Truyện ngắn Trần Bảo Định: Ba Láng những ngày…

1.

VHSG- Tôi trở lại Ba Láng, sau nhiều năm đi xa.

Cảnh vật Cái Răng, Phong Điền có nhiều thay đổi, nhưng dòng sông và lòng người Ba Láng thì chẳng mấy đổi thay! Nắng miền Hậu Giang mượt mà và quyến rũ người đi, tưởng đi mãi mãi không về. Xuồng Cần Thơ nhảy lưng sóng, lượn theo làn nước son màu phù sa từ thượng nguồn đổ xuống ngập ruộng đồng khiến tôi chạnh lòng, bồi hồi nhớ những ngày khói lửa trên vùng đất màu mỡ, hiền hòa; nhớ nồi cơm nấu lửa ban mai chưa kịp chín cho người ăn lót dạ, thì pháo bầy đã chụp tan tành! Nhớ bữa cơm chiều sum hợp đã vĩnh viễn chia tay…

Và, chuyện đời Ba Láng, tôi cũng đã nghe cụ Út Tôm kể trong hoàn cảnh đầy bi tráng đó!

Chếch bóng, trăng mười sáu ngã màu vàng úa. Đêm tàn!

Thức giấc, Năm Xồi nằm im trong nóp(1) để lắng nghe nỗi nhớ đang rần rật băng qua vùng ký ức:

”Ba năm sống nghề thương hồ, là ba năm anh xa vườn cam Ba Láng. Nhiều lần, muốn quay về…, nhưng rồi không hiểu sao, anh lưỡng lự và lần lữa không về…”! Trong lòng anh, lúc nầy, tự dưng nhớ tới Đực Cồ. Anh thương nó bao nhiêu thì cũng giận nó bấy nhiêu; vì nó ”tham phú phụ bần”! Đương cùng anh ở mướn chăm sóc vườn cam dì Tư, nó bỏ ngang và nhảy sang làm đầy tớ cho Cai Vĩnh. Thương bạn, anh cố ngăn, nhưng bất khả. Và, nó còn nói như tát nước vô mặt anh:

– Tui phò Cai Vĩnh, bởi ông ta vừa giàu có nứt vách, vừa đầy quyền lực nhứt vùng! Vả lại, Cai Vĩnh còn được Tây dương chống lưng,  hỏi mấy ai bì kịp!

Từ đó, anh vĩnh viễn mất thằng bạn nghèo, nối khố…

Nhà văn Trần Bảo Định

Tàu đò chạy trên sông Cần Thơ lùa nước lắc sóng, và sóng lắc chiếc ghe hàng bổ(2) đậu bến Xóm Chài chòng chành như người say rượu đã cắt ngang dòng hồi tưởng của Năm Xồi. Anh lồm cồm bò ra khỏi nóp, và lui cui nhóm lửa trên cái cà ràng(3) mà ngày trước Sáu Huệ gởi biếu anh, lúc anh sửa soạn lui ghe rời Ba Láng.

Năm Xồi, nhớ hoài chuyện cà ràng. Bởi lẽ, hồi đó, chưa hiểu rõ công dụng của cà ràng nên anh thắc mắc, nói giọng cà rỡn:

– Ông táo đất, củi chụm mới bảnh!

– Người ta biếu phương tiện an toàn để… để sống, nhớ người ta!

Giọng Sáu Huệ buồn như hạt mưa chiều chưa đủ thấm áo.

Dì Tư đỡ lời:

– Nấu bếp cà ràng, tránh được củi chụm cháy dở không rớt xuống sàn ghe. Nấu bếp ông táo đất, củi chụm cháy dở sẽ rớt xuống sàn ghe, và cháy ghe!

Dì cắt nghĩa cặn kẽ:

– Cà ràng có hai loại: Loại đơn, một miệng lò; loại kép, hai miệng lò. Trên ghe hàng bổ chỉ một mình bây, nên em nó mua cà ràng đơn cho tiện. Bây nhớ, phía trước cà ràng thì nấu, phía sau đuôi cà ràng là để cào than củi hoặc nhắm chừng dư lửa mà giảm bớt cái nóng cho món ăn đương nấu trên bếp!

Dì cười:

– Em nó không biếu cho bây bếp ông táo đất, là vậy!

Biết nghĩ sai, Năm Xồi quay lại xin lỗi Sáu Huệ. Nhưng, cô Sáu đã bỏ bến lên bờ, bước vô vườn cam, mất dạng!

Chống sào lui ghe, lòng Năm Xồi rây rắc nỗi niềm ân hận.

Hai mùa mưa nắng bình nguyên tây sông Hậu, vườn cam Ba Láng trổ bông kết trái, trĩu cành. Sáu trở nên kiệm lời, hiếm cười và thường ra ngẩn vào ngơ như người đãng trí. Đôi lúc, Sáu phát run, sôi bọt mép… chết giả; rồi chốc lát, đi đứng sinh hoạt lại bình thường. Người thân quen đón mò, nói nhỏ với dì Tư:

”Coi chừng, con nhỏ bị mắc ”đàng dưới”!

Dì Tư lo lắng và càng lo lắng, dì càng không dám hé lộ, sợ kinh động tâm hồn của con.

Thắp và cắm nhang ở lư hương bàn thờ chồng, dì khấn vái chồng ”sống khôn thác thiêng” về phù hộ con ”tai qua nạn khỏi”.  Nhiều đêm, nằm nghe tiếng mưa rơi xào xạc vườn cam bông chớm trổ mùa làm dì chạnh lòng thương con, thương mình. Rồi, dì thầm nghĩ: ”Chẳng hiểu sao, con Sáu nó mắc ”đàng dưới” từ lúc thằng Năm đi ghe hàng bổ và không về lại vườn cam. Tuy nghĩ vậy, nhưng không có lời đáp!

Hồi nầy, cả vùng Phong Điền không còn được êm ả như ngày trước. Tên Hai Vĩnh(4), Cai tổng Định Bảo rất háo sắc và cũng rất tàn bạo với bất kỳ ai mà nó nghi ngờ chống đối, hay bất tuân sự cai trị của thực dân Pháp. Việc Hai Vĩnh điềm chỉ cho tụi Pháp ở huyện Phong Phú(5) bắt chặt đầu cha vợ của người vợ thứ ba dù hắn đã ăn ở hai mặt con, khiến thiên hạ trong vùng khiếp đảm!

Sáu Huệ đang độ xuân thì mơn mỡn, mấy lần hắn động tà dâm nhưng rồi cũng may, hắn ngó thấy Sáu Huệ bị bịnh như là bịnh kinh phong… Hắn sợ, nếu không thì… Sáu Huệ cũng đã xong đời con gái!

Với Hai Vĩnh, dì Tư chẳng lạ chi hắn. Dì biết hắn từ thời còn con nít cho tới lúc bợ đít thằng Tây. Cùng là người Việt, nhưng hắn lại là người Việt… gian! Tánh dì Tư, khi đụng phải chuyện, dì thường hay so sánh. Dì nói với bà con chòm xóm:

– Thằng Cai Hai Vĩnh, con trai đầu lòng của Cả Bộ, sở dĩ nó lộng hành và tàn ác là bởi vì vô tình mình cho phép nó tàn ác và lộng hành!

Rồi, dì chỉ ra:

– Do mình hiền nên nó dữ. Nếu, mình dữ thì nó sẽ hiền!

– Cậy thế thằng Tây, chẳng những nó không chịu hiền mà lại còn dữ hơn cái nó dữ thì mính tính sao, chị Tư?

Nãy giờ, chú chín Don lo lựa cam nên không can dự chuyện. Nghe mợ Bảy rạch Cái Nhum hỏi thiệt tình, chú xen vô:

– Thằng giàu có, thằng có chức quyền mà không phải từ thực lực và tài đức của chính mình, thì thường là: dữ mồm mép, nhát cơ bắp, hèn cái đầu!

– Thiệt chơi! Chú Chín?

Mợ Bảy hỏi vặn vẹo lại.

– Thì đó, bộ mợ không nghe người ta đồn ở Mỹ Tho có Phủ cậu Trần Xuân Hòa, tuy bịnh phong không đi đứng vững nhưng được võ sư Sáu tình nguyện cõng – thiên hạ nói: ”Võ sư Sáu đã cho Phủ cậu mượn đôi chưn” để cùng nghĩa binh xông pha trận mạc đánh Tây, và tìm diệt bọn vong nô.

Chú Chín vừa tiếp tục lựa cam, vừa cười:

– Bọn quan tham, bọn trọc phú trong vùng hễ nghe tới Phủ cậu là ”ngán, chạy tét háng”!?

Nghe chú Chín nói tếu táo, mợ Bảy cùng bạn hàng cam xúm nhau cười ngất. Nhưng rồi, ngẫm lại cũng có lý!

Gần đây, những người đi ghe hàng bổ thường to nhỏ rỉ tai nhau:

”Dân miền lục tỉnh đã bắt đầu rục rịch, và cũng có nơi hình thành tổ chức đánh Tây, như: Đỗ Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự ở miệt Cà Mau, Thống chế Bút ở Tân Quy Đông (Sa Đéc)…”.

– Ai nói thì chưa chắc ăn, chớ người đi ghe hàng bổ mà nói, thì ăn chắc!

Dì Tư vừa dứt lời, chú Chín ngưng tay lựa cam; nét mặt tỏ vẻ nghiêm trọng. Thấy vậy, mọi người đều im lặng, dù trong lòng hết sức ngạc nhiên và chưng hửng.

Hồi lâu, chú Chín nói:

”Toàn bộ sáu tỉnh Nam Kỳ là lãnh địa của Pháp. Kể từ nay, triều đình Huế không còn quyền lực gì đối với Nam Kỳ lục tỉnh nữa. Một chính quyền duy nhất ở Nam Kỳ là do người Pháp điều khiển”(6).

Bán tín bán nghi, mọi người tự hỏi: ”Sao mà chú Chín rành vanh vách?”. Có lẽ, ngầm đoán được điều đó, chú nói nhỏ nhưng nghe rõ từng tiếng:

– Thằng Tây, nó cho dán bố cáo lời tuyên bố đơn phương và xấc xược ở khắp nơi công cộng. Tức khí, tui đọc thuộc lòng để nói lại cho bà con mình biết mà có thái độ phản ứng, và định liệu.

– Thì ra, là vậy!

Bạn hàng cam cùng một lượt kêu lên!

2.

Nước từ lòng rạch trồi lên lé đé bờ. Trời về chiều!

Năm Xồi ngồi chồm hổm, dụi bớt lửa bếp cà ràng; than củi ngun ngún khói bay lảng đảng qua mui ghe… Bất chợt, Năm Xồi chạnh lòng nhớ người nơi bến cũ. Nỗi nhớ chằng chịt, chẳng khác sự chằng chịt của hơn trăm con sông rạch phụ lưu sông Hậu, sông Cần Thơ chảy qua miền châu thổ đầy ắp phù sa. Năm Xồi yêu đất nước nầy từ lúc nào thì không rõ, chỉ biết rõ là khi ghe hàng bổ đưa anh lênh đênh trên những dòng sông Thốt Nốt, Ô Môn, Trà Nóc, Bình Thủy… Nước lớn nước ròng, đất bồi đất lở đã giúp anh nhận thức: mật ngọt và đắng cay, niềm vui và thương cảm… Tất cả, ngấm vào máu thịt và tâm hồn anh!

Ba mùa gió nồm Tây Nam, Năm Xồi chèo ghe dọc dài sông Cần Thơ từ nguồn ở nội đồng Tây sông Hậu tới vàm sông đổ ra sông Hậu. Anh đã qua Cái Da, Cái Răng, Đầu Sấu… trong những đêm trăng bình nguyên, hay những ngày mưa nắng phương Nam. Anh thương Sáu Huệ, thương bao cánh hoa cam tả tơi nhụy rữa bởi những hạt mưa trái mùa. Bồi hồi, anh chợt nhớ lại lúc còn ở mướn chăm sóc vườn cam dì Tư, mợ Bảy hay kể câu chuyện xưa về ”Con sấu mê coi hát bội”. Chuyện rằng:

”Tại vàm sông Cần Thơ, hồi lưu dân tới khẩn hoang lập điền có con sấu lớn thiệt lớn bằng cái xuồng tam bản, nó rất dữ ác và thích ăn thịt người. Tuy vậy, nó lại rất khoái coi hát bội. Một lần, bất thần con sấu quẫy đuôi đánh úp ghe đám cưới qua khúc sông nó trú ngụ, và cô dâu bị nó gắp ăn thịt. Thề trả thù, chàng rể mướn gánh hát bội và tổ chức hát bội sâu trong ngọn rạch. Sấu nghe tiếng trống chầu, biết là có hát bội nên bất chấp địa hình hiểm nguy, nó trườn miết theo hướng có tiếng trống thúc giục… Dân làng đắp đập ngăn vàm rạch, và chàng cùng trai tráng ở xung quanh đã dùng cây cà bắp dừa nước đâm chết con sấu. Tế vợ xong, chàng xả thịt con sấu trả về sông; rồi lặng lẽ bỏ xứ ra đi. Từ đó, dân gian nói: rạch Đầu Sấu là chỗ cái đầu sấu trôi tới, rạch Cái Da là chỗ da sấu trôi tấp vô, chợ Cái Răng là chỗ bộ răng sấu trôi vướng chà cây”!

Ngày đó, cho tới bây giờ; anh không tin con sấu dữ ác, thích ăn thịt người mà lại có thể mê coi hát bội. Bởi, với anh, súc vật hay con người, nếu mê coi hát dù là hát bội… cũng đều có tâm hồn nghệ sĩ, và một khi đã có tâm hồn nghệ sĩ thì dễ xúc động, tràn cảm tính nên khó mà dữ ác! Trong anh, một mối cảm hoài về câu chuyện ”Con sấu mê coi hát bội” luôn nằng nặng, và canh cánh bên lòng…

– Tại sao, không phải là con sấu bị phân thây bởi nó quyết liệt chống lại kẻ cướp đoạt sự sống của nó và của cả sự sống tôm cá trên khúc sông quê? Có lẽ, do con sấu vì nghĩa mà chết chẳng toàn thây, nên người đời cảm khích lấy từng bộ phận của thi thể con sấu mà đặt tên rạch tên chợ?!

Năm Xồi chợt nhớ những gì chú Chín Don ở rạch Con Cui đã nhỏ to với anh, lúc ghe neo đậu tại vàm rạch Đầu Sấu chờ con nước.

– Xứ mình, giờ đã không còn bình yên!

Lời chú nói như là một lời than vãn, nhưng không phải, vì với anh, thì đó chẳng khác chi là lời báo động.

Trật manh thuốc rê gói bằng lá chuối hột, chú Chín rủ Năm Xồi vấn thuốc hút cho đỡ buồn.

– Thằng Tây, nó ngang nhiên tới chiếm đất và cướp đi nguồn sống của mình!

Vừa bập điếu thuốc, chú Chín vừa bực tức nói.

Năm Xồi rít hơi thuốc thật sâu, khói bay tá lả. Và, trong tâm trí, anh liên tưởng tới cái chết đầy bi tráng của con sấu, khi nó biết phải làm gì trước kẻ thù cướp vùng nước nơi nó sinh ra và lớn lên, nơi nó sống và chết!

Chú Chín nắm tay dắt Năm Xồi bước vô trong mui ghe, bí mật nói khẽ:

– Ở Láng Hầm(7), ông Võ(8) đã khởi nghĩa chống Tây, rồi đó!

Tuy ít chữ, nhưng Năm Xồi không phải là người ít nghĩa ở đời. Anh thuộc làu làu ca dao, vì tình cảm của anh gởi gấm rất sâu vào trong đó. Nhiều đêm trăn trở thời cuộc, anh nhận ra tình yêu quê còn mặn nồng hơn cả tình yêu trai gái và tình yêu quê, bao giờ cũng dính liền tới lai lịch dòng sông, bến nước; miếng ruộng, mảnh vườn mà con người đang sinh sống…

Bếp lửa tàn, và khói bếp thôi bay!

Năm Xồi, mắt buồn xo, mặt thẫn thờ in bóng nước.

Ngồi ăn cơm một mình trên mui ghe, anh nhìn cánh chim trời bay lạc loài trong nắng tà huy!

Buông đũa, Năm Xồi thì thầm một mình: ”Ta không thể như cánh chim trời lạc loài kia…”.

Anh đứng dậy, thẳng người, ngóng về hướng Láng Hầm!

3.

– Nhiều lần, tui đã nói với chị rồi: con nhỏ nó bị mắc đàng dưới!

Mợ Bảy quả quyết. Rồi, mợ đon đả nói tiếp:

– Kêu con Sáu, chị hỏi nó có làm rớt mất đồ xài cá nhơn, như: quần áo, khăn tay, hoặc nhẫn đeo… xuống sông rạch hay không?

Mợ Bảy cắt nghĩa:

– Nếu, chẳng may bị ma quỷ chộp được đồ xài cá nhơn rớt mất, thì nó sẽ đeo bám chủ nhơn để phá phách và hành hạ thân xác. Người ta gọi đó là bịnh đàng dưới!

– Con đâu có tâm hơ tâm hớt để mất đồ mất đạt…

Sáu Huệ bưng rổ rau lang từ nhà dưới lên nhà trên, vừa đi vừa nói. Rồi, Sáu nói như muốn phân bua:

– Con đâu có đồ đạt gì nhiều mà mất với mát!

Dì Tư đỡ lời con gái:

– Cũng có cái đổi cái thay, chớ không đến nỗi chỉ một bộ dính da.

– Không mắc bịnh đàng dưới, thì bây mắc bịnh gì?

Mợ Bảy quay sang hỏi Sáu Huệ.

– Mần sao con biết!

Thiệt tình, Sáu Huệ cũng chẳng biết mình mắc bịnh gì? Hết đi thầy tà tới thầy chánh, hết sắc thuốc Bắc tới hốt thuốc Nam uống; bịnh vẫn trấm trơ trấm trớt. Sau co giựt thì lại mạnh xân xẩn, giống giả đò bịnh.

– Bên rạch Cái Nhum nơi mợ ở, cũng có đứa mặc bịnh hệt cháu và về sau, nó có chồng con đàng hoàng. Hôm rồi, mợ đón nó hỏi, nó cười mắc cỡ…

– Chị đó, nói sao mợ?

Sáu nôn nóng, hấp tấp hỏi mợ Bảy.

– Nó cười mắc cỡ…, và chẳng nói sao cả! Mợ hỏi dồn, thì nó nói nhát gừng, rằng nhờ đọc thuộc lòng câu thần chú: ”Đạo cao Long Hổ phục, Đức trọng Quỷ Thần kinh”!

Lòng ái ngại, mợ Bảy dè dặt:

– Cháu học, và đọc thuộc lòng câu thần chú, thử coi sao! Biết đâu, ”Phước chủ may thầy”!

Sáu Huệ hí hửng, cười:

– Dễ ụi! Mợ Bảy ơi!

Từ đó, đêm đêm Sáu Huệ đọc câu thần chú… Có khi bằng tâm tưởng, có lúc bằng lời.

***

Đã lâu và lâu thiệt lâu, chú Chín Don không lui tới vườn cam Ba Láng lựa chọn cam, mua cam. Bạn hàng cam, ai nấy đều ngong ngóng trông và trông nhứt, vẫn là dì Tư. Rồi, một hôm, lúc trời chạng vạng tối…

– Mèng đéc ơi! Anh Chín! Dữ hôn…

Dì Tư mừng húm.

Chú Chín khẩn trương ra dấu im lặng.

Bóng đêm từ bến sông lốp ngốp ngoi lên, tạt vào nhà tối thui!

– Sáu! Bây đâu?

– Dạ! Con đây nè, má!

Dì Tư biểu con gái thắp đèn. Chú Chín suỵt khẽ:

– Đừng, Tư nó!

Tự dưng, trong lòng dì Tư đột ngột dâng lên niềm xúc cảm và bằng trực giác, dì linh tính có điều gì đó rất hệ trọng sắp xảy ra. Đứng chết trân, dì cố nhìn chú Chín, nhưng không rõ mặt.

– Nhớ Tư và con Sáu, tui ghé thăm chốc lát, rồi đi!

Chú Chín ngập ngừng nói. Có lẽ, chú đang xúc động mạnh. Một hồi, chú nói nhỏ, rất nhỏ… đến nỗi dì Tư phải kề tai sát miệng chú.

– Tui, giờ là người của Tổng binh Bút(9)!

Dì Tư không đủ độ để tâm phân biệt mừng hay lo, chỉ cảm nhận: ”Quê nhà, lớn chuyện rồi”!

Đứng gió, trời oi bức, dù mới là đầu hôm của đêm.

– Theo tin tức anh em báo, thằng Cai Hai Vĩnh nó sẽ dẫn đám lính tới kiếm chuyện và quần xóm vườn cam nầy, hòng thị uy những ai có lòng với Võ tướng quân và nghĩa binh ở Láng Hầm.

Im lặng, dì Tư lắng nghe và Sáu Huệ, hóng chuyện cũng không bỏ sót lời nào của chú Chín.

– Nó ghét Tư, vì Tư quá rành nó. Hơn nữa, nó là thằng háo sắc…, mà con Sáu nhà Tư lại có sắc!

Dì Tư cười không thành tiếng:

– Anh Chín khéo lo! Sáu, nó bịnh mắc ”đàng dưới”.

– Thế gian, làm gì có bịnh ”đàng’ dưới”? Chỉ là mê tín, thôi!

Và, chú Chín nói tiếp:

– Mình có lo, dù là lo xa thì cũng không thừa, nhớ nha, Tư!

Chú Chín dợm từ giã dì Tư. Nhưng rồi, hình như chú nhớ ra điều gì đó, chú nấn ná:

– À quên! Tui có gặp cháu Năm Xồi ở vàm rạch Đầu Sấu…

Chú Chín chưa dứt lời, Sáu Huệ nhảy phóc tới nắm tay chú lắc mạnh:

– Anh Năm của con, mạnh khỏe không chú?

Chú Chín chưa kịp trả lời, Sáu Huệ nói quên thôi. Thấy vậy, dì Tư rầy Sáu Huệ:

– Sáu! Nói nhỏ, nói ít lại thôi, con!

– Thì, Tư cứ để cho cháu nó nói!

Sáu khóc rấm rức, cái rấm rức đè nén và canh cánh bên lòng suốt ba mùa trăng thu vườn cam. Sáu ân hận vì ngây thơ và khờ dại đã giận dỗi quay đi, bỏ lại sau lưng người mình yêu dấu trong giây phút tay nơi bến sông chiều!

– Anh Năm có nhắc nhớ, nhắn gì với con không, chú?

Bàn tay Sáu Huệ lạnh ngắt trong tay chú Chín.

Bằng kinh nghiệm, chú Chín biết lúc nầy Sáu Huệ đã vượt qua giới hạn xúc động và có thể, dẫn tới động kinh. Dì Tư cũng đoán ra được mối hiểm nguy đó, dì lúng túng và không biết phải làm sao.

– Năm Xồi nhớ và nhắc con luôn. Và, nhờ chú nhắn lại với con: Nó rất thương con! Một ngày không xa, nó sẽ về sum hợp!

– Thiệt hả, chú?

– Thiệt! Cớ sao mà không thiệt!

– Nghĩa là, con phải chờ?

– Thì, phải chờ, chớ sao! Cái con nhỏ nầy!

Bàn tay Sáu Huệ ấm dần lên. Dì Tư như vừa liệng xong gánh nặng trên đôi vai gầy yếu của mình.

Có tiếng chim cú kêu, đó là ám hiệu của anh em đang đợi chú ở ngoài bến nước.

– Việc gấp và tui, cũng không muốn người trong xóm hay biết là tui đã về đây!

Hấp tấp bước qua ngạch cửa, chú Chín ghé tai dì Tư dặn nhỏ:

– Sắp xếp cho con nhỏ lên Bình Thủy ở nhờ nhà cậu Tám và Tư nhớ, nó không bị bịnh mắc ”đàng dưới”!

4.

– Sáu Huệ đâu rồi? Dì Tư!

Thằng Đực Cồ, hỏi gắt tiếng.

Quýnh quáng, dì Tư chưa kịp ứng phó. Thằng Đực Cồ, trở giọng:

– Hồi đêm, thằng Năm Xồi, nó mò về đây phải không?

– Trời ơi! Sao con nói vậy, Đực?

– Ở đây, ai là con của dì? Và, thằng Đực Cồ nầy, cũng chưa có giây phút nào là con rể dì, cơ mà!

Đực Cồ sừng sộ, bóp chát.

– Tui cấm dì gọi tui là thằng Đực Cồ nầy, Đực Cồ nọ… mà phải gọi bằng cái tên mới của tui!

Đực Cồ xốc lại dây quai súng, cây súng dài thòng, đầu súng thiếu điều muốn chấm phết đất.

– Từ rày về sau, dì và cả cái xóm vườn cam nầy nữa, mọi người phải gọi tui là: ”Cậu Bồi”!(10).

Nó thẳng người, ưỡn ngực khoe:

– ”Cậu Bồi” là tên do Sếp của Cai Hai Vĩnh ban cho.

Rồi, nó còn hăm dọa: ”Ai kêu nó tên khác, thì sẽ đi tù mọt gông”!

Cậu Bồi, hất càm hỏi dì Tư lần nữa:

– Sáu Huệ ở đâu?

Mặt chầm hầm, nó vác súng xộc vô vườn cam.

Điếng người, dì Tư vội bước rỏn theo Đực Cồ, phòng khi bất trắc!

– Trời ơi! Thôi chết rồi! Con Sáu, nó đang hồi động kinh.

Dì Tư thất thần, thảng thốt lời thầm trong bụng.

Hấp tấp vẹt nhánh cam đang mùa bông trổ, từng cánh hoa cạm rơi lả tả dưới chưn Đực Cồ, nó bước xấn tới… Trước mặt nó, mắt Sáu Huệ nhắm nghiền, miệng sùi bọt mép và tự bứt phăng áo ngực, tay sờ soạn, mơn trớn làn da của mình dưới hoa nắng lung linh cội cam già. Đực Cồ dựng súng dựa thân cam, và nó rón rén ngồi  bên cạnh Sáu Huệ.

Mây che bóng nắng, râm mát vườn. Trời chuyển mưa!

Đực Cồ to lớn con và vì to lớn con, nên bạn đồng lứa gắn thêm cho nó cái hỗn danh ”Cồ” ở đằng sau cái tên Đực cúng cơm. Đực Cồ lợi dụng tình thế hiếm hoi, có một không hai…, nó nương theo tay Sáu Huệ, tựa vào làn da mơn mởn trắng hồng không còn mảnh vải che bộ ngực nõn nà, để…

Đực Cồ thầm thương trộm nhớ Sáu Huệ khi nó còn ở mướn nhà dì Tư. Nghiệt nỗi, Sáu Huệ đã phải lòng Năm Xồi và nó, hận Năm Xồi cũng từ lúc đó. Đực Cồ biết rất rõ bịnh tình của Sáu Huệ hơn cả dì Tư. Bởi thương Sáu Huệ, nó lặn lội ra miệt sông Khoa Giang(11) tìm thầy Tàu hỏi nguyên cớ. Thầy Tàu phán: ”Đó là bịnh ”Cà hước”, thường gặp ở những người phụ nữ đơn thân hay tập thể mà tới cử phát thèm hơi đàn ông; chớ chẳng phải mắc bịnh đàng dưới, đàng trên gì ráo trọi”. Rồi, thầy cẩn thận căn dặn: ”Khi lên cơn ”Cà hước”, chỉ cần đàn ông vuốt ve hôn hít, âu yếm và…thì ngay lập tức, người bịnh sẽ tỉnh như sáo, tươi cười…”.

Đực Cồ suy nghĩ: ”Phải thần tốc chớp thời cơ mần nhanh, dứt điểm nhanh…trước khi, Sáu Huệ tỉnh rụi do đủ hơi ấm đàn ông”!

Dì Tư núp sau gốc cây cam cành lá sum suê, quan sát và sẵn sàng can thiệp, cứu con gái khi cần đến.

Chợt thấy nguy tới trinh tiết của con, dì rung cành cây cam và tằng hắng, giả bộ như có bạn hàng mua cam tới:

– Mèng đéc ơi! Mợ Bảy, và mấy bà mấy cô mới tới!

Dì Tư nói ong óng:

– May quá! Có Cậu Bồi đương ghé thăm!

Đực Cồ đang hứng tình…bỗng xìu và tiu nghỉu, tiếc hùi hụi!

Tỉnh cơn, Sáu Huệ bật ngồi dậy và hốt hoảng, vội quơ nón lá che ngực. Mắt Sáu nổ đôm đốm, ngó chòng chọc vô mặt Đực Cồ, hỏi:

– Đực Cồ! Anh đã mần gì tui?

Cúi gầm mặt, Đực Cồ đứng như bị trời trồng, mắt lấm la lấm lét chẳng khác phường trộm cướp vừa bị bắt tận tay. Thấy vậy, dì Tư nói giả lả cho êm chuyện:

– Thôi con! Dù gì thì cũng là chỗ từng quen biết nhau. Lâu ngày gặp lại, Cậu Bồi giỡn chơi… mà!

Đực Cồ lom khom mặc quần áo, Sáu Huệ chưa hả tức giận.

– Anh đừng lầm tưởng: Giờ là Cậu Bồi, thì anh muốn tự tung tự tác gì cũng được trên đất Ba Láng nầy, sao?

Sáu Huệ nói xỉa xói và nhắc lại cho Đực Cồ nhớ:

– Dân xứ nầy chớ đâu phải dân xứ khác tới, bộ anh quên: “Gái Ba Láng, phải chuyện chơi xả láng, và cũng không cần sáng về sớm. Gặp người hiền lương thì gái Ba Láng hồn hậu, gặp kẻ bất nghĩa thì gái Ba Láng tỉa sạch lông. Xưa nay, tính khí của phụ nữ miền Tây sông Hậu là vậy!”.

Cứng họng, Đực Cồ nhục quá hóa khùng; nó vớ cây súng, lên cu – lát (culasse), bóp cò: ”Đùng!”.

Bầy chim trong vườn cam bay tán loạn!

Đực Cồ vác súng, co giò chạy một mạch xuống bến ghe.

Đêm trầm hà!

Tiếng súng vu vơ từ đồn bót Tây dội về. Ba Láng qua rồi những ngày thanh bình khai hoang khẩn đất.

Đã sang canh ba và có lẽ, hai canh giờ nữa thì ghe của cậu Tám sẽ cập bến rước Sáu Huệ về Bình Thủy lánh nạn. Hai má con ngồi chụm đầu nhau thủ thỉ; đồng thời, cùng tránh cái lạnh khuya khoắt đêm dài.

Ngoài vàm rạch, chó sủa rời rạc và nhát gừng như tiếng chó sủa ma. Một hồi sau, chó cả xóm sủa hùa. Tiếng chó sủa hùa làm dì vui bụng, dì nghĩ: ”Chắc là ghe cậu Tám tới trước giờ hẹn!”. Dì dợm giục con xách cà ròn đựng áo quần ra cầu nước ngồi chờ, kẻo lát nữa ghe của cậu phải đợi.

Chó sủa gấp gáp, tiếng chó nà…

– Bữa nay, sao chó xóm mình sủa kỳ lạ vậy, má?

Ngạc nhiên, Sáu Huệ hỏi.

Chưa kịp trả lời con, dì ngẩn đầu lên thấy đèn đuốc sáng choang trên ghe không phải để rọi đường, mà nhằm để mọi người biết đó là ghe của quan đang đậu đầu vàm. Phát hoảng, bởi má con dì biết đó là ghe hầu của Cai tổng Hai Vĩnh. Sáu Huệ liệng bao cà ròn áo quần lộn vô nhà, nắm tay má nhắm hướng băng qua mương nước.

– Bốp! Bốp…!

Té sấp bờ mương, dì Tư thấy loáng thoáng cái bản mặt thằng Đực Cồ… trước lúc ngất xỉu!

5.

Rạch Cần Thơ nước lớn ròng theo từng con nước sông Hậu. Bụng dạ Năm Xồi nóng như thiêu như đốt và đã ba ngày hai đêm rồi, anh cùng toán nghĩa binh thủy, cố lặn hụp để tiếp cận chiếc ghe hầu của Cai Vĩnh đang neo đậu tại ngã ba rạch.

– Qua giao chú em phải làm xong việc nầy!

Đó là lời của chú Chín, và cũng là lịnh của người chỉ huy tại mặt trận ngã ba rạch Cần Thơ.

”Qua giao chú em làm xong việc nầy”! Việc nầy, chính là việc trừ khử Cai Vĩnh – một tên ”nhơn diện thú tâm” tổng Định Bảo – hắn theo Tây, giết người yêu nước và dân lành; hắn dựa Tây, cướp đất đai, đoạt của cải và chà đạp nhân phẩm người lương thiện…Đó là mối thù chung! Với Năm Xồi, hắn còn nợ mối thù riêng, là đang cưỡng chiếm người anh yêu như yêu mạng sống của mình.

Mặt nước rạch khói sóng mù sương, và trăng thì lủi vào mây ẩn trốn. Không gian cùng thiên nhiên đã hợp phối, tạo điều kiện thuận lợi nhứt cho anh lặn dọc theo đáy lườn ghe.

Nước lớn xuống rạch, nước ròng lên bờ và giờ thì, anh nắm vững quy luật con nước, nắm rõ quy luật sinh hoạt trên ghe hầu của Cai Vĩnh. Tình yêu Sáu Huệ đã kích hoạt trong anh sức mạnh vô song và thêm chút liều lĩnh của chàng trai miền Hậu Giang sông nước.

Căn cứ Láng Hầm.

Võ tướng quân, Tổng binh Bút, chú Chín… chăm chú lắng nghe cách đánh, cách tiêu diệt tên vong nô Cai tổng Hai Vĩnh do Năm Xồi vạch ra và trình bày.

Tổng binh Bút chỉ huy mặt trận, chú Chín trực tiếp trận đánh cùng Năm Xồi.

Suốt tuần nay, ngày nào mợ Bảy cũng chèo xuồng bán cam dạo trên khúc rạch ghe hầu neo đậu để thám thính, phục vụ trận đánh sắp nổ ra!

Ngày trôi qua thật dài, đêm trông hoài không sáng. Năm Xồi giấu nỗi thương nhớ Sáu Huệ với chính mình, vì sợ nỗi thương nhớ sẽ làm yếu lòng, hoặc thiếu điềm tĩnh trước giờ anh xuất kích. Nhưng, càng giấu nỗi thương nhớ, anh lại càng nhớ thương…

Những giề lục bình trôi nhùng nhằng không chìu con nước… bông vẫn nở và tím vẫn sậm màu, dù đang chịu cảnh dập dềnh lưng sóng!

– Dễ mấy ai lọt vào mắt xanh của ngài Cai tổng! Sáu là nhứt rồi, đó!

Đực Cồ muối mặt, và vì sợ người quen biết cũ thấy được cái mặt muối của nó, nên nó liền trở mặt. Ngày nào, Đực Cồ cũng lết tới lải nhải mấy lời thuyết phục Sáu ưng lấy Cai Vĩnh. Sáu như gốc cam già, cành khô thân mục! Trong lúc đó, Cai Vĩnh vẫn kiên trì chờ đợi Sáu tự nguyện hiến dâng – Hắn, bậc thầy tráo trở và nham hiểm; một tay lọc lỏi tình trường và cũng là tay thợ săn từng trải -. Hắn biết chờ để đợi cái hắn cần đợi sẽ đến.

Thiệt ra, đầu đuôi việc cưỡng chiếm Sáu Huệ là do Đực Cồ bày vẽ, dẫn vụ.

– Bẩm thầy Cai! Sáu Huệ, em nó không có bịnh hoạn gì cả!

– Mầy nói sao, Bồi!

Cai Vĩnh trố mắt, ngạc nhiên hỏi.

– Bẩm! Hồi con còn mần mướn nhà dì Tư, thì em Sáu nó mạnh sân sẩn chớ nào có bịnh tà hay phong phét gì đâu!

– Mầy nói chơi hay nói thiệt vậy, Bồi?

Nước bọt rỉ mép, Cai Vĩnh chép chép miệng

– Bồi! Má con nó, chẳng lạ lẫm gì với tau, nha!

– Bẩm! Con biết…con biết!

Đực Cồ học lại tất cả chuyện nhà má con Sáu Huệ, và nó cũng không quên tố cáo Năm Xồi bỏ ghe hàng bổ theo Tổng binh Bút đánh Tây. Nó xâu chuỗi chuyện, rồi kết lại:

– Sáu Huệ nhớ thương Năm Xồi vượt quá tầm kiểm soát trí não, sinh bịnh thiếu hơi đàn ông nên mắc cà hước …

– Bồi! Vậy, mầy tiến hành thực hiện gấp việc đó, nha!

Lòng nôn nao, vì Cai Vĩnh thèm Sáu Huệ cả mấy tháng trời.

– Để tau coi em Sáu chạy đằng trời nào khỏi nắng!

Ngậm ống tẩu phì phèo, Cai Vĩnh mỉm cười và bất chợt, thảy đồng bạc Đầm Xòe xuống đất, thưởng công trước cho thằng Bồi. Đực Cồ cúi rạp người lượm đồng bạc, rồi ngửn đầu, miệng cười híp mắt.

Nó nói ấp úng trước khi lui ra:

– Bẩm thầy Cai…

– Bồi! Việc gì cứ nói!

– Thầy Cai đề phòng Năm Xồi! Việc nầy, Năm Xồi dứt khoát không tha và sẽ rửa hận bằng máu!

Móc khẩu súng lục dằn lên bàn, Cai tổng Hai Vĩnh vỗ đùi và cười rung mặt bàn, khiến khẩu súng như muốn nhảy dựng…

Trời chớp giựt, mưa nguồn

Đêm tối thui, giơ bàn tay không thấy!

Nơi doi đất đầu Sóc Xà No (Srock Snor), mợ Bảy treo đèn chong lên cây bẹo làm ám hiệu cho nghĩa binh khai hỏa. Và, dưới lòng rạch, Năm Xồi cũng đã đục lườn ghe hầu hở ván tàng hoạc, nước tràn ào ào…

Ghe hầu sang hơn ghe điệu (13), nó được đóng sang trọng; xung quanh ghe sơn son thếp vàng; nội thất phòng khách đẹp đẽ, chẳng khác phòng khách tại dinh thự của Cai Vĩnh và nó được bày biện: chiếu bông sặc sỡ nẹp điều, gối dựa lụa tơ tằm, ống điếu bình, đồ lệ bộ…Đầu rồng đuôi phụng, mũi hai chèo… Đực Cồ, đám lính và cả Cai Vĩnh, chẳng thằng nào hay biết chuyện sống chết sắp xảy ra. Đực Cồ ngồi uống rượu, vuốt ve con mồi gái vừa tóm được trên chiếc xuồng câu đêm qua, sau khi nó chém người chồng rớt sông. Hai Vĩnh thèm Sáu Huệ tới độ nhỏ nước dãi, nên bất chấp giữ thể diện Cai tổng, và cũng mất sự kiên trì chờ đợi Sáu Huệ xiêu lòng như mấy ngày qua. Cai Vĩnh dùng võ lực của thằng đàn ông háo sắc, Sáu Huệ không còn mảnh vải che thân…

– Tấn công! Tấn công!

– Bắt Hai Vĩnh! Giết! Giết…

Tiếng hô của nghĩa binh vang dội góc trời!

Hàng chục xuồng ba lá chở nghĩa binh ào ào vây kín ghe hầu và phóng hỏa

Đám lính la hét thất thanh, mạnh đứa nào đứa nấy bung giò nhảy rạch… lớp lốp ngốp bị bắt, lớp bị nghĩa binh chém giết chết chìm.

Gió thổi lửa bốc cháy nhanh, ghe hầu rực lửa sáng choang ngã ba rạch.

Cai Vĩnh chưa kịp mặc quần, thì Năm Xồi trờ tới…

– Phụp! Phụp! Ph…ụ…p…

Mũi ngọn giáo mà Năm Xồi mượn của vị Thần thờ tại đình Tân An(14), huyện Phong Phú, lúc anh theo chú Chín dấn thân vào nghiệp đao binh đã cắm phập vô yết hầu và dính kẹt ở cổ Cai Vĩnh. Đang loay quay cố rút ngọn giáo, bất chợt, qua ánh lửa chập choạng nhảy múa, anh phát hiện và thoáng thấy bóng Đực Cồ đang giương họng súng về phía Sáu Hậu. Buông cán giáo, tay không anh nhào tới…súng nổ, và anh nhảy dựng bật ngửa rớt xuống rạch!

Và liền đó, từ phía sau chú Chín nhảy xổm tới chém đứt tay bóp cò súng của Đực Cồ, nghĩa binh nhào vô bắt sống.

Đằng Đông, mặt trời lên. Ngã ba rạch Cần Thơ sáng trắng!

Chú Chín Don nói lại: ”Đánh xáp lá cà trên ghe, lúc hỗn loạn chú nhìn thấy con Sáu nhảy chết theo Năm Xồi, nhưng không tài nào ngăn cản kịp!”. Người nghe, ai cũng sụt sùi thương xót!

Dì Tư, mợ Bảy, bà con xóm vườn cam Ba Láng đã tìm được xác Năm Xồi, Sáu Huệ trôi vướng bụi ô rô ở miếng biền thí thuộc doi đất Sóc Xò No và cả hai, được chôn cất tử tế tại nơi đã tìm thấy xác (15).

Cảm khái nghĩa khí, trân quý lòng chung thủy của những người con Ba Láng; ngày đó, dân trong vùng dựng ngôi miếu thờ, gọi là Miếu Cô Cậu (16)!

Hết chuyện, cụ Út Tôm ngưng kể. Bần thần trong nỗi bâng khuâng, tôi bước ra cây cầu nước, vịn cành cam xoàn gie nhánh ra bến sông, rồi đứng nhìn vế vàm kinh xáng Xò No. Giựt mình, tôi chợt nghe như có tiếng ai hò:

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xò No

Có thương em, anh mua cho một con đò

Để em lên xuống thăm dò ý anh!

– Thằng Ba đâu rồi?

– Dạ! Thưa cụ, con nè!

– Em nó dọn cơm, vô ăn đi cháu; rồi liệu có mà dìa cho sớm, kẻo trễ đò!

Gió rượt chiều chạy rần rật trên những cành lá cam sum suê, xanh mượt. Và, tôi thì… Tôi không thể nào quên Ba Láng những ngày…

TRẦN BẢO ĐỊNH

__________________________________

(1) Nóp là vật dụng để chun vô ngủ tránh muỗi, nó là cái bao đệm được may kín chừa miệng theo chiều dài ước chừng hai mét.

(2) Ghe hàng bổ là loại ghe chở hàng hóa bán rong theo các chợ nhỏ trong vùng (còn gọi ghe ban lồng).

(3) Cà ràng phiên âm từ ”kran” tiếng Khmer, là loại bếp làm bằng đất sét nung. Hình dáng giống số 8, đầu lớn có 3 cạnh dùng kê nồi và đầu còn lại thì nhỏ để đút củi vô. Cà ràng sử dụng cho ghe, thuyền.

(4) Nguyễn Văn Vĩnh.

(5) Nay là thành phố Cần Thơ.

(6) Phó Đô đốc hải quân Grandière, Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp đã ra tuyên bố ngày 25.6.1867.

(7) Láng Hầm tức Ba Láng – Trà Niềng, thuộc huyện Phong Phú (nay là Ba Láng – Phong Điền, thành phố Cần Thơ).

(8) Ông Võ tức Võ Đình Sâm, sách”Monographie de Cần Thơ”, ghi:  Đình Sâm là Võ Đình Sâm  (có sách lầm lẫn là Ngô Sâm. Thật ra, Ngô Sâm là một người khác và đã chết trước khi cuộc khởi nghĩa của Võ Đình Sâm nổ ra ở Láng Hầm, năm 1867).

(9) Năm 1867, Tổng binh Bút phối hợp với Võ Đình Sâm (Đinh Sâm) khởi nghĩa ở Láng Hầm. Sau đó, Tổng binh Bút quay trở lại Sa Đéc, tổ chức đánh úp quân viễn chinh Pháp đang đồn trú tại đình làng Tân Quy Đông (Sa Đéc). Ông bị tên vong nô Trần Bá Lộc bắt giết.

(10) ”Bồi” là từ Việt gốc Pháp, do danh từ ”boy” mà ra. Le Grand Robret: ”jeune domestique indigène, en Extrême – Orient, dans les

colonies…” (đầy tớ trẻ người bổn xứ ở Viễn Đông, tại các thuộc địa).

(11) Sông Đốc (tức sông Ông Đốc – Đốc binh Vàng).

(12) Bao cà ròn đươn bằng cọng bàng.

(13) Ghe điệu dành cho giới nhà giàu ở miền Hậu Giang. Đó là loại ghe mũi lái đều chạm trổ, kèo mui sơn son thếp vàng; sàn ghe lót ván gỗ tốt và trong ghe có chỗ ăn uống, ngủ nghỉ đủ tiện nghi nhơ ở nhà.

(14) Đình Tân An (thuộc huyện Phong Phú, 1839 – tức Cần Thơ sau nầy), có trước khi vua Tự Đức sắc phong năm Bính Tý (1876) và Thống đốc Nam Kỳ Bonard ký  sắc lệnh hành chánh thành lập ”Hạt Cần Thơ”, ngày 23.2.1876.

(15) Năm 1901, kinh xáng Xò No bắt đầu đào từ Sóc Xò No (Cần Thơ) ăn thông vào kinh Cái Tư (Hậu Giang – Kiên Giang), đến giữa năm 1903 thì hoàn tất. Ngày 29.6.1904, kinh xáng Xò No chính thức được khai thác sử dụng do Thống đốc Rodier phê chuẩn. Ngôi miếu Cô Cậu nằm trong đất quy hoạch đào kinh xáng nên được di dời, và trải qua nhiều phen dâu bể, ngày nay không ai biết ngôi miếu đã bị xóa hoặc thất lạc phương nào!?

(16) Miếu thờ Bà Cậu là tín ngưỡng dân gian thuộc về nghề có liên quan tới sông nước. Cần Thơ tín ngưỡng thờ Bà Cậu rất phổ biền sông ngòi chằng chịt.

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *