Truyện ngắn Vũ Khắc Tĩnh: Trong rừng Trà My

1.

Tiếng mang tác, tiếng cú kêu, tiếng vạc đi ăn đêm ở xa vọng lại mang theo mùi lạnh của sương núi rừng. Tôi giật mình tỉnh giấc, mắt mở dáo dác nhìn mông lung. Mấy con đôm đốm chớp chớp sáng, trên giàn cây gỗ bắc ngang tấm bạt lán trại. Tôi muốn ngồi bật dậy nhưng toàn thân cứ như bị ai đó cột chặt cứng vào thành bạt. Thành thử tôi nằm im duỗi thẳng chân thẳng tay.

Nhà văn Vũ Khắc Tĩnh

Nhìn trời đất qua màn sương dày đặc giăng giăng khắp núi rừng. Tôi nhìn đồng hồ, đúng năm giờ sáng. Trời sắp sáng. Lại một ngày nữa bắt đầu. Rồi tôi sẽ ngồi dậy cùng các bạn, trong toán thợ rừng đứa cầm rựa, đứa vác cuốc, đứa vác xẻng ra rừng quần quật suốt ngày trên con đường rừng đầy gai góc và những hòn đá tảng lởm chởm, mặt ngửa lên trời hàng ngàn tia nắng bắn ra, xuyên qua kẻ lá. Một ngày của tôi chỉ có đất, cây lá, đá tảng và nắng.

Tôi hít thở không khí mùi gió rừng trong lành của buổi sớm mai tràn vào lồng ngực, mùi lá cây mục, mùi hoa rừng đong đưa ngai ngái, và có cả mùi khét của nồi cơm trên bếp. Tiếng lục đục quen thuộc của anh nuôi. Anh nuôi dậy sớm lo cho bữa ăn sáng. Mùi thơm của chén mắm ruốc, để bên dĩa tàu bay luộc và tô cá biển. Mùa này không chỉ dân ở thị trấn Trà My, bản làng người dân tộc, mà cả toán thợ rừng khai thác gỗ phải ăn cơm độn với bo bo.

2.

Anh nuôi đánh một hồi kiểng báo thức. Tất cả toán thợ rừng mấy chục đứa ngồi bật dậy, mắt còn ngái ngủ. Tay cầm vội cái khăn và bàn chải chạy ra suối đánh răng, rữa mặt. Hít thở không khí đầy lồng ngực. Tôi thì chạy vô bếp rít một hơi thuốc lào, rồi nhả ra từ từ, tìm cảm giác tê mê.

Toán thợ rừng qui tụ đủ thành phần, trong đó phần đông thanh niên có học thức. Một biến cố lớn xảy ra, lớp thanh niên chúng tôi mất phương hướng lung lạc ý chí. Không sớm thì muộn cũng tìm đường đi làm, bất kỳ việc gì và dù bất cứ ở đâu, miễn là có tiền. Rừng Trà My hồi đó thu hút rất nhiều lớp trẻ, thanh niên các nơi đổ về xin làm công nhân cho xí nghiệp vận chuyển khai thác gỗ của ông Hồ Giám. Tất cả cùng bước ra trong môi trường hỗn loạn về tinh thần. Xưa nay chưa có một ai kinh qua sức lao động nặng nhọc, chưa một ai ăn uống thiếu thốn, chưa một ai sa chân vào hệ luỵ trần gian, nên sống chung với nhau rất dễ thông cảm và mau hội nhập trong môi trường tập thể. Nhờ có sức chịu đựng dẻo dai bất chấp mọi gian khổ, có lúc ăn không đủ no, làm việc tay chân quá sức. Nhưng vẫn bình thân như thường chẳng có gì khác.

Những lớp thanh niên chúng tôi thời ấy không còn con đường nào khác để gởi gắm thân phận. Suy cho cùng, có đi đâu chăng nữa cũng là công cụ cho người khác sai khiến, chi bằng lên núi rừng sống với thiên nhiên, với muôn thú chim chóc, với mây ngàn gió núi. Tương lai mịt mù, nhưng bù lại trong lòng thanh thản.

Anh nuôi bưng nồi cơm đặt lên trên sàn xới cho đều. Mùi gạo mới bốc lên thơm ngọt ngào.

Tiếng bác Thạch trưởng toán thợ rừng hối thúc

– Ăn lẹ vài chén cơm cho chắc bụng rồi ra rừng. Trời sáng

tỏ rồi đó các con! Mùa này ngày ngắn đêm dài. Phải làm cho xong đoạn đường còn lại để xe vào lấy gỗ.

Ăn cơm xong bác giao công việc cho anh tổ trưởng phụ trách làm đường, còn bác đi quan sát một cánh rừng mới chuẩn bị khai thác. Rừng càng đi sâu càng rậm rạp, hoang vu, nơi đó có rất nhiều con suối, đá tảng nằm ngổn ngang chắn lối đi nên mỗi khi làm đường phải dùng đến chất nổ để phá đá.

Đối với toán thợ rừng mỗi ngày lại tiến dần vào sâu thấy hoang vu đâm ra lo sợ, chứ thật ra nơi đây người dân tộc họ đi săn bắn liên tục. Dọc theo mé rừng họ cắm hàng tre vót nhọn chỉa lên trời. Đó là cái bẫy dành cho đám heo rừng háo ăn. Đôi khi cũng con sụp bẫy. Họ gánh về xẻ thịt cho bà con trong buông làng hay đem ra chợ bán cho người Kinh. Cái giống heo rừng phá phách như vậy nhưng rất nhát gan, hễ có một con bị sập bẫy là cả bầy không bao giờ bén mảng đến đám đất đó nữa. Nhưng heo rừng là loại tinh khôn, chúng biết cách đối phó với sự phòng thủ của con người. Người dân tộc họ đào mương quanh rẫy chẳng qua là giải pháp tình thế mà thôi. Họ đã từng mục kích, khi đến đám rẫy có đường mương chắn ngang, chúng dùng hết sức bình sinh phóng cái vèo bay qua. Sauk hi ăn no nê, chúng ung dung trở lại rừng. Chúng sợ nhất là lửa. Đốt đống lửa đỏ lên chúng thấy là chạy tán loạn. Người dân tộc họ nói vậy.

Tôi cầm cái rựa, toán thợ rừng, đứa vác cuốc, đứa vác xà beng trên vai, chân bước hướng về phía rừng rậm rạp chưa khai thác mà bước tới. Con đường bụi rậm, cây lá gai góc chằng chịt, đá tảng chắn lối gồ ghề, dài ngoằn ngoèo theo từng bước chân chúng tôi đi. Lùm gai mây chìa ra cứa ngang chân tay tôi vết xước dài rướm máu. Tôi vẫn bước. Bao mùa mở đường khai thác gỗ từ rừng thấp đến rừng đầu nguồn đi qua rồi, đôi chân tôi đã chai sạn thành thử vết đau tầm thường kia không hề hấn gì. Thỉnh thoảng, trong đám lá cây mục, mấy con vắt ngoi đầu bò ra, bu lên chân chúng tôi mà hút máu, đến khi con vắt hút máu no tròn tự thân nó nhả ra. Một ngày không biết bao nhiêu con như vậy. Mỗi lần thấy mấy con vắt tay chân nổi da gà. Ở rừng không sợ một thứ gì hết mà chỉ sợ nấy con vắt nằm trong lá mục.

Đi khoảng mười lăm phút là đến chỗ làm. Lúc này mặt trời mới ló dạng, chuẩn bị ban phát những tia nắng đầu tiên xuyên qua kẻ lá. Ánh sáng ban mai trải dài lên núi đồi, nhuộm một màu vàng óng ánh. Cây lá sau một đêm ngủ vùi ngon giấc, bây giờ tỉnh ngủ bừng lên sức sống. Những cây chò, cây gáo. cây lim, cây kiền kiền….lớn nhỏ đồng loạt bị đánh thức đâm thắng cành lá đón nhận buổi sớm tinh sương đầy khí thế. Tiếng con chim vành khuyên ở trên cây cao hót chào ngày mới. Những giò lan đủ màu sắc sặc sỡ đong đưa. Thỉnh thoảng một vài làn gió rừng thổi nhẹ qua phả vào mặt tôi cái cảm gác sảng khoái dễ chịu. Tôi vươn vai, vặn vẹo tay chân. Một ngày lao động chân tay bắt đầu.

Toán thợ rừng và tôi hì hục phát quang bụi cây rậm rạp, xeo hòn đá tảng sang một bên, dọn sạch rác rưới. Chia một đoạn đường bốn người đào, ban đất ra bằng phẳng để xe cần cẩu chạy qua được. Trong khi đó, khu rừng cây được ông trưởng toán quy hoạch sẵn, giao cho thợ cưa tay, thợ cưa máy đốn hạ từng cây một. Cây được cưa ra thành nhiều lóng dài bốn mét hoặc năm mét nằm sóng soài ngổn ngang. Khi hoàn thành xong con đường mấy trăm mét đến tận bãi gỗ, sẽ có xe vận chuyển số gỗ đó về Lâm trường, nơi thu mua sẽ xẻ ra thành phẩm. Một ngày vô ra hai, ba chiếc xe hì hục lên dốc xuống dốc, kéo lóng gỗ lên xe kêu ì ạch ì ầm làm náo động rừng già vốn lâu nay yên tĩnh.

Khi làm xong một công đoạn đường rừng được giao, tôi và những người bạn mệt lả người. Nhưng đến bữa ăn trưa cũng phải ngồi lại ăn hai, ba chén cơm cho qua bữa. Cái ấm no đánh đổi bằng những giọt mồ hôi và máu. Như thế để tồn tại, một qui luật muôn đời trong cuộc sống đa số chúng ta thời ấy.

3.

Mặt trời đứng bóng, treo lơ lửng trên đầu tôi lúc nào không hay. Nắng trở nên gay gắt, nóng nực hầm hập. Từ những cây chò cao to đã bị đốn ngã, để lộ ra một khoảng trống vô cùng lớn. Quăng rựa, để cuốc xẻng một bên, ngồi nghỉ giải lao năm phút. Tôi cầm cái can nhựa năm lít chạy ào xuống sông nước. Đang mùa khô nên dòng sông Trường cạn nước dần, chỉ ngập đến mắt cá chân. Bù lại, nước suối trong vắt và mát lạnh. Hai bàn tay tôi bụm lại vốc ngụm nước tạt mạnh lên mặt lên cổ. Cái cảm giác mát dịu lan toả nhẹ nhàng. Nhìn qua bên kia sông là khu dân cư và bản làng người dân tộc, khói bếp bay lên mờ mờ ảo ảo. Những nàng Bân nàng Lụa mang gùi sắn trên rẫy về, để lộ bộ ngực căng tròn tuổi xuân.

Nàng Bân, nàng Lụa vẫn cứ đi thong thả, không hề để tâm đang có người con trai nhìn mình. Nàng đứng lại, bợ gùi sắn để sang một bên. Đứng thẳng lung, giơ tay lau mấy giọt mồ hôi chảy dòng ngắn dòng dài trên khuôn mặt tròn trịa trắng trẻo. Đột nhiên, như có linh cảm, nàng Bân quét cái nhìn qua bên kia sông. Khi phát hiện thấy có người Kinh, trong đôi mắt màu huyền ánh lên sự sợ hãi, cúi đầu bẽn lẽn mang gùi sắn trở về bản làng. Tôi nhìn thì muốn nhìn cho thoả con mắt, tò mò về bộ ngực căng tròn của nàng Bân nàng Lụa không che giấu, một sản phẩm tuyệt vời mà Thượng đế đã ban phát cho loài người. Chỉ một thoáng thôi mà tôi đứng lặng người bên sông Trường. Sự thế thì như thế, một thoáng rồi thôi, chứ không một đứa nào dám chọc ghẹo con gái người dân tộc. Sợ bà con họ hàng, anh em hai nàng đó biết đươc trả thù.  Trái cấm ở rừng là trái độc, chớ có dai mà ăn vào…ói ra không kịp…..

Dù người dân tộc họ sống rất tình cảm, nếu mình tử tế với họ. Họ sống rất sòng phẳng, có qua có lại. Tôi có lần gặp già làng ông nói:

– Người dân tộc mình nói một là một, nói hai là hai, chứ

không ăn mà nói có bao giờ.

Nơi nào họ làm ăn được thì ở lâu, không thì di chuyển tìm mảnh đất mới liên tục. Chắc bây giờ họ lên vùng cao hơn…không còn ở đó nữa. Nghe đâu cuộc sống của họ đã ổn định, có nơi ăn ở đàng hoàng, con cái họ có trường lớp để đi học, mở mang cái chữ vốn lâu nay mù tịt.

4.

Bóng tối đến vội vàng, buông xuống rừng núi bức màn đêm. Cơm nước tắm rửa xong, chúng tôi quay quần bên điếu cày, mỗi đứa rít một hơi thuốc lào, đã trở thành thói quen sau bữa ăn. Gói thuốc lào cái sắn sợi đen, hút vào rất ép phê. Buổi sáng sớm chưa ăn uống gì, đứng bên bếp lửa, rít một hơi dài thế nào cũng bị nhào vô bếp, rất nguy hiểm đến tính mạng. Thuốc lào miền Bắc sợi vàng, nhẹ nên hút vào không đã. Tôi có ông bạn ở phố lên chơi, không biết mua gì, nên mua mấy gói thuốc lào miền Bắc lên cho, rất tiếc là không hút được. Ông ấy phải ở lại trên rừng dăm bữa, hút cho hết mấy gói thuốc lào đó mới được về. Giờ ông bạn đó ở đâu tôi không biết và cũng không gặp lại. Đó là một kỷ niệm khó quên.

Thời đó, tuổi trẻ chúng tôi là những thanh niên khoẻ khoắn. Ăn uống cũng như đi làm đều có sức bền và dẻo dai, ham vui, chưa có ý thức đâu là người hiền, đâu là gian tà. Nhưng đêm nằm ngủ hay trăn trở về thân phận con người. Một ngã rẽ, một bước ngoặt làm đảo lộn trật tự lao động trong xã hội. Đáng lẽ ra cái nghề của tôi đâu phải lao động chân tay. Cái nghề đó đã có người khác làm rồi, cũng như nơi tôi ở và ngủ đâu phải trên rừng. Nhưng hôm nay tôi lại ở và ngủ trong lán trại trong rừng. Mười mấy năm đèn sách, chỉ trong tích tắc đem đổ sông đổ biển.

Đêm nằm trong lán trại, nghe sương rơi lộp độp trên tấm bạt. Có đứa nằm nhớ nhà, có đứa nghĩ đến tương lai mịt mù, nếu ngày nào đó không làm trên rừng nữa, có đứa nhớ đến người yêu ở phố mong mau đến cuối tháng nhận tiền công, mặt hí hửng đón xe về phố chơi dăm bữa. Tôi thì thèm cà phê không ngủ được. Về phố đến năm mươi cây số đường đèo, lên đèo Liêu, xuống đèo Liêu rất nguy hiểm, có một lần tôi bị lật xe khi xe xuống đèo suýt bỏ mạng, vì xe đò hồi đó phần nhiều còn cũ kỹ, chạy bằng than nên độ an toàn không chính xác, không có phương tiện đi lại nên hành khách đành phải đi, và chấp nhận mọi rủi ro nếu có xảy ra, nên chuyện lật xe nghe cũng bình thường, không có gì bất ngờ trong thập niên bảy tám, tám mươi trở về trước.

Tôi không về phố mà ra thị trấn thong dong với cà phê, chỉ có vài cây số đường, nhưng cách biệt lán trại bởi một con sông Trường chắn ngang. Mùa nắng mực nước cạn mấp mé đến ống quyển chân. Mùa mưa nước dâng cao chảy cuồn cuộn, có lúc nước xoáy bất thường vào chỗ trũng đi qua có thể hẫng chân, bị nước cuốn trôi mất tăm. Biết vậy, nhưng thích thì vẫn cứ đi. Đi ra thị trấn để tìm chút sinh khí.

Ở Trà My có quán cà phê sát bên đường. Quán có cô chị tên Thu Hà, cô em tên Đông Hải đều xinh đẹp như hai bông hoa nở giữa thị trấn. Tôi và bạn bè hay đến ngồi ở đó, uống để nhâm nhi chút hương vị thơm ngon của cà phê, lại được ngắm nhìn vẻ đẹp dịu dàng, thuỳ mị của hai chị em. Một thời, biết bao nhiêu chàng thanh niên trồng cây si ở đó. Tôi thì đến rồi đi chẳng làm ăn gì được, còn bạn bè thì ưu ái thân quen hai cô nàng hơn tôi, nên trong mỗi câu chuyện của họ thông thoáng hơn, cứ thế chiều ở rừng tối Trà My, mấy sông ta cũng lội huống hồ chi một con sông trường chắn ngang.

Rồi từ đó, những bài thơ tình ra đời, tạo nên một diện mạo mới đầy cảm hứng thu hút trong đám bạn bè yêu thích văn chương. Một Vũ Khắc Ngạn đã thốt lên giữa rừng núi đại ngàn, trong một đêm bập bùng ánh lửa. Ngạn đợi đến lúc trăng xế bóng, trăng nghiêng bóng rồi mà vẫn chưa  ngủ được. Lửa rồi cũng tàn, trăng cũng tàn theo chỉ còn Ngạn với Ngạn, đợi em trong vô vọng. Để rồi trong đêm tàn cuộc mộng Ngạn mới nhận ra mình là mây. Mây thì một đời trôi lang thang không có điểm dừng, tan tụ vô thường. Rồi một sớm một chiều cuộc đời Ngạn va đập vào kiếp nhân sinh, để rồi Ngạn đã đuối mộng với một Thuỳ Dương trong thập niên bảy tám, tám mươi của mấy mươi năm trước “….Đêm nhớ người không ngủ/ Đốt lửa đợi trăng tà/

Tôi là mây viễn xứ/ Nên một đời chia xa…” ( Thơ Vũ Khắc Ngạn ) Thế mà có một thời gian, Ngạn muốn về phố để tính chuyện trăm năm. Tính thì như vậy, nhưng thực tế thì không như vậy “….Mà cũng không chừng ta ở lại/ Với Trà My một chút hương rừng…” ( Thơ Vũ Khắc Ngạn )

Một Phạm Hồ Lưu đến với rừng núi, trong vai một người thợ rừng, cũng cầm rựa, cuốc xẻng trên vai, cũng ăn ngủ, bị bệnh sốt rét tác yêu tác quái một thời. Cũng lang bạt khắp nơi tứ xứ, tang bồng hồ thỉ, chấp chới mộng bình sinh, đọc nghêu ngao thơ ca hào sảng giữa đất trời. Sau năm bảy lăm, qua Ngạn, bạn có một cuộc tình đẹp như mơ. Còn thất tình hay không ở đâu thì tôi không được biết. Ở rừng bạn làm thơ về rừng tôi rất yêu thích.. “…Buổi trưa gối đầu lên tiếng suối/ Hoa rừng hoa nắng đan vào nhau/ Nghe mang tác vọng bên kè đá/ Mà hứng chí hú lộng rừng sâu…” ( Thơ Phạm Hồ Lưu ) Rất khí khái, sự trở về của bạn là con đường cùng chung nhịp sống cùng chung nhịp thở với người tình Thu Hoà đã kề vai sát cánh bên nhau suốt những tháng năm làm rừng. Không còn nghi ngờ gì nữa, tôi đoan chắc bạn là người làm thơ viết về rừng mà tôi tâm đắc.

5.

Năm năm trời. Một quãng đời dài cho người thợ rừng cũng đến hồi kết thúc, xí nghiệp vận chuyển khai thác gỗ giải thể, sát nhập vào Lâm trường Trà My, cơ quan chủ quản của ngành Lâm nghiệp. Những người thợ rừng như chúng tôi đi tứ tán khắp nơi. Những hành trang lâu nay đã ngủ yên trong một góc lán trại, nay đến lúc cựa quậy trên vai tìm một hướng đi mới trong cuộc mưu sinh, còn một số bạn bè đã trưởng thành như tôi đều có gia đình yên bề gia thất. Những anh tài xế xe vận chuyển gỗ một thời vẫy vùng ngang dọc đường rừng, về quê sống họ cũng chẳng giàu có gì, không hao tài cái này cũng hao tài cái khác, gia đình ly tán. Không biết lý do tại sao cuộc đời họ ăn ở không có hậu về sau. Ăn của rừng phải trả  một cái giá quá đắt, một bí ẩn không có lời giải đáp.

Ngọn núi Bà cao sừng sững hiện rõ dần ra trước mắt. Hình dáng của núi như quả đấm của người khổng lồ chìa lên trời xanh, quanh năm sương khói bao phủ, và những cơn dông sấm chớp nổ rân trời, sau đó là những cơn mưa mù mịt kéo dài. Nghe đâu núi Bà có một sự tích được truyền miệng không mấy rõ ràng, qua thời gian ông bà già xưa đã chết không để lại cho người mai sau biết, giờ chỉ biết núi Bà linh thiêng mà linh thiêng đến cỡ nào cũng không một ai biết được…Chưa một ai leo lên trên đó, kể cả những người dân tộc trong buôn làng sống khép kín làm ăn…

Rừng nằm dưới ngọn núi Bà không gian trở nên im lặng, những con đường đất đỏ chạy thẳng tắp lên bãi gỗ năm nào nay cây lá cỏ dại mọc lại rậm rạp. Rừng hoang vu một cách đáng sợ. Con người đã trả lại rừng sự bình yên, không còn chọc giận rừng nữa. Hôm nay đã là tháng chạp rồi, tiết trời se lạnh. Chỉ nghe vi vu tiếng gió rừng luồn qua khe lá rồ đập vào vách núi rào rào. Núi Bà vẫn thản nhiên đứng sừng sững vô cảm như đã từng chứng kiến nhiều kết cuộc bi thảm những con người thợ rừng khai thác gỗ khi trở về lại quê quán.

Tôi ghi chép lại đây là một chứng nhân, vừa là một người thợ rừng trong thập niên bảy tám, tám mươi trở về trước, sau năm bảy lăm.

VŨ KHẮC TĨNH (QUẢNG NAM)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *