Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân: Thoang thoảng hương chè kí ức

Cái cách bà Sáu nhớ về chồng luôn khiến người trong xóm tôi xót xa. Cứ mỗi buổi sáng sớm bà sẽ đun một ấm nước nhỏ, lấy một ít lá chè rồi cứ thế đun trần, chờ hương trà bay đi phảng phất khắp xóm cũng là lúc lũ trẻ chúng tôi mụ mị dậy đi học.

Bà sẽ nhẹ nhàng thay trên bàn thờ tách cúng ông, đều đặn mỗi ngày đều thay trà mới cho ông vì ngày còn sống ông sáng nào cũng thích nhâm nhi một tách trà. Không thể nào quên được một ít bánh chè lam. Ở xứ Tuyên Quang của chúng tôi, bộ đôi bánh chè lam với trà chè cứ phải nói là đặc sản. Rồi cứ đến khi chiều tà, bà hay ngồi phía trước căn thềm nhỏ, nhìn xa xôi vô định vào cái đồi chè cao ngất trước nhà, nơi mùi lá chè non thổi vào thơm phức và không gian xa vắng đang yên tĩnh, đôi mắt nheo lại trên gò má nhăn nheo. Mẹ tôi mỗi khi thấy vậy lại bảo:

– Chắc bà lại nhớ ông. Ông và bà trước cứ giờ này lại ngồi trước hiên buôn chuyện già.

Nhà văn trẻ Lê Hứa Huyền Trân ở Bình Định nay thuộc tỉnh Gia Lai

Ngày ông Sáu mất bà không khóc mà chỉ đứng chết lặng. Trong khi các con bà gào khóc bên linh cữu thì bà chỉ ngồi im bất động một góc nhà. Mẹ tôi bảo dường như cả ông và bà đều biết khi nào ông mất, nghe cứ như tâm linh, nhưng trước khi ông mất ít hôm, đột nhiên ông đi thăm khắp những người quen ở cái đất Chiêm Hóa này, lại dặn dò nếu ông ra đi thì chăm sóc bà hộ ông. Tôi còn nhớ như in ngày đó, khi tôi đang ngủ trưa thì ông ghé chơi nhà, nói chuyện với mẹ tôi rất lâu, vì nhà tôi ở sát nhà ông, rồi tôi thấy mẹ tôi khóc… Hôm sau, ông mất.

Sau khi ông mất căn nhà nhỏ của ông bà thường được các con ghé lại nhà. Nhà có ba cô con gái mà ồn ào thành cái chợ. Miếng đất nhỏ bỗng thành thước đo đong đếm tình người. Ngaỳ ông còn sống, họ nhất quyết không về thăm lấy một lần, lấy chống rồi theo chồng, khi có việc gì cần tiền lại về bòn rút của vợ chồng ông bà, thương con bà Sáu còn dấm dúi cho chứ ông cấm tiệt. Nay ông mất, lại đua nhau về năn nỉ ỉ ôi mẹ để cho mảnh đất, dù bà Sáu còn sống sờ sờ nhưng cứ đòi bán mà thậm chí về phần nuôi bà thì lại không thấy ai lo.

Nhà tôi ở sát nhà bà, ngày trước ông bà bà tôi mất sớm, mẹ tôi cũng được một tay bà cưu mang nuôi lớn nên mẹ luôn xem bà như mẹ ruột của mình. Tôi cũng vẫn hay sang nhà bà, nghe bà kể chuyện, để bà ngồi quạt mát phe phẩy giữa cái nóng trưa hè rồi thiếp đi lúc nào không hay. Bà vẫn hay kể cho tôi nghe chuyện về bà và ông, một mối tình đầu của cả hai kéo dài đến cả những năm tháng cuối cùng của cuộc đời.

Bà bảo rằng bà thương ông trước, thương hết biết bao nhiêu mùa cao su thay lá ở Tuyên Quang. Bà bảo rằng bà không thích đòi hỏi từ ông bất cứ gì để tạo mối gắn kết giữa hai người bởi vì chuyện tình cảm vốn không phải là một điều ràng buộc. Bà lúc nào cũng vậy, đôi mắt lúc nào cũng tinh anh, nụ cười trở nên nồng cháy như cái màu sắc chói lửa, ánh nhìn mỗi khi bà nhìn ông luôn mang một cảm xúc buồn buồn khó tả.

Bà gặp ông trong những ngày cuối đông đầu xuân khi rừng cao su nơi mảnh đất Tuyên Quang rộng lớn bắt đầu vào những ngày mùa cây trút lá. Bóng dáng của chàng thanh niên mặc quân phục màu lính cao kều đứng tựa lưng vào một thân cây, vô ý đến nổi để mủ cao su dây vào trong chiếc áo lính với đôi mắt buồn xa xăm khiến bà xao xuyến lạ.

– Em tên gì?

– Em tên là Thảo.

Rừng cao su khi ấy nhìn thấy hút tầm mắt như ôm trọn hai bóng dáng nhỏ bé gieo mình chào nhau giữa một nơi xa lạ. Kể cả khi cho đến sau này khi hai người bắt đầu trở nên thân thuộc, ông kể cả những khi tỏ ra quan tâm nhất đến một người thì gương mặt lúc nào cũng tỏ vẻ lạnh lùng. bà biết rằng ông ít nói nhưng trái tim của ông mênh mang như cánh rừng Na Hang nơi hai người lần đầu gặp gỡ. Cho tới giờ mỗi khi rảnh rỗi, những khi cuộc đời đổ vào bà những biến cố không ngờ, bà vẫn hay tìm về cánh rừng ấy, ở đó sẽ có một chàng trai đứng chờ bà. Cứ như tinh linh của khu rừng, khi bà cần chàng trai ấy luôn xuất hiện, hướng về bà một ánh mắt lạnh nhạt đến nỗi xa xăm, nhưng chỉ cần bà vấp ngã sẽ luôn dừng lại. Người ấy sẽ không bao giờ lại và đỡ bà dậy đâu nhưng sẽ luôn đi chậm hơn để bà theo kịp. Cái ấm áp đi đôi với lạnh lùng.

Bà bảo rằng bà thích đi dạo vào mùa cao su thay lá. Bà giữ trong lòng đó đương mùa bà gặp ông, bà nói ra con đường khi lá rụng luôn là con đường đẹp nhất. Sắc màu từ đương xông sẽ chuyển sang ánh vàng sau đó khoác lên mình một màu đỏ rực như ánh chiều bắt đầu buông trên cánh rừng. Hai hàng cây thẳng tắp hai bên để lộ con đường cho bà thênh thang bước. So với lứa tuổi ấy, bà vẫn còn hồn nhiên như cách mọi người bảo vệ bà trong viên ngọc lấp lánh khiến ông cũng cảm thấy muốn bảo bọc bà. Vô thức như thế nào ông bắt đầu chú ý từng điểm nhấn ở những nơi mình đi qua chỉ để gọi bà chỉ cho bà một điều gì đó mà ông cho là đẹp. Trên cái cây mà ông đang đứng, từng mảng địa y màu trắng bám đầy trên thân,lại có những mảng rêu màu xông như cộng sinh. Chỉ thế thôi cũng khiến bà xoắn xít tò mò:

– Sao chúng lại cộng sinh với nhau vậy anh?

– Vì mùa đông nhiệt độ khá thấp nên chúng thường bảo bọc lấy nhau. Mùa rụng lá như thế này, khi lá rụng xuống dưới gốc, tự phân hủy cũng lại thành nguồn dinh dưỡng cho cây. Công nhân cũng sẽ ngừng lấy mủ bắt đầu công đoạn chăm sóc cây lấy nhựa cho năm sau.

Ánh mắt tròn vo của bà khiến ông cảm thấy từng lời mình nói ra đều được trân trọng. Điểm cuối của khu rừng là một chiếc hồ rộng lớn, giao với bầu trời xông um tạo thành một biển xông thăm thẳm màu. Nhìn bà thích thú bên khu hồ, ông buột miệng:

– Nếu em thích nơi có nước như vậy, anh sẽ đưa em đến thác Nặm Me chơi.

Bà để ý tuy lời nói có phần buông ra lạnh nhạt và vội quay đi nhưng đôi bờ tai của ông trở nên ửng đỏ. Lần hẹn sau gặp lại, khi trong khuôn viên dưới mái đình, hai người đứng chờ từng cơn mát rượi và cả bóng nắng bắt đầu nhảy nhót trên mặt hồ, bà lại thả hồn mình. ông đứng nhìn bà, mong sự thơ ngây sẽ làm ông quên đi những khó khăn khiến ông trở nên chai sạn.

“Là bà để ý đến ông trước, nhưng rồi lại không dám nói ra. Đợi đến hôm đó lại gặp được ông, không hiểu sao thử mạnh dạn làm bạn rồi có thể “gặp lại nhiều lần” như bây giờ”.

Bà giơ máy ảnh lên chụp ông, mái tóc của ông có phần hơi dài lòa xòa che cả mắt, một nhánh cây vắt ngang phía sau như làm nền cho bóng chàng trai đổ dài trong tấm hình. Bản thân vốn lạnh lùng, không quen đối diện tình cảm, kể cả khi tim đánh từng hồi trong ngực nét mặt vẫn bình thản vô cùng. ông đèo bà về trên con đường từ con thác hùng vĩ nhưng lại đẹp ngất trời lại ngược về rừng cao su bắt đầu thay lá mới. Đã hơn năm năm trôi qua hai người vẫn đèo nhau đi như thế cho đến khi bà nói ra lòng mình. Một chiếc lá lại rơi để một mùa xông non lại bắt đầu, bà chợt nghe:

– Có lẽ là ông hơi ích kỉ, nhưng, cho đến những mùa cao su thay lá tiếp theo,

Em vẫn có thể đi cùng ông ngắm chứ, em Thảo?

Đó là khởi đầu cho mối tình của hai người cho đến khi ông lại tiếp tục lên đường hành quân vì tiếng gọi của Tổ Quốc. Bà ở lại nơi hậu phương để ngóng tin ông trở về cho đến khi đất nước hòa bình, ông và bà ở bên nhau được dăm năm thì ông mất trong một cơn bạo bệnh.

Những đêm nóng trời, bà hay lấy cái chõng tre rồi hai bà cháu lại ra phía trước sân cạnh cây lê mà ngồi hóng gió mát. Cái cây ấy lạ lắm, mỗi lần chỉ ra đúng một quả, lại rất mau chín, tôi hay vòi bà hái xuống mà ăn. Những lúc ấy bà thường bảo:

– Nếu thèm để bà đi chợ, nó đã cô đơn một mình ở trển thì bây để nó an phận tuổi già đi. Phá nó làm gì.

Lúc đó tôi không hiểu lắm những điều bà nói, chỉ độc nghĩ thương quả lê côi cút. Vì trông nó giống hệt cây lê cô đơn nổi tiếng ở bên Xuân Trường. Khi tôi lớn lên một chút, khi sức khỏe bà yếu dần đi thì tôi bắt đầu nhận ra không biết tự lúc nào trong nhà bắt đầu có nhiều những cuộc cãi vã, chủ yếu xoay quanh việc muốn bán mảnh đất cắm dùi mà bà đang ở. Dì lớn dành phần sân, dì út lại dành mảnh đất ngôi nhà nhỏ, cứ thế rồi bao điều tiếng tung ra, bà tôi bó gối ngồi một góc sân nhìn cây lê chẳng nói gì.

Tranh của họa sĩ Đỗ Phấn

Rồi bà tôi ốm nặng, nhà chật kín gia đình các dì ấy nhưng toàn những tiếng tranh chấp, những lời phần trăm sẽ về tay ai, rồi quay cả qua bà đòi bà cho một tiếng phân xử đúng sai. Không ai quan tâm bà dường như không nói được nữa, mà cũng dường như việc sức khỏe yếu dần ấy khiến mọi tranh chấp trở nên căng thẳng hơn. Những phút cuối cùng. bà đuổi tất về nhà, tối lại bắt chõng ngồi ngoài sân một mình nhìn cây lê tư lự.

– Cây lê này khi còn sống ông trồng. Trước sai trái lắm, các dì đông vậy mà đến vụ là chia đủ cả. Khi ông mất, “hắn” dỗi ra độc mỗi một trái. Nhìn nó, tao lại nhớ đến ông.

Tôi chợt hiểu bà muốn giữ lại mảnh đất này vì những kỉ niệm của cả gia đình

chứ không phải vì không thương con cháu đến phút cuối vẫn bo bo giữ tiền như cậu dì đã nói. Ba cô con gái lại đem giấy tờ vay nợ ngày nào cũng đến nỉ non, bà không đành lòng nên bán đi một phần đất, căn nhà bị tiếm đi một nửa, nhưng các dì cười khề khà:

– Bà còn ở một mình sao hết căn nhà được, bỏ đi một phần, nhỏ cho an toàn.

Mẹ tôi khi ấy dường như không chịu đựng được nữa, cũng trước lấy danh nghĩa con gái nuôi, sau với phận người lớn hơn ra chiều khuyên bảo:

– Tôi bàn với các chị như thế này, bà Sáu lạ mẹ các chị, xét cho cùng dù thương bà tôi cũng chỉ là người ngoài. Tài sản bà Sáu có cũng sẽ vì thương các chị mà để lại cho các chị nhưng các chị phải sống sao cho xứng đáng với những gì được nhận chứ. Thôi thì các chị thay phiên nhau chăm dưỡng bà những ngày tháng còn lại, rồi tự khắc sẽ được đền đáp chữ hiếu xứng đáng.

Dù không hài lòng nhưng các cô con bà cũng thuận nghe theo, vì không biết cãi đâu cho được, rồi cứ thế chia nhau ra mỗi người một tháng nuôi bà. Nhưng được non tuần bà lại về căn nhà nhỏ, quẩn quanh trong nhà, cố gắng giấu mình tới mức nghĩ rằng một bóng dáng nhỏ thó của bà cũng đủ để người qua đường bắt gặp nhưng cũng không thoát khỏi ánh mắt của mẹ tôi. Tại mẹ khi bà vắng nhà vẫn hay tạt qua quét dọn bàn thờ ông để căn nhà bớt hiu quạnh. Có lẽ lòng tham của mỗi con người chưa đủ để có thể níu kéo sự hiếu thảo quay trở lại. Phải đến tận hôm sau các con bà mới biết bà đã bỏ về nhà, lại ì xèo cả xóm, lại thấy người ta bu lại thì ỉ ôi mẹ bỏ nhà ra đi không nói một tiếng làm tìm hết làng trên xóm dưới. Lúc ấy mẹ tôi chỉ bảo:

– Bà đi cả ngày trời các chị mới biết thì các chị có quan tâm tới mẹ không?

Bà chỉ có mỗi nhà này để ở, các chị không về tìm tự dưng đi khắp nơi rồi than van làm gì?

Thấy người ta xì xào các cô lại lườm nguýt mẹ tôi rồi bỏ về, không quên văng lại một câu:

– Cô coi mẹ như ruột thịt thì để phần cô. Gớm, mẹ xem cái ngữ này, nó cũng nhắm vào cái nhà của mẹ thôi. Mẹ liệu mà nhắm mắt xuôi tay xem con ruột là hơn hay cũng để phần người dưng nhé.

Rồi cứ thế những tháng ngày còn lại bà cứ quanh quẩn dọn dẹp cần mẫn, khi bà buồn mẹ lại hối tụi tôi sang chơi, thi thoảng cũng thấy các cô con gái tạt ngang nhưng thấy mẹ tôi đứng ngoài sân ngó vào thì lại lủi đi đâu mất. Ít năm sau, vào một ngày thu sang như năm ấy, bà lại sang nhà tôi, và mẹ tôi lại khóc…

Bà mất và các cô con gái lại kéo về khóc vang cả một xóm. Mẹ tôi quấn vành khăn tang được bà ủy thác không nhìn lấy một lần nhưng cũng không có quyền ngăn các cô cúi lạy. Lại sau ít hôm các cô kiện cáo lên chính quyền đua nhau mảnh đất, mẹ chỉ xin cho di ảnh ông bà về thờ. Các cô lại như bắt được vàng rồi quay sang thân tình với mẹ nói ở chung nhà chồng khổ lắm, và thông cảm các thứ, mẹ tôi chỉ im lặng. Rồi phần mặt phía chỗ trồng cây lê mở đường, xây công viên, đất đội giá lên cao, bán bây giờ non cả tỷ. Bà ra đi trong một chiều hạ, những cơn tranh chấp kéo dài cả năm rồi cũng thuận đường trao tay người chủ mới. Ngày cây lê côi cút bị đốn đi, tôi và mẹ có sang nhà, mảnh đất đã sang tên, quả lê độc nhất rơi theo từng nhát bổ. Lúc ấy tôi thấy lòng mình nhẹ tênh, ít ra, bà đã không thấy được cảnh cây lê đổ gục.

Tôi dần lớn lên, vì học ở tận trong nam xa xôi rồi tốt nghiệp, làm đủ nghề lang bạt hiếm khi có dịp về lại quê hương Tuyên Quang đầy kí ức màu cũ như một thước phim buồn. Cũng đã lâu lắm rồi tôi mới lại về quê trong một lần đón tết vùng cao. Năm nay đi công tác qua Tết không dự tính ngày thế là được một năm ăn Tết ở vùng cao. Mọi bận toàn ở dưới xuôi, nhiều cái không biết về Tết vùng cao đặc sắc nhường này, có thể vì quên, có lẽ vì đã lâu quá rồi không về, mọi thứ trở thành lần đầu tiên như mới gặp. Vì đặc thù công việc, tôi không quá ở lâu một chỗ, và bởi thế, một cái Tết mà tôi có dịp đi đến mấy nơi, và cũng cảm nhận được gần như sự đa dạng sắc màu trong ngày Tết của những dân tộc nơi đây.

Tôi dừng chân tới một điểm trường lấy tin họa may thế nào lại đến ngay đúng lúc đang vào ngày hội Tết dân tộc của học sinh nơi đây. Cảnh sắc nơi đây dường như chìm trong cái hư ảo của sương sớm, không khí se lạnh và những cành đào đang điểm tô những ánh hồng ven đường vào trường. Tôi tưởng rằng mình đã lên từ sớm nhưng học sinh trong trường đã tề tựu gần như đầy đủ, gương mặt chúng trông rất hào hứng với mùa lễ hội. Có đủ các trò vui như kéo co, đá kiện ăn điểm, leo cột hoặc đi cầu tre trên cạn… Một đặc điểm rõ ràng nhất là những trò chơi ở đây rất đơn sơ, hầu như là vật dụng tự làm nhưng có thể thấy và phản ánh được sự khéo léo của các em học sinh. Đặc biệt là vì trường học ở đây là sự giao thoa cùa nhiều nền văn hóa của các em học sinh đến từ các dân tộc như Tày, Nùng, Dao và cả dân tộc Kinh nên lễ hội ẩm thực cũng rất đa dạng, trong lễ hội ẩm thực không chỉ có thắng cố, còn có rau rừng, rau đắng và các thầy cô còn hướng dẫn các em gói bánh chưng xanh, sắp bày mâm ngũ quả. Có thể nói khi tôi đi ngang qua “phiên chợ ẩm thực” kì thú này không chỉ nhìn thấy rất nhiều hương vị lạ mà còn thấy được sự đa dạng sắc màu ngày Tết và cả đặc trưng của từng dân tộc.

Con xe đưa tôi đến với Tuyên Quang vào buổi trưa ngày hôm sau, đoạn đường gập ghềnh với hai bên đầy những hoa mà tôi không biết tên khiến con đường vào với bản trở nên thơ mộng hơn rất nhiều. Tôi đi thăm một người đồng nghiệp cũ đã lấy vợ rồi sinh sống ở đây, ngay giữa buôn người Tày này. Vừa nhìn thấy tôi anh bạn đã vội:

– Còn tưởng cậu lên không kịp, vừa kịp lễ gội đầu.

– Ơ hay tuy tớ trên xe suốt nhưng đâu có bẩn lắm mà vừa nhìn thấy mặt đã vội xua đi tắm.

– Cái cậu này, phong tục quê vợ, thật tình.

Hỏi ra mới biết lễ hội gội đầu là đặc trưng của người dân nơi đây, sẽ bắt đầu vào ngày cuối cùng trong năm với dụng ý xua tan hết mọi điều không may mắn của năm cũ theo dòng nước mà trôi đi hết. Sau đó họ sẽ chuẩn bị những bát nước gạo chua xối lên đầu để cầu may mắn. Khi lễ gội đầu kết thúc thì cũng là lúc tôi kịp thấy anh bạn tôi đã nhảy vội lên một chiếc thuyền, hào hứng tham gia lễ đua thuyền giữa nam và nữ. Khiếp, mới mấy năm đã cứ như người dân nơi đây rồi. Tôi nhớ có lần tôi ăn Tết ở Điện Biên, người Thái trắng ở đây cũng đãi tôi món bánh Khẩu Xén, nhưng tôi lên trễ quá nên không thấy được công đoạn làm, với bánh tôi ăn khi ở đó thì làm bằng sắn củ còn ở đây thì làm bằng gạo nếp cẩm, nếp hương. Nhìn thấy cảnh mọi người hò nhau buông chày giã bánh thấy rất thú vị, những thứ mình làm ra bao giờ cũng ngon hơn đầy rẫy bánh kẹo dưới phố có sẵn. Tôi nghe nói lại đây là thứ bánh tượng trưng cho cảm tạ đất trời…

Hai món bánh tôi thường thấy nhất trên mâm cỗ đó là bánh Khẩu sli và bánh Khảo được làm từ gạp nếp hương thơm dẻo cùng lạc và mật mía. Món bánh ngon ngọt cắn vào vừa miệng, tôi nghe bác trưởng bản bảo là món truyền thống không thể thiếu trong mâm cỗ ngày Tết của dân tộc nơi đây.

– Mồng một ăn chay, kiêng không ăn thịt mỡ nên cũng một phần không thể thiếu được các loại bánh trái.

Tết của các dân tộc vùng cao thường khá đặc sắc và mang đậm nét văn hóa bản địa, cũng có rất nhiều điểm khác so với dưới xuôi dù đều mang văn hóa truyền thống rõ nét. Ngày Tết ngoại trừ văn hóa ẩm thực bản địa còn có các truyền thống như lễ dựng nêu vào hăm sáu tháng chạp hằng năm khi chủ lễ thường sẽ đốn một cây tre to, chặt đốt rồi cắm ở bãi đất báo hiệu nơi diễn ra lễ hội năm mới. Hoặc các trò chơi dân gian như đua ngựa, đi cầu tre cạn, kéo co hoặc các trò như thổi khèn, dệt vải, lanh… Tất cả đều tạo nên một cái Tết cổ truyền đầy đặc sắc mà tới giờ tôi mới có dịp được biết đến. Tất cả là nét bỡ ngỡ của tôi vì trước khi đi học xa tôi vẫn thường đón những cái tết rất khác, mỗi nơi lại có một đặc trưng khác nhau.

Khi tận hưởng hương vị tết đột nhiên tôi lại nhớ quê nhà. Đoàn xe công tác đã về lại với xuôi nhưng tôi vẫn xin phép cho tạt ngang nhà mình để thăm mẹ ít hôm đặng thắp nén hương cho ông bà như một cách nhớ về những người xưa cũ. Hương trà mà ông thích vẫn được đun đều vào mỗi sáng ở nhà tôi, cái hương ngai ngái nhưng khiến người ta thèm thuồng. Mẹ vẫn dặn tôi thường xuyên lau bàn thờ và cứ mỗi khi rảnh lại kể về ông bà Sáu với sự yêu thương và biết ơn khi mẹ mất đi người thân đã cưu mang như thế nào. Bỗng dưng tôi nhìn lên di ảnh, ông bà dường như đang rất hạnh phúc, cuối cùng họ lại được ở cạnh nhau, như thế là hạnh phúc rồi.

LÊ HỨA HUYỀN TRÂN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *