó

                             “Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng

                             Về sông ăn cá về đồng ăn cua”

                             Bây giờ ăn gì cũng vậy thôi

                             Đâu còn vui nữa.

Có thể nói, đoạn khai mở trường ca đẫm đầy nước mắt. Nước mắt của bi kịch chiến tranh, lặn vào trong tim, không thể nói ra bằng lời, cứa vào mọi khoảnh khắc đời thường: Bây giờ ăn gì cũng vậy thôi/ Đâu còn vui nữa. Nhưng, không phải chỉ nỗi đau này, khi nghe mẹ và em qua đời, cha một mình côi cút, người con trai đầu Phan Chí Dũng (1952), rời Hà Nội, tình nguyện vào Nam và sáu tháng sau của năm 1972 cũng đã hy sinh, khi vừa hai mươi tuổi.

Anh ngã xuống tại Rạch Giá, quê mẹ: Tôi thương thằng Dũng con tôi / Nó chết còn trinh trắng / Chưa một lần tỏ tình / Tôi không hiểu làm sao mình đồng ý cho nó xuống chiến trường / Biết nơi đó mười chết một sống / Nhưng con tôi giống tôi / Nó đã quyết thì không thể cản / Tôi làm cha đau đớn khôn cùng / Con ơi, cha mắc nợ con / Món nợ ấy muôn đời không trả được…/ Cha mất con / Đất nước mất hàng triệu người con.

Hằng năm, cứ tới mùa bông điên điển thắm vàng/ những đồng sen dâng hương theo nước nổi, người cha lại nhớ về đứa con, đứt ruột nhớ thương: một bông hoa không bao giờ trở lại/ một bông hoa trong lòng cha tê tái/ thôi con về với mẹ, các em con/ đợi cha, cha sẽ cùng sum họp. Những dòng thơ như không còn câu chữ nữa, chỉ thấy một nỗi lòng. Từ đó, tóc ông trắng xóa, từ đó có những đêm không ngủ:

Tôi cũng có những 0 giờ của mình, nào ai biết

Tôi cũng có những phút giây thảm thiết

Nào ai hay…

Cuộc đời tôi bùn với đất chan hòa…

Rồi chiến tranh đi qua. Hòa bình trở lại. Ngỡ niềm vui nước nhà thống nhất sẽ xếp lại những chia ly, “lấp đi các vực sâu lỗi thời, các đáy giếng ưu tư / xếp lại các mùa lúa xa dân và những nỗi đau lép hạt” (Chế Lan Viên). Ngỡ như những trang Kiều thương thảm, xé lòng, đã đến ngày tái hợp, nguôi đi bao nỗi đau của dân tộc, không ai nỡ lật trang này không thấy phía trang kia. Nhưng không. Lại bẽ bàng. Lại cắt chia lòng người:

Bao người vượt biển chết giữa đại dương…

Ngày Thống Nhất triệu người vui có triệu người buồn

Triệu người đoàn viên triệu người ly tán

Bơi về phía nào cũng người tỵ nạn

Một biển Đông ken đặc hiểm nguy

 Tôi làm sao thanh thản…

Những “húp cháo lá đa” của hàng triệu sinh linh / qua mấy cuộc chiến tranh loạn lạc / Tôi là Sáu Dân nguyện chung số phận với mọi người”, làm ray rức mọi trái tim. Con người ấy, bao giờ cũng gắn bó một lòng với nhân dân, với đất nước, với cuộc đời. Tấm lòng vì nước mãnh liệt, cuồn cuộn như thủy triều. Có lẽ rằng, ngày trước, Nguyễn Trãi cũng có nỗi niềm này: Bình sinh độc bão tiên ưu chí / Tọa ủng hàn khâm dạ bất miên (Suốt đời riêng ôm cái chí lo trước thiên hạ / Ngồi ôm chăn lạnh suốt, đêm không ngủ).

Sáu Dân có niềm tin mạnh mẽ vào lẽ phải, vào lương tri. Ánh sáng của chân lý luôn soi đường, Và ngay trong đêm tối, hãy tin / Tôi là Sáu Dân, tôi cảm nhận điều này. Tin ở con người là phẩm chất của nhà lãnh đạo tài ba, dám làm dám chịu, dám đi tới cho một ngày mai tươi sáng, dù phải trả giá. Ta biết, để có điện phục vụ cho đời sống, cho phát triển công nghiệp, cho xóa đi những tăm tối cuộc đời, vậy mà, Ngày khánh thành đường dây 500 KV / Tôi vào trại giam Thanh Xuân thăm anh Vũ Ngọc Hải / Xin lỗi anh, anh Hải/ Vì dự án này anh chịu khổ / Anh ở tù thay tôi / Nào cạn ly /  Ở tù mà dân được nhờ / Thì cũng đáng / Tôi chỉ là người đơn giản / Đơn giản – tôi là Sáu Dân / Nếu làm được gì cho Ân Nhân / Mình không làm – là có tội. Ngày đó, nếu không có một quyết tâm đầy sắt đá, một trái tim đầy yêu thương, một nghị lực phi thường, không có gì lay chuyển, thì chắc gì “từ nay lưới điện quốc gia chan hòa“, chắc gì có một Dung Quất, chắc gì tứ giác Long Xuyên đổi thay gương mặt đồng bằng và chắc gì người giỏi, người tài ở lại, không bỏ mình mà đi. Cũng như trường hợp bà Ba Thi:

Chị Ba Thi ơi, hãy xuống đồng bằng mua gạo

Cứu dân Sài Gòn

Chị có bị tù thì tôi mang cơm

Đừng để dân mình đói

Những quyết sách của Sáu Dân, qua thời gian, đã chứng minh  ông không chỉ có tầm nhìn xa rộng, mà còn có cái tâm vô cùng trong sáng.

Với những văn nghệ sĩ như Trịnh Công Sơn, Trần Tiến, Chim Trắng, Sáu Dân – Võ Văn Kiệt chia sẻ tấm lòng. Ông nói về người nhạc sĩ tài hoa họ Trịnh: Tôi yêu người nhạc sĩ ấy / Người cho tôi nếm trải / Mình có thể đứng lên từ một khúc nhạc buồn /Người cho tôi chiếc lá / Xanh như là giọt lê tuôn / Cho tôi một phút lắng lòng / Thế giới này quả thật mênh mông / Cuộc đời còn thơ ca và âm nhạc / Có thể tóc bạc nhiều tôi mới biết / Điều đơn giản này.

Xa hơn, với những bậc hiền tài, đó là Lê Văn Duyệt: Được toàn dân kính nể / Người tiên phong đưa Sài Gòn mở cửa / Chính là người giờ trụ ở Lăng Ông /  Ai có công với Dân là có công với Nước / Xin khắc ghi điều đơn giản ấy vào lòng. Rồi Đồ Chiểu: Tôi xin theo Lục Vân Tiên / Xin theo Tử Trực, Hớn Minh, Tiểu Đồng / Xin theo những bước thong dong / Nhà thơ mù ấy sáng lòng muôn thu. Với Võ Đại tướng: Không phải vì Ông cùng họ với tôi / Mà Ông cùng họ với Nhân Dân này.

Với quốc tế, ông là bạn của Lý Quang Diệu, “có những lý do khác nhau khiến chúng ta để vuột nhiều cơ hội“. Với người Mỹ: Cuối cùng, với người Mỹ, tôi xin nói / Ngày xưa lẽ ra chúng ta là bạn / Nếu Tổng thống Mỹ tin Hồ Chí Minh / Với nước Mỹ Cụ Hồ chỉ muốn / Việt Nạm là đối tác chân thành / Vâng, là đồng minh / Nhưng rồi… / Thôi bỏ qua chuyện cũ…

Trường ca Dạ, tôi là Sáu Dân toát lên tư tưởng nhân nghĩa, chất triết luận và chất dân gian, chất tự sự và chất trữ tình, sự giao thoa giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ nhà thơ,… làm cho giọng điệu thơ trở nên tha thiết, sâu lắng, trầm tư nơi người đọc. Cái lõi của trường ca, đích đến của nó, đó là sự đoàn kết,  hòa hợp, hòa giải dân tộc, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng đến tương lai:

Không làm được gì cho đất nước

Là có tội với tổ tiên ông bà

Dạ, tôi là Sáu Dân khắc họa một trái tim nhân hậu, một tầm nhìn chiến lược, một lữ hành cô đơn trên hành trình đi về phía cái thiện, cái mỹ, mà nếu thiếu đi khuôn mặt này, lịch sử sẽ ra sao ?

Đà Nẵng, tháng 4-2016

HUỲNH VĂN HOA 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *