Truyện ngắn Bảo Thương: Mùi hương gọi về

VHSG- Mưa, những cánh rừng thâm lam một màu của mây, màu từ hơi nước biển thổi vào, gió không mang xa được, gặp những vách núi chặn lại, nên nó đọng hết ở kia, và phả lại phía phố biển, làm nên một màu thâm lam sâm sẫm. Con đường dẫn lên vách đá cao, từ đây để nhìn xuống, những con thuyền nan bé nhỏ như chiếc cặp cài đầu xíu xíu trên mái tóc u huyền của người con gái, như Anna, cô gái Tây mà có mái tóc đen huyền.

“Tổ tiên em từ vùng Siberia đến, bố em bảo vậy”. Anh nghe cô kể vào một đêm tối trời. Mảnh vườn, những bông hoa tử huyền nở thẫm, loài hoa chỉ đợi đêm về là khoe sắc và ngát hương, chỉ khi mặt trời lóe những tia sáng đầu tiên, mới bắt đầu cụp cánh, khép mình, như không hề muốn phô vẻ đẹp với ai. Bầu ngực Anna cũng trắng tròn và mềm như những cánh hoa tử huyền trong đêm. Tiếng Anna rì rầm, rì rầm: “Cha em thích loài hoa này nhất, vì mẹ em thích. Liệu có thứ gì người con gái thích cũng thành nỗi thích ở người con trai không?” Anh không biết.

Anh đang miên man nghĩ về mẹ và bố anh. Ngày bố anh tỏ tình, bố có hỏi mẹ, em có ra đảo cùng anh không? Mẹ anh nhìn ông lắc đầu. Và những giọt nước mắt bắt đầu lăn dài xuống má và ướt đẫm hai vạt áo. Là vì mẹ nghĩ đến ông ngoại. Ông vẫn chạy trên chiếc thuyền câu vó bè trôi dạt cùng cô con gái duy nhất. Biển là nhà, thuyền là tổ ấm, tôm cá là sinh khí, và gió, và nước, và nắng, và đảo, và những cánh buồm là tâm hồn của những con người nơi đây, nên ông không xa nó nổi một ngày, không xa nó nổi một giờ, kể từ ngày vợ ông mắc bệnh dịch tả trên con thuyền này, rồi bà ngã xuống biển trong một lần gắng ra mui vệ sinh. Và từ đó, nước trời mênh mang kia còn là nấm mồ vĩnh viễn và vô biên, để mỗi khi nhớ bà, mẹ anh lại hét lên một tiếng dội vào lòng nước sâu, để mỗi khi khi nhớ vợ, ông ngoại anh lại lấy nước mặn vỗ vào mặt cho thêm phần cay xót. Nước biển sẽ chữa lành những đôi mắt đỏ, chữa lành cả những vết thương.

Và năm nào đến ngày đó ông ngoại anh cũng để dành những con vật biển to và ngon nhất mà mình đánh bắt được cúng vợ, ở quẵng sâu bà đã lộn nhào, để đàn cá nào lôi xác bà đi, để tiếng ông rú gầm trong một sớm mai khi cô con gái còn nằm co ro trong chiếc chăn lạnh, gió biển thổi làm bay ống quần phần phật, không thấy vợ đâu, biển trời mênh mang, bà đã đi đâu được chứ, tiếng ông gầm vang làm động cả tầng sâu nước thẳm, động những cánh quạ đàn trên những mỏm núi cao, động đàn dê đang bám những móng chân sắc nhọn vào vách đá, động Thiên cung và Thủy Thần, nước mắt ông cũng mặn chát và nhiều như nước biển vậy.

Nhà văn trẻ Bảo Thương

Mẹ anh chỉ biết vậy, cho đến ngày lớn lên, vẫn chiếc thuyền nan đó, vùng biển đó, dù giờ những con tàu ngày càng lớn vươn khơi, nơi biển cha con bà cắm mốc nước đã rút về ngoài xa, cá tôm cũng không còn, và người ta bắt đầu ra tận vùng nước sâu để cấy tạo, nuôi trồng, khai thác sản vật, thì ông chỉ quẩn quanh cùng gió, nắng, nước và những con sóng nơi này. Tao xa nó đặng không được, ba bữa cơm trưa sáng chiều ai mời bà ấy lên ăn, nấm mồ vĩnh viễn và vô biên cũng cần thành kính và chăm sóc, tao cắm mũi sào ở đây để lưu dấu và đánh dấu lãnh thổ, mình đi rồi, có kẻ nằm lên xác mẹ mày ư? Đó là cái lý rất ư là đời, để mẹ anh khóc khi người con trai tận ngoài đảo xa, đã thầm thương, khi nhiều lần đi đánh lưới cùng cha con bà, nắm tay bà hỏi, anh ra đó, em có đi cùng anh không.

Đêm trăng ngoài biển thì buồn lắm, Trăng rọi khắp trần gian, trăng tuôn suối ngọc xuống muôn loài. Loài cá nào đang đớp ngọc, loài ốc nào đang hớp thứ sáng trong từ trời nhả xuống. Trăng đâu chỉ của hai người. Bố anh vuốt tóc mẹ anh nhẹ nhàng bảo, em cứ nghĩ suy cho kỹ, anh sẽ chờ, bao lâu anh cũng chờ.

Một ngày, ông ngoại cắm một cọc sâu vào lòng biển cả, chiếc cọc không biết có đến được tận cùng đáy không, hay chỉ là sự tượng trưng cho một nghi lễ. Ông giơ tay với về phía mặt trời ối đỏ đằng Tây như chiếc bát úp bằng máu khổng lồ, tuôn dài những giọt đỏ trong hoàng hôn, như người thầy pháp đang làm lễ nghi bí hiểm, cảm tưởng chỉ có thiên cơ mới hiểu được phép trời. Ông quỳ xuống rồi đứng lên, rồi lại quỳ xuống. Trước mặt là năm đồng bạc trắng, một bát cơm, sáu con tôm hùm, bảy con cua, loại ngon nhất ông bắt được và vẫn nhốt nguyên ở dưới tầng hầm từ mươi hôm trước:

Thiên cơ là của đất.

 Phép năng là của trời.

 Quyền hạn của  thủy thần .

Tôi, người trần mắt thịt, gà trống nuôi con, ăn nhờ lộc trời, ngủ nhờ lộc biển, nguyện chết cùng gió, nắng, nước và mây này. Nhưng nay, con gái tôi đã lớn, đến tuổi dựng vợ gả chồng, phận làm cha mong con được hạnh phúc. Lời có thề với nước xin rút lại, lời có hứa  với sóng xin được quy về, để con được yên bề, để người nằm giữa nấm mồ vĩnh cửu kia được yên dạ mà thoát siêu, khi con gái được vẹn bề gia thất…

Ông cúng xong thì rời thuyền đi vùng biển khác. Chiếc thuyền chở hai bố con căng buồm gặp gió nam thuận lướt băng băng, băng băng, cảm tưởng nó lao vun vút với tốc độ như chỉ có trong giấc mơ, mẹ anh phải lấy tay bấu mạnh để biết mình thực có mơ. Ông ngồi cạnh con gái nhắc: thủy cung nghe được lời bố, thần biển thấu được lòng cha, người vợ hiền hiểu được tâm nguyện, đất trời biết được lẽ trung trinh này, nên con yên tâm, con cứ đi xây dựng hạnh phúc, và giờ đây, cha sẽ đến cắm mốc một mình ở vùng biển khác, con gái ạ.

Một ngày, ông đưa con rời thuyền lên đất liền, cầm tay con trao vào tay người trai con thương. Hai người cúi lạy cha, trước khi con thuyền cũng lao như giấc mơ đi vào vùng biển bạc trắng xóa phía bãi bờ, chỉ vài giây sau là không nhìn thấy nó. Để mãi sau này anh đã lớn, bố anh vẫn hỏi mẹ, hôm đó là thực hay mơ mình nhỉ, tôi chỉ thấy ông cụ lướt đi cùng gió sóng, như thế có một thế lực vô hình đẩy đi bằng sức mạnh vô song của tự nhiên vậy.

Bởi từ đó họ không còn gặp lại nhau. Vùng trời ông cụ quyết định đến cắm neo, vùng biển ông cụ quyết định đến giăng vó, cắm sào, bắt cá, là đâu, không một tin tức. Người vùng biển sinh ra từ biển, lớn lên từ biển, chết cũng về với biển, vô hình và vô tăm tích, như cụ anh, rồi đến bố anh, thì hà cớ gì biết được một manh mún nào từ ông cơ chứ? Anh lớn lên, bố anh vẫn hỏi mẹ, hôm đó là thực hay mơ mình nhỉ?

Rồi cứ đến ngày đó, bố anh lại làm đúng những nghi lễ như cha vợ xưa từng làm, cúng hoàng hôn, cúng mặt trời đỏ máu, cúng biển đêm, cúng trăng sao, cúng con người, cúng nấm mồ vĩnh viễn và vô biên vậy, khi ông đã đưa được con gái họ lên bờ, đến một hòn đảo, làm những nghề truyền thống, và sống một cuộc đời bình dị, cũng gắn bó với biển khơi, với cả ruộng vườn, trâu bò, cùng thú rừng và hoa quả trên núi cao, tức cuộc đời phong phú hơn cha cô.

Anh ngồi lại giữa con đường nhìn xuống những chiếc cặp tóc bé xíu duyên dáng trên mái tóc u huyền của người con gái nào mà anh đã nhìn thấy, như mái tóc mẹ anh, rồi mái tóc Anna. Ngày còn ở bên đó có lần đi chợ người Việt, anh cũng tìm mua một chiếc kẹp, kẹp lên mái tóc đen nhánh bồng bềnh của cô, làm khuôn mặt cô bớt tròn lại, và chiếc cặp làm nổi bật nước da nâu mật khỏe khoắn, nổi bật mái tóc đen, mắt cô lấp lánh, lấp lánh, như ngày anh trông thấy mẹ anh nhận được món quà bố anh đi công tác vào đất liền sau hai tháng trở về mua tặng vậy.

Anh nhìn sâu vào lòng biển, sóng đánh vào bờ đá oàm oạp, con thuyền nào đi về phía khơi xa để ngọn đèn nhấp nháy ở trên boong, ngọn đèn mỗi lúc một xa dần, xa dần. Đêm nay trăng đủ sáng, làm ánh nước phía ấy lóe lên. Anh chọn một địa điểm thật thích hợp để ngắm cả những hòn đảo xa xa nổi lên trên mặt nước màu đen thẫm như bức tranh mực tàu được kí họa, đẹp đến nao lòng.

Anh là dân vùng biển, sinh ra và lớn lên ở đây, anh không thể xa được vùng trời này, gió, nắng, nước và đảo này, như ông ngoại anh, mẹ anh, rồi bố anh. Để đi khắp một vòng trái đất anh vẫn trở về.

Ngày về, ôm một hòn đá đen, ngửi thấy mùi của đảo, ấp tay vào nghe được tiếng sóng. Tiếng sóng đã quện vào những thân ốc, quện vào những thân đá, chỉ khi có tâm hồn, có tình yêu biển sâu nặng, mới lắng nghe được tiếng lòng của nó, kết tụ vào từng vật thể nhỏ bé tưởng vô tri kia.

Anh nhặt một hòn đá núi khác, áp tai thử vào, cố lắng nghe tiếng nói của chim, của khỉ, của hoa quả, của thú rừng, của đất đai và cây cối. Mỗi vật nơi đây dù nhỏ nhất cũng đều gắn bó máu thịt với anh.

Chiều nay anh đã làm xong mẻ mắm cuối cùng của đợt cá này. Chượp ủ đã chín và bốc mùi thơm ngào ngạt. Những chượp cá, nó chính là hồn cốt. Anh lại áp hòn đá vào tai, để nghe nó có nói thêm về biển khơi, những mẻ cá và mẻ mắm, thứ không thể thiếu với anh, cũng như với ông anh và bố anh không?

Chiều nay, mẻ mắm cuối cùng đã hoàn thành, cho mẻ cá từ hai năm trước. Hai năm cho một lần cá ủ thành mắm, hay năm năm cho một lần cá ủ rồi chôn xuống đất để kết tinh khí đất trời âm dương mà cho ra những tinh chất ngọt ngào nhất của cuộc đời mà người ta gọi bằng cái tên dân dã: nước mắm. Phải, chỉ dân dã thế thôi, nhưng là bao mồ hôi, công sức, xương máu, sự vất vả, đam mê, trở trăn, giọt nước mắt, cả linh hồn anh gửi vào đó. Anh yêu nước mắm đến mê say.  Có những thứ mùi vị vẫn níu con người ta mạnh mẽ đến thế ư? Không phải vị hoa hồng nước Pháp, không phải mùi tử huyền nơi vườn cây trong khu vườn của bố Anna, mà là nước mắm, nó níu hồn anh trở lại quê nhà, sau bao năm bôn ba.

Anh yêu từng mẻ cá đã ráo khô, tươi mới, từ tàu đêm trở về, anh yêu vị muối biển mặn mòi đã được phơi dòn, mất hết bị chát, anh yêu nhưng ang mắm làm bằng đất nung đậm màu truyền thống.

Ngày còn ở bên đó, anh cũng từng ra cảng Dory mua cá, đến San Francisco lấy muối. Nhưng chum sành không có, đành phải dùng lọ thủy tinh. Anh và bố Anna hì hục với mẻ cá muối đó, để rồi chôn sâu nơi góc vườn, đến cả tám chum. Đã hơn năm năm, hay gần mười năm nữa, thời gian trôi nhanh quá, ngày anh về, ba chum đã được ăn hết.

Bác thèm vị mắm quá – ông nói với anh vào một chiều thu Texas, trời đã lạnh như giá băng, trên bàn là những đồ Tây ngồn ngộn, không một món nào làm con người ta có thể liên tưởng đến vị mắm Việt Nam, sao ông có thể thèm?

Ngày ở đó về, bác luôn thèm mắm, nhiều lần đến chợ người Thái mua, nhưng chưa khi nào đúng vị, có lần bác phải lái ô tô ba tiếng về vùng California đi chợ người Việt, nhưng thứ mắm của họ nhờ nhợ của chất bảo quản, tạo mùi hương vị, nó không phải mắm, nó không phải vị mặn rồi ngọt hậu, ngọt mãi trong cuống họng và thơm lừng mùi thơm của cá ủ, phơi sương, phơi nắng, đảo đều, rồi phơi âm, để cho ra đủ axit amin một cách tự nhiên nhất mà mẹ cháu đã làm. Bác thèm vị mắm mẹ cháu làm.

Thương ông, anh cũng lái xe bốn tiếng để về vùng biển Dory Fishign mua đủ cá, đủ muối, nhưng không sản phẩm nào đúng với tiêu chuẩn của anh. Ở đây cũng không lấy đâu ra những quả dứa chín thơm vàng lựng, cùng thính gạo rang nức, cho vào ủ chượp, nên anh đành cắt vài trái táo để vào lọ thủy tinh, chôn sâu vào đất, để người đàn ông Mỹ kia đỡ nhớ vị mắm cá thu, mắm chắt tôm, cùng mắm mực, mà mẹ anh làm xưa kia. Thứ nước tinh khiết được chắt ra từ biển, từ cá, quyện hòa cùng gió nắng vùng quê anh, và tình yêu, sự chăm chỉ, say mê cùng tấm lòng nồng nhiệt của con người nơi đây, để ông được thưởng thức mà nhớ mãi, đặc biệt tấm lòng của người đàn bà miền biển là mẹ anh.

Năm đó, bác nằm trong hang đá đến gần hai tháng, sáng nào, chiều nào, mẹ cháu cũng mang cá, cơm, cùng mắm vào cho bác, có khi vài con mực, có khi là ngao ngào với ruốc rồi chưng lên, cái quan trọng, không bao giờ thiếu mắm. Từ một con nhà binh nòi, sống ở một cường quốc giàu nhất thế giới, lại là con cưng của Tổ quốc, vốn ăn đủ những thứ hảo hạng, từ rượu loại một, bánh mì loại nhất, những thức ăn phương Tây quen thuộc, giờ bác bắt buộc phải làm quen với những món ăn tự làm, tự nuôi, tự bắt, lại rặt truyền thống ở một đất nước mông muội, nghèo nàn, mà bọn bác chỉ có nhiệm vụ đến thả bom rồi bay về Tổ quốc và chìm đắm vào rượu ngon, gái đẹp, những cuộc chơi, thì những thức ăn đó quả là một thử thách khốc liệt những ngày đầu. Mẹ cháu may sao lại biết tiếng Pháp. Ngày xưa cha bà chơi thân với một sĩ quan Pháp sống ở đồn Hà, chính người đã xây dựng Pháo Đài Thần Công, ông thích biển, nên thường theo thuyền cha con họ ngao du, cha bà dạy ông tiếng Việt, còn ông ta dạy lại họ tiếng Pháp. May mà bác có biết tiếng Pháp, để hiểu được rằng, nếu ông không ăn cái này, thì chỉ còn cách chết đói mà thôi, đó là món ăn truyền thống duy nhất và cũng là ngon nhất mà tôi đã gắng có được để nuôi dưỡng ông rồi, chứ ông ném bom xuống vùng biển này, phá bao cá tôm, giết chóc bao dân chài, bao con thuyền hư nát, người dân than khóc oán hận ông ngút trời, họ chỉ cần biết ông còn sống, thì cái hang đá này cũng vụn thành cám, chứ nói gì đến thân thể ông. Bác hồi đó chỉ biết sợ và ân hận, người ta bảo, đó là một căn cứ quân sự nguy hiểm, có khả năng làm hại cho quân đội Mỹ, chứ bác đâu biết toàn đàn bà, con trẻ, nhà nổi và thuyền bè của dân. Lúc đó bác rất sợ, nên bảo ăn gì, ở đâu, làm thế nào cũng được,  miễn là được sống.

Rồi từ việc phải ăn, bác nghiện nó lúc nào không hay. Cái vị mắm ngửi thôi đã thơm, nếm vào, vị thơm nó đọng mãi nơi cuống họng, chấm vào với một vầng cơm cháy mà nhai từ từ, để vị béo của từng hạt gạo được trồng trên đảo hoang đất tốt này, thêm vị biển khơi được chắt ra từ thân cá, nó mới ngọt ngào và nồng nã làm sao, để cả cuộc đời bác thèm vị mắm.

Mẹ cháu sau đó đã gặp rắc rối lớn với người dân nơi đây. Khi họ ngày đêm lùng sục tên phi công đã thả bom xuống hòn đảo này. Nhìn rõ dù nó rơi, sao không thấy người, chết thì phải còn xác, mà một dấu tích nhỏ cũng không thấy là sao. Họ đã quần thảo hòn đảo cả tháng trời cũng không một dấu tích. Lạ chưa? Là giữa vườn nhà cháu có một cái hang, điều này chỉ mẹ và cha cháu biết. Bà đang xới cỏ vườn thì trông thấy bác, bà cũng nghe thấy tiếng hô hò, những bước chân huỳnh huỵch, tiếng cậy gộc, bà đã đẩy bác xuống cửa hang rồi đậy đá lại. Đâm lao phải theo lao, người Việt cháu có câu nói rất hay. Bà không còn cách nào khác, khi chồng bà là cán bộ cộng sản, ông đi công tác ở đất liền hơn một tháng và phải hai tháng nữa ông mới trở về.  Nếu bây giờ để lộ ra chuyện này, tính mạng bác không bảo đảm, mà gia đình bà sẽ bị liên lụy.

Khi bác đã khỏi hết những vết thương, đỏ lông thơm da, như cách bà nói, một đêm tối trời, bà dẫn bác đi tắt một con đường mòn đến Ủy ban xã.  Bác đi trước bà đi sau cầm gậy. Bà làm vậy để ra vẻ cảnh giác mà che giấu chính quyền, chứ từ lâu bà và bác đã là hai người bạn. Bà có bảo họ, lỗi tại tôi chứ không phải chồng tôi, anh ấy không hề biết gì, chỉ nội nay mai anh ấy về, tôi sợ anh ấy không tha cho tôi, nên tôi mang tên này đến nộp cho các đồng chí. Các đồng chí chửi tôi cũng được, đánh tôi cũng xong, xóa tên tôi khỏi danh sách xã viên cũng đành, nhưng lương tâm tôi, lương tâm của một con người không thể đứng nhìn một người máu me be bét gần như chết, lại bị đánh tiếp. Việc tên phi công Mỹ bị đánh chết ở hòn đảo này cách đây ba năm vẫn còn đó, nên tôi chỉ hành động theo tiếng người. Giờ vết thương của hắn đã lành, hắn đủ khỏe để đền tội, tôi mang hắn nộp cho chính quyền. Việc này không hề liên quan gì đến chồng tôi.

Người cán bộ nhỏ thó, đen thui, nước da như trái táo bị hun khói vì mưa gió nắng ngoài biển khơi, ngước lên nhìn bà. “Tôi hiểu lòng chị, dù chị có sai nhưng giờ nói chuyện sai đúng cũng đã thừa, thôi thì chuyện này cứ để bọn tôi xử lý êm đẹp”.

“Xử lý êm đẹp?” Bà hét lên.  Là bà sợ họ bắn bác trong yên lặng để che giấu đi sai trái lỗi lầm, khi đã gắng hết sức quần thảo nát hòn đảo, vẫn không tìm ra, mà người che giấu lại chính là vợ của một cán bộ lão thành cách mạng.

“À không, chị hiểu lầm rồi, chính sách nhà nước không cho phép thế, là chuyện này ta nên giữ im lặng thì hơn, không khuấy động lên nữa, làm cho dân tình quá khích. Ngày mai, có tàu của chính quyền ngoài đó vào đây, cấp nguyên vật liệu xây lại ngôi trường bị bom Mỹ bắn phá, chúng tôi sẽ gửi hắn theo tàu ra, giao cho chính quyền ngoài đó xử lý”.

Đấy, câu chuyện của bác – Béc-men nhìn anh cười âu yếm – con trai, bác có hai quê hương, Việt Nam và Mỹ. Việt Nam cho bác tái sinh lại thể xác nhưng nhiều hơn tái sinh tâm hồn và nhận thức, để bác hiểu sự đúng sai, phải quấy, chính nghĩa hay gian tà và bản chất thật của cuộc chiến và của tình người, sự nhân văn ở đâu cũng là gốc gác để nối kết con người. Nó là sinh khí để nuôi dưỡng con người, nó là khí chất để con người mang vẻ đẹp thật con người theo nghĩa viết hoa. Bác học được điều đó từ mẹ cháu. Nhân văn mới là gốc rễ mà con người cần bảo vệ, nâng niu, chứ không phải vấn đề quân sự, lãnh thổ, tài chính và tranh giành xâu xé. Con trai, ta được tái sinh từ đó, cảm ơn Việt Nam, cảm ơn con, cảm ơn gia đình con, cảm ơn mẹ con.

Ông lại lấy tay vuốt tóc anh lần nữa. Ánh trăng chiếu qua giàn hoa thúy điệp, qua ngọn tử huyền, những bông hoa đã nở rộ nhất, tỏa mùi hương thơm ngào ngạt nhất, từng giọt sương rơi trên cành cherry xuống, đậu vào tóc An na chảy xuống, hòa vào nước mắt cô tràn xuống má. Anna đang thổn thức trước câu chuyện cha cô kể. Cô lặng lẽ cầm bàn tay anh siết nhẹ, siết nhẹ, rồi chặt hơn. Bàn tay Anna mềm mại, có hương thơm như loài hoa tử huyền, và Anna cũng mang vẻ đẹp của loài hoa đó, chỉ nở về đêm, dâng tặng hương hoa cho một mình anh, rồi cũng vĩnh viễn đóng lại. Nó không yêu ai trừ cháu. Bác bảo nó yêu đi để bác còn một mình đi chu du thiên hạ, có thể về lại Việt Nam, nhưng nó bảo con không thấy hợp ai, cho đến ngày yêu cháu, giờ thì bác yên tâm rồi, có thể làm những gì mình muốn.

Nhưng, mùi hoa tử huyền không níu được bước chân anh, anh chỉ ngửi thấy mùi mắm từ quê nhà, vị của nó lan xa và thơm đậm, vương vất cả ngõ xóm, làng quê, những con đường lên núi cao để nhìn xuống biển, như bây giờ anh vẫn thấy.

Ông anh là cư dân đầu tiên của hòn đảo này, ông ra đây chắn đọn bắt cá để sống sinh những năm đói nghèo, rồi biển nơi này, cá nơi đây đã cho ông ở lại, ông gắn liền với nghề cá rồi nghề mắm, sản phẩm của ông theo tàu vào đất liền đi khắp nơi. Bảy tuổi anh đã được ông dạy cho làm mắm, từ khâu chọn cá tươi theo mùa. Phải theo mùa, cá mới ngậm hết độ ngọt thơm của đạm, làm nó béo nhất, ngon nhất, mới cho ra thứ nước mắm nguyên chất tốt nhất. Muối phải là muối biển phơi khô dòn, cho ra hết tạp chất. Rồi cho cả cá và muối vào ang sành. Phải là ang sành, để cho sản phẩm của biển quyện hòa cùng tinh túy của đất, mới làm nên mẻ mắm ngọt ngào thơm nồng nức. Rồi cho dứa. Dứa phải chọn quả chín mọng, thơm ngon, cho vào cùng thính gạo. Gạo rang thính phải là loại gạo được trồng trên hòn đảo này. Khi rang, nở mùi thơm đượm đặc.  Đổ tất cả vào ang, chôn sâu xuống lòng đất làm mắm hạ thổ, để năm năm, mười năm, rồi quên đi, người ta còn gọi là mắm lú, là bởi mắm mà quên mất để ở đâu không rõ, một ngày cuốc vườn, cuốc ruộng, mũi cuốc chạm vào vỏ sành sần sật, moi lên, một chum mắm ủ từ mười năm trước, trời ơi, vị thơm của nó kết hợp đâu chỉ biển trời, cá mú, đất đai, sương khói, nắng mưa, âm dương, mà cả thời gian. Thứ gì ủ trong thời gian cũng lên men ngọt ngào, tình yêu và những kỷ niệm cũng vậy. Mắm lú là thế.

Nếu không thì làm mắm chắt, cứ thế đem phơi nắng, phơi sương, rồi phơi âm, rồi đánh đảo, lọc lù, kiểm tra độ mặn, lại lọc màng, lại phơi âm…Hai năm trời mới làm thành một mẻ mắm.

Hai năm là bao mồ hôi, công sức, tình yêu, sự đam mê, trăn trở, cả nỗi đau mỗi khi thất bại, bởi không mang lại được cho con người thứ tinh túy nhất mà mình từng ao ước, khao khát. Hai năm của một đời mắm. Từ đời mắm đó có thể để cả mấy chục năm mà không thối, không thiu, của thứ quy trình thủ công cần mẫn, tỉ mỉ, say nghề, yêu nghiệp. Mọi thứ cần đạt đến độ tinh luyện nhất.

“Anh đã là nghệ sĩ của nghề mắm”, ai đó bảo vậy, một “nghệ nhân” làm mắm khác đã phải thốt lên, khi đứng trước những quy trình nghiêm ngặt, tỉ mẩn của anh, cho một mẻ mắm.

Đã là nghệ sĩ chưa, anh không biết, nhưng chỉ cần nhắm mắt, anh ngửi được mắm của loại cá nào, mắm đủ muối chưa, chượp ủ được mấy năm và cần thêm gì nữa? Nếm mắm em ạ, cũng phải đợi đến đêm về tĩnh lặng, tiếng người hết, tiếng xe cộ cũng mất, không còn âm thanh bụi bặm, ồn ào, tạp chất, nếm mắm mới chuẩn vị và tinh nhất. Lúc đó, hãy súc miệng thật sạch, lấy ngón tay cho sâu vào chượp ủ, đưa lên miệng, từ từ nhắm mắt, để tập trung cao độ,  nhẹ nhàng nếm vị để biết mắm đã đến độ chưa, đủ ngon chưa. Làm nghề này cần nhất là vị giác và khứu giác, có thể do bẩm sinh, nhưng nhiều hơn do nghiệp nghề đưa lại, nó sẽ đạt đến độ chuẩn và tinh nhất. Tinh đến độ mà anh dự cảm được cả nắng mưa, bởi nghề mắm gắn liền với nắng mưa. Thời tiết chiếm ba mươi phần trăm cho một mẻ mắm ngon, ba mươi phần trăm của nguyên liệu, còn lại là kĩ thuật, say mê, yêu nghề, và cần mẫn, chăm chỉ, siêng năng … Anh đọc được cả gió mưa trong ngày, thậm chí trong tuần, là nhờ giác quan mắm đem lại.

Anna nhìn anh, miệng cô hé lên chờ đợi những giọt lời, như từ một vùng xa lắm, một nghề lạ lắm, lần đầu cô được khám phá, và hơn tất cả là sự ngưỡng mộ và khâm phục. Và cô khâm phục thế nào để cho mùi mắm đã gọi anh trở về, mà không phải tử huyền dẫn dụ anh.

Cô đã khóc trong ngày giã biệt, khi anh cũng hỏi cô, như bố anh xưa đã từng hỏi mẹ, em có chấp nhận rời thuyền lên đất liền sống cùng anh không. Anna lắc đầu, cô càng thổn thức dữ, nước mắt mặn hơn nước biển và nhiều như nước biển đổ xuống vai anh. “Em không cam lòng, em không cam tâm để anh trở về, đừng xa em, em cần anh nhất”.

Bố anh ngày xưa có phải đỡ và lau nước mắt nhiều cho mẹ anh thế không, ông không kể, còn anh, anh đã ngồi trắng đêm cùng Anna. Mùi tử huyền thoang thoảng, khu vườn đêm yên tĩnh quá, vài con dế nỉ non như điệp khúc cho tiếng thổn thức của nàng, vài chiếc lá bị cơn gió nhẹ thổi, rơi xuống vai rồi cánh tay anh, anh lấy ngón tay nhẹ nhàng búng đi. Anh ôm Anna chặt hơn vào lòng, mùi tử huyền xen lẫn mùi nước hoa hồng tỏa ra từ mái tóc nhánh đen của nàng, từ bờ vai và vòm ngực. Nàng là đóa hoa tử huyện đẹp nhất, khép kín và u huyền, nở rộ, bản năng, dâng tặng và ẩn mình. Nhiều  khi anh hỏi, giữa nàng và người con gái Việt Nam thì khoảng cách bao xa,  anh không thấy xa nhiều, anh thấy gần gũi, phảng phất mẹ anh, phảng phất Nhan, người con gái thuở xưa anh yêu, người mà đã chờ anh lên tàu trong một chuyến đi dài, từ bức thư bố Anna gửi về:

“Bà thân mến!

   Cho tôi chia buồn với bà về chuyện ông nhà đã ra đi. Nỗi đau này gửi cả về từ nước Mỹ.

    Tôi xin được bà đồng ý cho tôi bảo lãnh con trai bà sang đây. Chúng tôi sẽ góp phần nâng đỡ cháu, để cháu có được môi trường học tập tốt nhất. Còn sau này, tùy mơ ước và dự tính, cháu có thể ở lại với chúng tôi hoặc trở về, lúc đó chúng tôi cũng không có ý kiến. Mong được bù đắp và đáp đền cho ân nhân cuộc đời tôi một lần.

    Mong bà ghi nhận”.

Anh đã lên tàu và ra đi vào mùa hè đó. Nhan đứng ở gốc cây kim giao trên đảo dõi theo anh. “Rồi anh sẽ về chứ?” Anh gật đầu thừa nhận. Rồi công việc học hành, năm năm rồi mười năm, rồi ngày Anna lớn lên, từ đứa bé luôn quấn chân anh đến yêu anh lúc nào chẳng rõ, anh vẫn chưa về. Nhan đã đi lấy chồng và ra đất liền sinh sống. Từ ngày anh về, cũng chưa gặp lại cô lần nào.

Từ đây nhìn xuống thung lũng phía tây, thấy cả ngôi trường anh học xưa, ban ngày thấy cả gốc cây kim giao cổ thụ Nhan đã đứng đó và từ biệt anh, thấy cả ngôi nhà Nhan không cách xa nhà anh là mấy, thấy bãi đầm mẹ anh và mẹ Nhan vẫn nuôi ngao.

Giờ đây, anh đang dự định làm thêm món mắm ngao, món ăn dân dã thời đói khổ. Mỗi trưa học về, mẹ anh lấy ngao ngào mắm ra cho vào nồi cơm hấp, mùi chín thơm của cơm, hòa mùi ngao ngào ngạt, anh ăn không biết bao nhiêu bát của tháng ngày mười bảy.

Công ty anh giờ đã có nhiều mặt hàng, nhưng tình yêu với mắm với tuổi thơ làm anh luôn trăn trở. Có phải từ món ăn thủa xưa góp phần gọi anh trở lại, để anh từ bỏ cả sự nghiệp bên Mỹ về đây, và cho ra đời nhiều loại mắm,  bằng mồ hôi, công sức, đam mê và khát vọng, nhiều hơn mong muốn người dân được thưởng thức thứ mắm truyền thống, nguyên lành, thuần chất nhất, mà không phải thứ nước chấm công nghiệp đượm mùi chất bảo quản, chất tạo hương vị tràn ngập trên thị trường giờ, để cho người Mỹ nỗi nhớ về mắm vẫn còn nguyên vẹn, như trong lòng Béc-men. Anh ao ước một lần Béc-men trở lại, anh sẽ mời ông thứ mắm chính tay anh làm, ngon như vị mắm xưa mẹ anh đã nuôi sống ông trong hai tháng, để cả cuộc đời ông nhớ, ông thương vị mắm lạ ngon của một vùng miền mông muội, mà vô tình hay bất đắc dĩ ông đã sa chân để cả cuộc đời trót sa lòng ở lại.

Chiều nay, anh nhận được thư ông: “Con trai, ta đã ăn hết mẻ mắm cuối cùng con muối, ngày mai ta biết ăn gì, khi mắm Việt Nam và tâm hồn Việt Nam đã ngấm quá lâu vào ta mất rồi. Con trai, sắp tới con sẽ có một món quà tuyệt diệu nhất ta gửi đến,  hãy đón nhận nha con”.

Món quà gì, anh không biết. Béc-men bao giờ cũng tinh tế và thú vị, ông hay mua những món đồ hoặc thứ anh thích, tặng bất ngờ trong những ngày anh còn lưu trú trên đất Mỹ.

Tối nay, xong mẻ mắm cuối cùng, anh quyết định ra biển. Anh men theo bờ biển dài lên một con đường, bám theo triền đá, từ đây nhìn xuống nếu ban ngày, sẽ thấy những làn sương buổi sớm, và trong sương, những chiếc cặp nhỏ xinh, tinh xảo sẽ được cài trên mái tóc mướt xanh u huyền của biển cả. Anh hay liên tưởng vậy, là vì rất nhớ ớ Anna, nỗi nhớ có cả giọt nước mắt mặn mòi như biển khơi. Và nơi đây là nơi thích hợp để anh trông về. Bởi con tàu đưa anh từ đây đi và cũng từ đó trở về. Bến cuộc đời, bến biển khơi, bao giờ gặp lại. Tóc Anna chắc vẫn dài và đen mượt, mắt nàng chắc vẫn to trong sâu thẳm và xanh biếc như lòng biển khơi, ngực nàng vẫn phập phồng như những con sóng vỗ, và người nàng, sẽ vẫn ấm mềm như mỗi khi mệt mỏi anh ào ra những đọt sóng nằm lên đó để nó vỗ về và an ủi.

Từ ngày về đây anh chỉ nhận được thư của Béc-men, chưa một lần từ nàng. Anh cũng không muốn khuấy động lòng nàng. Gái Tây họ khác lắm, nhiều khi anh tự an ủi, đã thôi rồi là hết, dù lòng anh có rộn sóng biển khơi, có ầm ào dông bão, có thét gào của những cánh quạ đàn trên núi đá cao, có dập dềnh của những ngôi nhà bè nổi va nhau mùa dông gió, thì anh cũng không được phép gọi điện, nhắn tin, viết thư gì cho Anna. Gái Tây họ khác lắm, đã xa là xa, đã hết là hết. Chính sự rạch ròi mới mang lại cho anh lòng thanh thản. Điều này khác với Nhan, mỗi khi qua nhà, bố Nhan vẫn thở dài bảo, cái Nhan vẫn nhắc nhỏm cháu mỗi lần về. Nhưng giữa Anna và Nhan, anh nhớ ai hơn, không rõ, mọi sự so sánh đều khập khiễng, đều đau lòng anh và lòng những người con gái anh đã thương, đã yêu và nhớ suốt quãng đời thanh xuân, như Anna bảo, đừng chê em còn bé, là vì anh chưa quên được chị ấy,  em sẽ đợi khi nào anh quên Nhan, em sẽ đến với anh. Và giờ, anh đã quên Nhan, còn Anna thì chưa. Chân trời này góc biển này, khoảng núi này, anh vẫn ngồi để nhìn ra bờ Đông chứ không phải bờ Tây – phía nhà Nhan, mà nhìn những con tàu, ngọn hải đăng có ánh đèn nhấp nháy trôi về khơi xa. Đi hết Thái Bình dương, vượt Ấn Độ Dương, qua Đại Tây Dương rồi sẽ về nước Mỹ, những con tàu này sẽ về với nước Mỹ. Không hiểu sao anh luôn nghĩ như vậy. Như anh của hơn mười năm trước, lên một con tàu để đến gặp Béc-men và Anna, để một phần họ ngấm vào hồn anh, như mùi thơm của mẻ mắm ngấm vào cha cô, như mùi tử huyền găm vào da thịt cô, để mỗi khi nhớ cô anh lại lên đây ngồi nhìn về phía biển, ngóng những con tàu ra khơi và từ khơi xa trở về, đem theo mùi tử huyền từ nước Mỹ, từ mái tóc và bầu ngực Anna. Anh vẫn chờ đây. Trời sắp qua đêm, ngôi sao Vượt đã mọc về phía ấy, nó chạy từ bờ Tây sang bờ Đông, như lòng anh mang mang nỗi nhớ.

 Trèo lên cây khế nửa ngày,
Ai làm chua xót lòng này khế ơi
Mặt trăng sánh với mặt trời
Sao Hôm sánh với sao Mai chằng chằng.
Mình ơi“ có nhớ ta chăng?
Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời…

    Ngày còn đi học, mỗi lần cô giáo giảng đến bài ca dao này, anh lại khóc, là vì anh nhớ đến đôi nam nữ nào đó yêu nhau, vì địa hình, phong tục, hay hoàn cảnh, họ không đến được nhau, họ biến thành ngôi sao Vượt chạy từ Đông sang Tây và chưa khi nào tắt, để ngóng chờ nhau, đợi nhau. Biết bao giờ gặp?

Khi ngôi sao đã lùi sâu vào màu trắng rồi chuyển sang xanh của bầu trời, anh mới đứng dậy. Mẻ cá tiếp theo sẽ được tàu hàng chở đến. Anh lững thững ra cảng để đợi tàu. Chỉ một chút thôi, anh lại quay cuồng cùng ủ chượp, cùng những sản phẩm hứa hẹn sẽ tung ra thị trường sớm muộn, nhưng hứa hẹn nhiều hơn, cho bà con thưởng thức thứ nước mắm trong lành, thuần chất nhất. Trước khi ra cảng cá, anh muốn rẽ xuống bến tàu, nơi tàu khách từ nơi xa cập bến.

Một con tàu đã rú hồi còi chuẩn bị vào bến. Nó lừ lừ trôi từ xa như đâm thẳng phía anh. Trên đó lố nhố người là người, lá quốc kỳ Indonesia bay phần phật.

Đang mải ngắm con tàu, anh không để ý câu hỏi từ phía sau: “Thưa ông, cho tôi hỏi đường về xóm Đông, Việt Hải”. Anh giật mình, một luồng xung điện mạnh chạy dọc sống lưng, chạy lên đỉnh đầu, làm những chân tóc anh dựng đứng, rồi lan xuống mắt, xuống má, xuống ngực, xuống toàn thân và dừng lại ở chân, anh đứng run run, chưa dám quay lại, tiếng Việt lớ lớ của một cô gái nước ngoài sao giống lạ, giống lắm.

“Anna” anh hét lên và ôm chầm lấy cô.

“Cha đã muốn em về, cha có thể sống một mình. Ông bảo ông cần khoảng thời gian để sống cho riêng mình, không muốn em phiền nhiễu. Là cha thương em hay cha nói thật. Dù sao, lòng ông cũng như biển cả và đậm đà, mặn mòi như vị mắm quê anh”.

Đó là món quà tuyệt diệu mà Béc-men hứa gửi tặng anh ư? Béc-men vốn rất tinh tế và hào hiệp, ông đã tặng cả cuộc đời mình cho anh, như mẹ anh tặng cho ông sự sống. Anh thấy mình cần phải nâng niu cuộc đời cũng như nâng niu sự sống mà anh may mắn có được.

Một nụ hôn kéo dài trên biển, xuyên ngôi sao Vượt, xuyên bầu trời xanh lam nhờ nhờ sương sớm, xuyên làn mây mù ngoài khơi xa, xuyên ánh đèn nhấp nháy lẫn trong mù mây buổi sáng của một con tàu nào đó đang về cảng.

Có lẽ nó đến từ nước Mỹ…

Cát Bà, 2019

BẢO THƯƠNG

(BẮC GIANG)

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *