Truyện ngắn Trần Bảo Định: Tình quê nghĩa đất

1.

VHSG- Chiều cuối năm, Tư Trào nằm đò(1) về quê tảo mộ và ăn Tết. Gió chướng lướt thướt trên mặt nước sông Tiền mênh mông và se sắt lạnh. Ông lão ngồi cạnh Tư Trào,  râu tóc bạc màu sương sữa, khuôn mặt hằn những nét phong trần với vết cắt xổ dọc gò má trái thành sẹo; thỉnh thoảng, đôi vai lão rung lên theo con sóng táp mạn đò. Nhìn lão, Tư Trào ái ngại, lòng dâng niềm thương cảm.

“Dạ! Thưa ông, xin lỗi, ông thứ mấy?”, rụt rè, Tư Trào bắt chuyện.

Ông lão nhìn Tư Trào, cái nhìn hồn hậu phản ánh hoàn toàn trái ngược nét dữ dằn lồ lộ bên ngoài vóc dáng.

“Qua thứ Năm, đám giang hồ gọi qua là ‘Năm ruột ngựa’!”, rồi lão thở dài: “Đó là chuyện ngày xưa…”.

Mạnh dạn, Tư Trào hỏi tiếp: “Dạ! Thưa ông Năm, ông ghé bến nào?”.

Đột ngột, lão lặng thinh.

Lúng túng, Tư Trào đắn đo không biết có nên hỏi tiếp lão nữa hay không. Bỗng lão cười, rồi bật lửa mồi thuốc. Tư Trào có cảm giác khói thuốc làm say nắng cuối ngày.

“Qua ghé bến… chẳng biết bến còn không!”.

“Vậy, có lẽ đã lâu lắm, ông mới quay lại bến?”.

Lão rít một hơi, lửa đỏ đầu điếu thuốc.

Gió tạt mạnh át lời, Tư Trào không nghe rõ tiếng lão nói, chỉ nghe tiếng đặng tiếng được: “Qua đi…gi… an…ng… hoo…ồ…”.(2)

Nhà văn Trần Bảo Định

Con đò dập dềnh như chiếc lá tre bồng bềnh lượn theo sóng.

Loáng thoáng trong gió hai tiếng giang hồ, chẳng biết lão là giang hồ thứ thiệt hay: “… giang hồ ta chỉ giang hồ vặt… nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà”(3); chợt nghĩ, bụng Tư Trào mắc cười thầm.

Đò tới An Hóa, cập bến cuối ngày.

Hành khách lục tục lên bến, ai nấy bươn bả về nhà. Lão đứng lóng ngóng, và hình như lão đang định thần để định hướng đi.

“Dạ! Thưa ông Năm, ông về đâu?”.

Tư Trào không nghe tiếng lão trả lời, mà chỉ nghe tiếng chim từ quy thắc thỏm kêu buồn dội nước!

* * *

Trời chạng vạng tối, xóm cù lao đỏ đèn. Má Hai vừa bới cơm, vừa lắng nghe con kể lại cuộc gặp gỡ tình cờ với lão “Năm ruột ngựa” nào đó trên chuyến đò chiều. Má suy nghĩ lung lắm, thời buổi còn nhiều nhiễu nhương thì việc tốt xấu chẳng biết đâu mà lường. Nhưng trước mặt con, má cố giấu điều má suy nghĩ. “Cơm nước xong, con đi nghỉ đi! Chén đũa để đó, má rửa!”.

“Thôi má! Má cứ để cho con!”.

Hai má con kỳ kèo giành nhau phần thu dọn bữa cơm quê cuối ngày. Tư Trào nài nỉ, trách móc: “Dọn dẹp bếp núc, rửa chén đũa xin má cứ để cho con; bởi đó là niềm vui của con. Sao má lại không cho?”.

Má Hai tủm tỉm cười, thầm nghĩ: “Thằng nầy ngày một lớn. Tánh nó giống hệt ba nó hồi còn sống; hễ việc gì không muốn vợ con mần, thì ba nó nói đại lên: ‘Tui vui mới giành mần, sao mình cứ giựt cái vui của tui?’. Mỗi lần vậy, má Hai đành chịu phép!”.

Đêm trầm kha cuối tháng Chạp.

Nghe lời con kể ban chiều, má Hai trằn trọc nhưng nghĩ mãi vẫn chưa nhớ ra người trạc ngũ tuần, có vết sẹo bên gò má trái, với cái hỗn danh giang hồ Năm ruột ngựa ở cù lao An Hóa. Má Hai chợt nhớ tới cố Ba, người cao niên nhứt xứ cù lao, chắc cố có thể biết người mà má Hai muốn biết. Lòng má Hai khấp khởi, mong trời mau sáng.

“Tư! Đâu rồi con?”.

“Dạ! Con đây nè, má!”

Tư Trào đang lui cui bó cọng dừa làm chổi để mai hai lăm, theo má đi tảo mộ ba và ông bà ở miếng biền thí bên kia rạch.

“Con ở nhà, má đi xóm qua cố Ba có chút việc!”.

Bông cỏ may bám lai quần khi chưn má Hai đạp bừa lên những hạt sương long lanh dính mạng nhện dọc đường. Nhà cố Ba ở ngõ tắt làng, ngó rành rạnh ra con sông Ba Lai.

Cố Ba trầm ngâm, nhấp tách trà sen còn bén khói.

“Thím Hai! Qua nhớ ra rồi!”.

Má Hai mừng húm.

Lát sau, cố Ba chậm rãi nói:

“Cứ theo lời học lại của thím, chú Năm mà cháu Tư Trào đã gặp trên chuyến đò chiều, chắc là chú Năm cháu nội đích tôn của cụ Cả Trợt, từ thời cù lao An Hóa còn hai tổng Hòa Quới và Hòa Thinh thuộc tỉnh Mỹ Tho”.

Cội bạch mai trước sân nhà cố Ba lác đác nở nhụy vàng bung cánh trắng đón nắng Xuân. Và hình như sắc trời thanh sạch, không khí ấm áp… khiến cố Ba nhớ bao chuyện cũ tưởng đã quên.

“Hồi nẳm, An Hóa còn gọi kinh Giao Hòa(4), con kinh nối sông Mỹ Tho với sông Ba Lai, đồng thời hợp cùng kinh Chẹt Sậy nối sông Ba Lai với sông Bến Tre tạo nên thủy trình xuyên qua cù lao An Hóa và cù lao Bảo. Vốn sống nghề hạ bạc nên sông rạch ở quê mình, qua nắm trong lòng bàn tay. Sau ngày đình chiến (1954), nghe nói con trai một của cụ Cả – tức ba của chú Năm – bỏ xứ cù lao sang phố Mỹ Tho mần ăn buôn bán sinh sống. Từ đó, tết nhứt cũng không thấy về rồi bặt tin luôn!”.

Cố Ba chống gậy bước ra thềm cửa.

Gió xuân quằn quặt, bông dừa rụng trắng liếp vườn. Cố Ba nói chắc cứng:

“Mồ mả ông bà, trong đó có mộ cụ Cả còn nằm lại đất cù lao. Nếu phải chú Năm như qua vừa nói, thì ngày tảo mộ thế nào rồi thím cũng gặp”.

Gần hai mươi năm nay, mỗi độ xuân về hay vào dịp tiết Thanh minh, mồ mả gia tộc cụ Cả chẳng hề thấy ai lui tới hương khói, chăm nom. Nếu má Hai và bà con xóm giềng quên đi tình xưa nghĩa cũ đã từng ăn nhờ ở đậu trên đất cụ Cả, thì cụm mồ mả gia tộc nhà cụ đã thành hoang phế.

Vườn rợp bóng nắng, cố Ba tặc lưỡi:

“Chuyện khá lâu…  mà cuộc đời thì dồn dập như sóng đè lên sóng, mần sao qua tránh ngộp để khỏi cái nhớ cái quên!”.

Tiếng tặc lưỡi của cố Ba đầm đầm đầy vơi phận người, đẩy nỗi băn khoăn trong lòng má Hai ra khỏi vòng xoáy nghĩ ngợi vẩn vơ.

2.

Người đàn bà sồn sồn dẫn lão Năm tới mộ cụ Cả.

“Má! Lão đó đó, má!”.

Ngước mắt nhìn theo hướng tay con chỉ, má Hai nhận ra người đàn bà sồn sồn là cô Bảy Quán, bán hàng quán ở xóm trên; còn người đàn ông dáng dấp già sọm có lẽ trước tuổi thì má chưa nhận ra được ai.

Hằng năm, cứ vào ngày 25 tháng Chạp, người cù lao, dù đang sinh sống tại chỗ hay đã ly hương, đều xúm nhau về khu nghĩa địa biền thí có mồ mả người thân để tảo mộ. Tảo mộ đã thành tập tục thăm viếng mộ phần người quá cố trong gia đình, dòng họ; và dịp nầy họ chặt cây cối, nhổ cỏ dại, sửa sang, tu bổ cho ngôi mộ khang trang hơn; luôn luôn đó là dịp con cháu tỏ lòng nhớ cội nguồn, vì cây có gốc mới nở cành xanh ngọn, nước có nguồn mới bể rộng sông sâu khi xuân về Tết đến.

Má Hai chụm tay lên miệng làm loa, nói lớn:

“Ai như là cô Bảy Quán?”.

“Dạ! Bảy Quán nè, chị Hai!”.

“Cô Bảy tảo mộ ai đó?”.

“Không! Không! Em đi chỉ dùm phần mộ cho khách”, tiếng cô Bảy Quán nghe rõ mồn một.

Nói xong, cô Bảy Quán quày quả quay lộn lại ra đường cái trở về quán.

Má Hai hối thúc và nhắc Tư Trào sửa sang bốn phía ngôi mộ của ba nó. Với má Hai, đó là lòng kính trọng của vợ con và cũng là cách coi sóc tình hình xung quanh ngôi mộ chồng có đọng nước hay không. Bởi nếu nước đọng thấm vào mộ sẽ có ảnh hưởng không tốt cho vận thế của con.

“Dạ! Xong rồi, má!”.

Tư Trào nói trong hãnh diện, chẳng khác nào báo công với má.

“Xong rồi thì má con mình mau mau qua cụm mả cụ Cả, giúp lão…”.

“Lão Năm… nhớ nha má!”, nhạy miệng, Tư Trào nhắc má Hai.

Cụm mả cụ Cả có nhiều mộ và nhiều mộ tươm tất. Lão Năm linh cảm mấy mươi năm qua, hình như có ai đó chăm sóc và tảo mộ. Lão cảm ơn người, cảm ơn trời đất còn thương dòng họ lão không phải lâm vào cảnh xiêu mồ lạc mả. Lão một mình, lưng trần trùng trục, mồ hôi mồ kê vả mặt, ướt mình mẩy. Lão cật lực đắp thêm đất lên mộ phần ông nội và người thân, vì lão tin cao nấm ấm mồ.

“Thưa ông! Cho phép má con tui phụ giúp ông một tay!”.

Lo mần chúi mũi tối mắt không để ý xung quanh nên khi nghe tiếng thưa thốt, lão giựt mình thót người.

“Á! Thằng nhỏ! Cái… thằng nhỏ!”, lão la lên bật thành tiếng reo mừng lúc ngó thấy Tư Trào.

“Dạ! Đây là má của cháu”, Tư Trào giới thiệu má Hai với lão Năm.

“Nhiều năm, năm nào tui và bà con chòm xóm cũng xúm nhau tảo mộ cụm mồ mả cụ Cả”.

Má Hai dứt lời. Lão buông cuốc, chắp tay cảm ơn, mắt rưng rưng!

Trước lạ sau quen, má con Tư Trào xăn tay áo xáp vô chung việc tảo mộ. Má Hai tấm tắc khen thầm: “Cố Ba đoán việc như thần!”.

Cụm mả cụ Cả vừa tảo mộ xong thì trời đã trưa trầy trưa trật. Quẹt mồ hôi trán, má Hai mời lão Năm ghé nhà dùng bữa cơm đạm bạc.

Trong bữa cơm, má Hai và lão Năm vừa ăn vừa chuyện vãn. Đột nhiên, lão Năm nêu ý kiến: “Chị Hai! Chị cứ việc gọi em là thằng Năm… Thằng Năm ruột ngựa!”.

“Ý! Đâu hỗn hào vậy được!”.

“Thằng Năm nầy nhỏ tuổi hơn chị tới một con giáp; sao không được?”.

Má Hai do dự, mà rồi nghĩ lại cũng phải, cứ kêu một lão Năm… hai lão Năm, kêu hoài như vậy nghe thiệt chướng tai.

“Thôi! Tui gọi bằng Cậu Năm, cậu nhắm coi được hôn?”.

Lão buông đũa.

“Chị Hai!”.

Niềm vui ùa vào mâm cơm đang ăn dở dang.

Xị rượu mận cúng tảo mộ, Năm “ruột ngựa” rót ra chén, làm một hơi cạn sạch và vén vạt áo chùi mép, có vẻ còn thèm thuồng. Thấy vậy, má Hai biểu Tư Trào chạy ra cô Bảy Quán đong thêm nửa lít rượu mận để cậu Năm uống cho vui.

Cậu Năm nài nỉ.

“Bữa cơm nầy coi như bữa cơm chị em mình kết nghĩa, chị nói cháu nó đong cho em đúng một lít đi, chị Hai!”.

“Uống gì mà uống dữ vậy, cậu?”, má Hai nói để nói, chớ cũng chìu cậu em.

Nắng xế chiều. Lác đác đã có một hai bầy cò lặng lẽ bay ngang sông Ba Lai về tổ. Cậu Năm ngồi uống rượu một mình trên tấm phản.

“Hổm rày, cậu ăn ngủ ở đâu?”, má Hai hỏi.

Cậu Năm cười, trả lời:

“Mới hai ngày hai đêm thôi, có lâu lắc gì đâu. Đêm ngủ đình làng, ngày ăn quán cô Bảy”.

Cậu Năm nói, cậu tiếc hùi hụi, vì hai ngày nay cậu không biết ở quán cô Bảy có rượu mận uống ngon như vầy; nếu biết, cậu không uống bia vừa tốn nhiều tiền, vừa uống không đã.

Cậu Năm dợm đứng dậy dọn mâm cơm xuống bếp. Má Hai vội ngăn lại:

“Cậu cứ để đó cho cháu! Mời cậu qua bàn uống nước!”.

Cậu Năm nói với má Hai:

“Lát nữa, em ghé cô Bảy Quán, rồi trở vô đình”.

Thâm tâm má Hai tự nghĩ: “Thiệt ra, miếng đất mình đang ở vốn là đất của cụ Cả cho mình ở đậu từ hồi nẳm. Nay, cháu cụ Cả sa cơ lỡ vận không lẽ mình làm ngơ?”.

“Đâu có được cậu! Chẳng biết nhau thì thôi, đã biết nhau rồi, cậu cứ ăn ngủ lại đây, không gì mà ngại!”.

Rồi, má Hai giục:

“Uống nước xong xuôi, cậu nằm nghỉ. Một chút nữa, cậu theo tui tới thăm cố Ba”.

“Cố Ba nào, hả chị?”.

“Rồi, cậu sẽ biết!”.

3.

Cậu Năm theo má Hai tới thăm cố Ba.

Thường thì người ta nhớ chuyện cũ, mà lại nhớ rất rõ, và thích nói chuyện cũ như chuyện mới xảy ra. Cậu Năm lắng nghe cố Ba nói về thời ông nội của mình; cái thời cụ Cả giúp người cơ nhỡ, cho ở đậu những ai không có đất ở như cố, như má Hai… Có lẽ, cụ Cả ăn ở có đức nên lúc lâm vào cảnh suy mà không tàn, mồ mả hoang mà không phế… không hương tàn bàn lạnh!

Cầm tách trà mời cậu Năm, cố Ba nhắc câu nói dân gian: có đức mặc sức mà ăn.

“Thưa cố! Cố thương thì nói vậy, như cháu…”.

Cố nối lời:

“… Như cháu không có cái ăn, chớ chẳng phải là không sức ăn!”.

Và, cố hỏi cậu Năm:

“Ý cháu muốn nói vậy?”.

Cậu Năm xẻn lẻn. Má Hai nói chen vào:

“Tui định bụng giữ cậu Năm ở lại cù lao, bởi dù gì nơi đây cũng là quê cha đất tổ…”.

Cố Ba gật đầu.

“Phải đó, thím Hai!”.

“Thưa cố! Sẵn có cậu Năm, tui tính vầy, cố và cậu nó nghe coi được không?”.

“Thím Hai cứ nói!”. Cố Ba nôn nóng muốn nghe.

“Tui còn năm công vườn tạp không có huê lợi là bao, định bụng giao lại cậu Năm có chỗ nương tựa và trồng trọt kiếm sống qua ngày”.

Mọi người im lặng. Có lẽ, điều má Hai vừa nói hơi đột ngột; má Hai nói tiếp:

“Vả lại, tui không muốn thằng Tư Trào đi làm thuê làm mướn phương xa… Giờ có cậu Năm, tui muốn hai cậu cháu cùng khai thác mảnh vườn…”.

Má Hai chưa dứt lời, cố Ba nhịp tay lên bàn.

“Hay! Hay quá…!”.

Hoàn toàn bất ngờ, cậu Năm phản ứng: “Nhưng…”.

“Không có nhưn nhị gì hết! Cậu nó già rồi, mỏi gối chồn chưn thì còn đi đâu chi nữa”, má Hai nói dứt khoát.

Mây đùn đục, mưa xuân lâm thâm chiều tháng Chạp.

Cố Ba vói tay lấy chai rượu mận rót ra ly.

“Cháu Năm nhấp chút cho ấm lòng”.

“Mèng đéc! Nóng lòng, chớ ấm lòng cái nỗi gì mà ấm. Cậu nó đã uống hơn lít rượu mận đong ở quán cô Bảy rồi đó, cố ơi!”, má Hai nói giãy nẩy.

Cố Ba thừa biết, vì mình mẩy cậu Năm còn bốc mùi rượu lúc vô nhà cố. Song, với con người giang hồ nầy, tửu lượng chẳng phải tầm thường.

“Thím khéo lo!”, cố Ba trấn an má Hai.

Rượu vào lời ra, cậu Năm khen đáo khen để rượu mận. Cố Ba hỏi:

“Cháu có muốn tự tay mần rượu mận không?”.

Cậu Năm khoa tay ra chiều khoái chí tử! Nắm tay cậu Năm, cố Ba thong thả bước ra sân.

“Trồng mận trước khi chưng cất rượu mận. Năm công vườn, vừa sức cháu trồng mận. Âu đó cũng là sự báo ứng có đức mặc sức mà ăn của ông bà để lại!”.

“Thưa cố! Cháu không thể lấy cái gì không phải của mình”.

“Nghĩa là…”.

“Nghĩa là, cháu không lấy năm công vườn của chị Hai”.

Cố Ba giựt mình vì câu nói cứng của cậu Năm. Cố nghĩ: “Tay giang hồ nầy vẫn còn giữ cốt cách liêm khiết tâm hồn. Kẻ tự nhận đại nhân lại…”.

Đi sau lưng hai người, má Hai vọt miệng:

“Năm công vườn đó không là của tui, mà là hồi trước của ông nội cậu cho tui mượn đó!”.

Cố Ba ngửa mặt nhìn trời, nói:

“Châu về hợp phố”.

Chiều 25 Tết, không khí vui như Tết!

4.

Mười chín tháng Giêng.

Cậu Năm dựng mái nhà trên đất má Hai giao. Tư Trào hớn hở chạy lăng xăng phụ việc cậu Năm. Từ đây, nó không phải xa má; và cũng từ đây, nó mần cho nó chớ không phải mần thuê mần mướn cho ai. Cô Bảy Quán có mối lái cây giống mận An Phước ở Cần Thơ nên cô hứa đưa cậu Năm xuống nhà vườn đặt mua cây giống. Ngày nào, cố Ba cũng chống gậy tới nhà cậu Năm để chỉ vẽ cậu cách lập vườn, khai mương. Má Hai lo phụ cơm nước cho cậu Năm và thằng con. Buồn miệng, cố Ba hay kể chuyện đời. Một hôm, cố nói Thái tử Tất-đạt-đa lần đầu tiên ngồi thiền dưới gốc cây mận(5), mới nghe qua thiệt là ngộ, và cũng nửa tin nửa ngờ. Cố nói: “Hồi trai trẻ, cố theo má qua chùa Vĩnh Tràng ở Mỹ Tho lễ Phật, lần đó, cố nghe Sư giảng về cây Diêm-phù. Xứ Ấn Độ trồng nhiều cây Diêm-phù nên còn gọi là Diêm-phù-đề  (Jambudvipa), và Diêm-phù- đề còn mang nghĩa là trái đất. Vì vậy, trong kinh sách đạo Phật, đôi khi ta thấy có nói tới cõi Diêm-phù-đề”.

“Dạ! Thưa cố! Vậy, cây mận thuộc loại  cây linh hả cố?”, Tư Trào rắn mắt hỏi cắc cớ.

“Tin là có! Điều chắc ăn là cây mận giúp người nghèo thoát nghèo!”, cố Ba cười tự tin như đinh đóng cột.

Mấy lần cậu Năm theo cô Bảy xuống miệt Cần Thơ coi giống và đặt mua cây mận giống. Cậu nói với má Hai: “Mận xanh trái dài, mận đỏ đèn cầy… từ màu sắc, hình dáng tới kích thước trái không bằng mận An Phước”(6).

Cậu Năm mua mấy chục ký trái mận An Phước đem về, trước làm quà biếu bà con chòm xóm, sau để má Hai thấy tận mắt. Mận An Phước trái quả dài, lớn trái, màu vỏ tím đỏ sọc trắng mờ và thịt trái giòn, ngọt, đặc ruột. Đồng thời, cậu nói cho má Hai biết là cậu đã  đặt mua cây giống mận An Phước, và trại giống nhận luôn bao tiêu cung cấp giống cây trồng cho năm công vườn.

Chiều nào, cô Bảy Quán cũng xách rượu mận vô nhà cậu Năm. Cô khoe với má Hai: “Rượu mận em lấy từ mận An Phước giống Cần Thơ, một loại mận được giá nhứt bây giờ. Cây ghép mắt, ghép cành, chiết nhánh thì chỉ sau mười tám, mười chín tháng trồng là ra trái”.

“Lẹ hung vậy, Bảy?”.

“Chậm lấy gì ăn, chị Hai!”.

Rồi cô Bảy thỏ thẻ cùng má Hai: “Thấy anh đơn chiếc, thui thủi một mình cũng thấy thương. Lúc ảnh nhận cây giống đợt đầu để trồng, em nhắc cây cách cây sáu thước, hàng cách hàng bốn thước có cách xa cây mới khỏe, trái mới sai. Rồi, em nói giỡn người sáp gần ít nhớ, ít thương”.

Má Hai mừng ra mặt, vội học chuyện lại cho cố Ba nghe; nghe xong cố Ba cười rôm rả: “Hữu duyên thì được, vô duyên thì đành!”.

Cố tấm tắc khen: “Cái thằng giang hồ trụ hình, mần coi được quá!”.

Mận giống An Phước được trồng ngay hàng thẳng lối, và tối ngày chú cháu Tư Trào quanh quẩn ngoài vườn chăm nom cây. Cực mà vui, cực mà không khổ. Má Hai nhiều lần nói xa nói gần, mong cậu Năm yên bề gia thất với người thương cậu. Riết rồi, Má Hai nói huỵch toẹt: “Chỗ cô Bảy Quán được đó, cậu!”.

Mỗi lần vậy, cậu cười trừ và họa hoằn lắm mới hé môi: “Để xong mùa trái chiếng mận An Phước rồi sẽ tính, chị Hai!”.

Má Hai sực nhớ cái hỗn danh “Năm ruột ngựa” của cậu Năm, nó thể hiện đúng bản tính con người của cậu “thẳng như ruột ngựa”! Do vậy, má Hai chỉ cười mà không thêm lời thúc giục nào!

Xóm cù lao những đêm trăng, và khi con sông Ba Lai mờ sương, chẳng biết thuyền ai đó xuôi dòng hò câu hò như đùa giỡn, như chọc ghẹo cậu Năm:

Bây giờ mận mới hỏi đào

Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?

Mận hỏi thì đào xin thưa

Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào…

Tư Trào học lóm câu hò, cứ nhại tới nhại lui.

Bực mình, cậu Năm rầy:

“Việc còn mê mê, chưa đâu vào đâu…”.

Tư Trào cũng chẳng vừa.

“Cậu dặn, bông mận nở sau hai mươi ngày, mình lo bao trái bằng giấy đề phòng ruồi đục trái. Cô Bảy trổ bông quá hạn, sao cậu còn chần chờ không lo bao trái, kẻo…”.

Cậu Năm chặn lời Tư Trào:

“Tình người rồi cậu sẽ đền đáp. Với nghĩa đất, cậu toàn tâm ý tin cây mận là cây linh và cầu nguyện cây linh giúp người thiện tâm, làm nên một thương hiệu Mận An Hóa trên vùng đất cù lao nằm giữa sông Ba Lai của xứ dừa yêu mến nầy!”.

Bầu trời xanh, bầy chim trời lươn cánh bay sang sông Tiền về tổ!

TRẦN BẢO ĐỊNH

___________

  1. Nằm đò có nghĩa đi đò dọc (tiếng địa phương).
  2. Giang hồ: giang xuất xứ từ Tam giang (Kinh Giang thuộc tỉnh Hồ Bắc, Tùng Giang thuộc tỉnh Giang Tô, Chiết Giang thuộc tỉnh Chiết Giang);  hồ xuất xứ từ Ngũ hồ (Bá Dương Hồ thuộc tỉnh Giang Tây, Thanh Thảo Hồ và Động Đình Hồ thuộc tỉnh Hồ Nam, Đan Dương Hồ và Thái Hồ thuộc tỉnh Giang Tô. Ngày xưa, các danh lam thắng cảnh trên được nhiều người tới ngao du ngoạn cảnh. Vì vậy, giang hồ chỉ những người sống phóng khoáng, không nhà cửa, thường rày đây mai đó.
  3. Bài thơ Giang hồ, Phạm Hữu Quang.
  4. Năm 1900, cù lao An Hóa thuộc tỉnh Mỹ Tho. Năm 1948, Uỷ ban Hành chánh Kháng chiến Nam Bộ quyết định cù lao An Hóa thuộc tỉnh Bến Tre. Năm 1954, cù lao An Hóa thuộc tỉnh Mỹ Tho. Năm 1956, tỉnh Bến Tre đổi tên tỉnh Kiến Hòa và cù lao An Hóa thuộc tỉnh Kiến Hòa. Sau tháng 4.1975, tỉnh Kiến Hòa đổi tên tỉnh Bến Tre và cù lao An Hóa thuộc tỉnh Bến Tre.
  5. Ấn Độ, Mã Lai, Singapore… gọi trái mận là Jambu. Trong tiếng Phạn, Jambu dịch âm là Diêm-phù.
  6. Từ giống mận Thongsamsri (Thái Lan) ghép gốc mận xanh đường (Việt Nam).

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *