Từ bức tranh ngôn ngữ về thế giới đến bức tranh ý niệm (trên cứ liệu tiếng Việt)

VHSG- Từ bức tranh ngôn ngữ về thế giới, bức tranh ý niệm  đến mô hình tri nhận, ngôn ngữ học thế giới đã có một bước tiến rất dài về một lĩnh vực khá mới mẻ cả về phương diện lý thuyết cũng như những ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống.

1. Mối quan hệ giữa thế giới và ngôn ngữ là một vấn đề khá phức tạp. Bởi vì, chúng không chỉ liên quan đến bản thể và chức năng của ngôn ngữ với tư cách là một phương tiện biểu đạt mà còn quan hệ mật thiết đến chủ thể giao tiếp, nói rộng ra là cộng đồng diễn ngôn, hiểu là, cộng đồng bản ngữ có cùng một một nền văn hóa. Các cách lập thức khác nhau đã hình thành nên những tiền đề lý thuyết khác nhau và tương ứng với chúng là những hệ luận cũng hết sức khác biệt. Và từ việc xác lập đặc điểm bức tranh ngôn ngữ về thế giới (BTNNVTG) đến đặc điểm bức tranh ý niệm (BTYN), ngôn nghọc đã có một bước tiến dài về nhận thức.

Bài viết này, trên cứ liệu tiếng Việt, thử khái quát một số nét chính trong cách hình dung về thế giới, chủ yếu là giai đoạn tiền tri nhận và tri nhận.

Nhà nghiên cứu Trịnh Sâm

2. Theo quan niệm của ngôn ngữ học hiện đại, bức tranh ngôn ngữ về thế giới (linguistic picture of the world, linguistic world view), là hệ thống ý niệm trong một ngôn ngữ, thể hiện cách cảm nhận, diễn giải về thế giới của một cộng đồng diễn ngôn. BTNNVTG một mặt, được đúc kết từ kinh nghiệm, được hình thành trong chiều dài lịch sử, gắn chặt với môi trường văn hóa, có thể biến đổi theo thời gian, mặt khác, chúng lại tồn tại trong tâm trí của người bản ngữ. BTNNVTG hàm chứa trong nó, gồm thế giới hiện thực hay phi hiện thực, thế giới bên ngoài hay bên trong, chứa đựng hệ giá trị, niềm tin và cả những chủ đề mà cộng đồng diễn ngôn quan tâm.

BTNNVTG là vấn đề vừa cũ lại vừa mới. Ngay từ nửa đầu thế kỷ XIX, W. Von Humboldt (1767 – 1835) đã nhắc đến BTNNVTG (weltansicht, sprachlich weltansicht) trong mối quan hệ với hình thái bên trong của ngôn ngữ và linh hồn dân tộc. Từ đó đến nay, tư tưởng BTNNVTG được mở rộng theo những hướng khác nhau. Ngoài bức tranh thế giới (Picture of the world), hiểu theo nghĩa kí hiệu học, tức phản ánh thế giới bằng nhiều loại hình chất liệu khác nhau, là phương tiện biểu đạt giá trị của ngôn ngữ, người ta còn nói tới bức tranh khoa học về thế giới (Scientific picture of the world). Nó được hình thành nhờ vào các khái niệm logic, khoa học, phản ánh nhận thức về thế giới khách quan, chứa tri thức chính xác, tài sản chung của nhân loại, đó là thế giới của tri thức bách khoa, không lệ thuộc vào ngôn ngữ mà nó dùng để miêu tả. Ví dụ, nước, dù miêu tả trong ngôn ngữ nào cũng là một hợp chất hóa học H2O, nhưng với cái nhìn dân dã, người Việt hình dung đơn giản, nước là chất lỏng, nên mới gọi nước muối, nước cất, nước javel, nước lưu huỳnh, nước xà phòng, nước biển (truyền nước biển cho khỏe)…trong khi đó lại không định danh là nước máu, nước mồ hôi, mặc dù thừa nhận chúng cố kết bằng giọt (Trịnh Sâm, 2011).

BTNNVTG được nhiều giới học giả thuộc nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau chú ý đến, ngoài mối quan hệ mật thiết với văn hóa, dù nhìn nhận với tư cách là bức tranh thơ ngộ (naive picture) về thế giới hay thuần túy là phương tiện phản ánh thế giới, dù đứng từ góc nhìn tương đối luận hay phổ quát luận, tất cả, suy cho cùng, đều liên quan đến việc nhìn nhận chức năng của ngôn ngữ trong quy chiếu với thế giới.

Dựa vào căn cứ này có thể lược qui về hai hướng tiếp cận, tương ứng với hai cách lý giải về bản thể của BTNNVTG.

Về hướng thứ nhất, tạm gọi là hướng phản ánh luận, xuất phát từ quan niệm, ngôn ngữ phản ánh trực tiếp hiện thực, chức năng của ngôn ngữ là định hướng tư duy, ngôn ngữ khác nhau, hiện thực khác nhau, suy nghĩ của người bản ngữ tương ứng cũng khác nhau. Đi tìm sự tương đồng và khác biệt giữa các BTNNVTG trong quan hệ với văn hóa, chủ yếu người ta phân tích nghĩa của từ vựng, nhất là nghĩa biểu vật giữa các ngôn ngữ hoặc giữa các phương ngữ trong cùng một ngôn ngữ, dựa vào sự đối lập có/không, nhiều hơn/ít hơn, khái quát hơn/cụ thể hơn, tổng quát hơn/chi tiết hơn. Người ta đề cập đến sự phân cắt hiện thực tuyết với lớp từ vựng phong phú của người Eskimo, người Trung Quốc với lớp từ vựng đa dạng chỉ về các loại ngựa khác nhau. Tương tự, trong tiếng Việt, xuất phát từ nền văn minh lúa nước, nên người Việt định danh về lúa và các sản phẩm từ cây lúa rất chi tiết và phần lớn đều là từ đơn (từ cổ), hay xã hội Việt Nam là xã hội trọng tình, lấy cách xưng hô trong gia đình để xưng hô ngoài xã hội, nên hầu như tiếng Việt không có hệ thống đại từ đúng nghĩa và cách sử dụng của chúng kèm theo các sắc thái nghĩa khá đa dạng.

Quả nhiên, thông qua sự phân tích nghĩa của từ, chúng ta có thể thấy được sự phân cắt hiện thực của mỗi BTNNVTG, bên cạnh nét phổ quát còn có những nét đặc thù, nhất là những nét đặc thù ấy hé lộ ít nhiều lối tư duy riêng của mỗi dân tộc. Với cách tiếp cận này, dễ dàng có thể viện dẫn nhiều ví dụ khác biệt như để diễn đạt khái niệm manger (ăn) của tiếng Pháp, tiếng Việt có đến mấy chục từ tương ứng, ngược lại, trong tiếng Việt, từ đàn lại không có từ tương ứng trong tiếng Anh, tiếng Pháp, bởi trong các ngôn ngữ ấy, đàn bao giờ cũng qui chiếu về một loại đàn cụ thể. Cách làm này, nhất là  những nhận xét về tính trừu tượng/tính cụ thể trong phân cắt hiện thực dễ dẫn đến ngộ nhận về thứ bậc của ngôn ngữ, trong đó đáng chú ý là nhận xét, những ngôn ngữ đạt tới trình độ văn minh cao hơn thường gắn liền với độ sâu phân loại lớn hơn và ngược lại. Thật ra, với tư cách là phương tiện biểu đạt, mỗi hệ thống ngôn ngữ có thể diễn đạt bất kỳ điều gì nó muốn. Và như ta biết, việc định danh không hẳn là dựa vào đặc trưng cố hữu của sự vật, hiện tượng, mà nhiều khi người ta gán cho những thuộc tính nổi trội, tùy theo sự diễn giải có tính chất chủ quan của người quan sát. Hơn nữa, nghĩa của từ chỉ có tính chất tiềm năng, chúng là công cụ, có giá trị kích hoạt vào một điểm cụ thể nào đó trong kho tàng tri thức chứa trong não bộ của chủ thể giao tiếp. Nói rộng ra, cách hình dung BTNNVTG như thế chưa phải là cách cấu trúc hóa thế giới một cách chủ động, đích thực, và do vậy cũng khó lòng nhìn nhận chúng thể hiện được đặc trưng văn hóa và tư duy của một dân tộc.

Tuy nhiên, phải thừa nhận, trong một số trường hợp, tri thức khoa học cũng được ý niệm hóa theo cách riêng, nhất là trong môi trường văn chương, lúc này BTNNVTG bất chấp thuộc tính logic của thực tế. Chẳng hạn, VD1, Sáng đi bóng hãy còn dài, trưa về bóng đã nghe ai bóng tròn và VD2, Sáng đi bóng hãy còn dài, chiều về bóng đã nghe ai bóng tròn, rõ ràng VD1 phản ánh chính xác hiện thực, thế nhưng, sự đối lập về thời gian sáng đi/chiều về trong VD2, lại là cách mã hóa rất quen thuộc, thể hiện lược đồ thẩm mỹ trong ca dao. Hay, nhiều cứ liệu cho thấy, nghĩa hình thành trong sử dụng gắn với ngữ cảnh, nói rộng ra, bản chất của nghĩa mang tính ý niệm. Có thể viện dẫn đến trường hợp, dễ tưởng là mâu thuẫn trong sự lựa chọn giữa Sung và Hồng trong ca dao (Chẳng thà ăn nửa trái hồng…/Chẳng thà ăn cả chùm sung…). Kể thêm, Anh em là ruột là rà, Vợ chồng như áo thay rồi là xongVợ chồng là ruột là rà, anh em thì có cửa nhà anh em. Dễ thấy, tùy thuộc vào chủ thể tri nhận, các cách ý niệm hóa như thế dựa vào các hệ giá trị khác nhau, mà sâu xa là xuất phát từ những cách phạm trù hóa khác nhau.

Gần đây, nhiều học giả không thừa nhận sự đồng nhất giữa nghĩa của ngôn ngữ và nội dung của ý thức, họ nhận ra rằng BTNNVTG mang bản chất tiền khoa học (pre-scientific), phản ảnh kinh nghiệm tinh thần, kinh nghiệm vật chất và ý thức ngôn ngữ của một cộng đồng diễn ngôn. BTNNVTG thực chất là bức tranh phóng chiếu thế giới đã được trí não nhào nặn. Nhìn chung, nội dung BTNNVTG được nhìn nhận và lý giải rất gần với thuật ngữ tâm lý (psych) của con người và cũng rất gần với ngôn ngữ học hiện đại, nhưng công bằng mà nói, nó có vẻ tĩnh tại và vai trò của chủ thể giao tiếp có phần mờ nhạt.

Về hướng thứ hai, tạm gọi là hướng tri nhận luận, nội dung của BTNNVTG được mở rộng, đó là bức tranh ý niệm (BTYN) (conceptual picture) và có thể hình dung, BTYN là tập hợp tất cả sản phẩm tri nhận của cộng đồng diễn ngôn với nhiều phương thức kiến tạo khác nhau: trực tiếp/gián tiếp, ẩn dụ/phi ẩn dụ, lược đồ/phi lược đồ. BTYN là hệ thống ý thức, là hiện thực được tái cấu trúc và diễn giải thông qua mã ngôn ngữ. Nói cách khác, chính con người chủ động tổ chức cơ cấu ý niệm bằng cách áp đặt thông tin đầu vào thông qua các giác quan. Do vậy, có thể nói được, BTYN là kết quả của một sự tương tác giữa con người với hiện thực thông qua sự biểu trưng hóa ngôn ngữ (R. Langacker, 1991). Mặt khác, có thể coi BTYN là kho tri thức đã được ý niệm hóa, phạm trù hóa dựa vào ngữ cảnh diễn ngôn và đến lược nó, hệ thống ý niệm khác nhau dẫn đến cách tri nhận và diễn giải khác nhau. Sự khác nhau của những hệ thống ý niệm trong các ngôn ngữ khác nhau, có thể có nhiều nguyên nhân nhưng bao trùm lên tất cả là vai trò chủ động vận dụng kinh nhiệm của con người để tương tác với thế giới. Theo Z. Kovecsev, 2005, hai nguyên nhân chính với hàng loạt yếu tố chi phối làm nên tính đặc thù trong tri nhận: (i) khác biệt trong cách thức trải nghiệm và (ii) khác biệt trong sở thích hay thiên hướng diễn giải. Như vậy, ngôn ngữ chỉ có giá trị kích hoạt, còn tương tác, diễn giải theo chiều hướng nào là tùy thuộc cách thức tri nhận. Và thông qua ngôn ngữ, tương tác theo cả hai chiều hướng từ chủ thể đến hiện thực và ngược lại.

Trước hết là tương tác từ  hiện thực đến con người. Mặc dù rất đề cao vai trò của chủ thể kinh nghiệm nhưng ngôn ngữ học tri nhận không phủ nhận tầm ảnh hưởng của môi trường hiện thực, hiểu theo nghĩa rộng. Nói cụ thể, đối với một loại sự tình quen thuộc nào đó, một tình huống khách quan gần gũi nào đó, một chủ đề được thường xuyên quan tâm nào đó thì trong suy nghĩ của người bản ngữ chúng xuất hiện trước nhất, nhiều nhất và có tầm tác động lớn nhất.

Rõ ràng, không phải ngẫu nhiên mà hiện thực sông nước, cây cối, thực phẩm… lại có một vài trò to lớn trong không gian tinh thần của người Việt. Về hiện thực sông nước, xuất phát từ các ẩn dụ Sông nước là con người, Hành trình đời người là hành trình của dòng sông, Tình cảm là nước… người Việt đã hình thành một hệ thống ý niệm về sông nước rất riêng, mà nổi bật là sự thích nghicân bằng của chúng được mô phỏng để ứng xử trong cuộc sống [Cao Xuân Huy, 1995] và người Việt có cách quan sát và đúc kết nước theo thang độ nhân tính rất đặc biệt [Trịnh Sâm, 2011].

Tương tự, xuất phát từ mối tương quan trải nghiệm và tương đồng tri giác, tiếng Việt đã kiến tạo nên BTYN về cây cối trong mối quan hệ với con người, rất đa dạng, nhiều tục ngữ, thành ngữ, ca dao thể hiện đạo lý Việt Nam thông qua hình ảnh của cây cối. Về chủ đề thực phẩm cũng thế. Do nhiều lý do khác nhau, ngày xưa cái ăn là nỗi lo canh cánh của hàng triệu  triệu người Việt Nam. Công bằng mà nói, với các ẩn dụ Tri thức là thực phẩm, Suy nghĩ là đun nấu, Học là ăn… nhiều ngôn ngữ đã có những cách ý niệm hóa khá giống nhau, riêng tiếng Việt có hai điểm khác biệt: (i) phần lớn những ngữ đoạn liên quan đến nấu nướng, bếp núc đều được ẩn dụ hóa: Lập luận sống sít, Độ chín của nhà quản lí, Xào bài, Hâm nóng tình yêu, Tình cảm nguội lạnh, Thêm mắm thêm muối vào cho câu chuyện đỡ nhạt…(ii) đệ qui về ý niệm Ngon/Dở để nhận xét, đánh giá: Thân hình cô ấy rất ngon, Nhà hai mặt tiền ngon ơi, Cái ghế đó ngon quá, tốn cả triệu đô… Phim dở, Ứng xử với vợ con dở quá, Điện thoại Trung Quốc dở lắm…. Do vậy, chúng tạo nên một trường ý niệm hữu quan có tầm hoạt động rất rộng.

Nhân tiện, cũng xin được lưu ý, tuy có thể cùng được kích hoạt một mảng hiện thực như nhau, nhưng sự cảm nhận và diễn giải trong mỗi ngôn ngữ mỗi khác. Hiện thực nước/thủy và một số sự kiện liên quan đến chúng trong tiếng Việt và tiếng Trung là một ví dụ minh họa. Tuy cùng xuất phát từ ẩn dụ, Thiên nhiên là con người, Nước là con người…, bên cạnh những ý niệm phổ quát, dễ thấy có những diễn giải đặc thù: trong khi người Việt nhận ra tính thích nghi, cân bằng, mạnh mẽ của nước, cá – nước biểu trưng quan hệ thuận lợi, tình yêu là mối quan hệ giữa thuyền với bến, thuyền – nước là quan hệ giữa vật chứa và vật được chứa…(Trịnh Sâm, 2011) thì người Trung Quốc lại cho rằng nước là yếu, nữ tính, cá – nước biểu trưng tình yêu nam nữ, thuyền – nước là quan hệ giữa tầng lớp thống trị và bị trị, là quan hệ giữa lãnh đạo và nhân dân… (Rong Cheng, 2012).

Về hướng tương tác ngược lại, cũng không khó khi chỉ ra hàng loạt phóng chiếu từ kinh nghiệm của chủ thể tri nhận lên thế giới thông qua nghiệm thân sinh lý, nghiệm thân tự nhiên và nghiệm thân xã hội. Và với từng phạm trù như vậy, cũng có thể chỉ ra những tương đồng và khác biệt trong từng lược đồ chi tiết giữa các ngôn ngữ.

Xin được chỉ minh họa từ nghiệm thân sinh lý và nghiệm thân với tự nhiên.

Phương Tây đắm mình trong triết học nhị nguyên, lấy tư thế thẳng đứng làm cơ sở phóng chiếu, trên quan trọng hơn dưới, nên quan niệm đầu biểu trưng cho lý trí, tim biểu trưng cho tình cảm, trong khi phần lớn người phương Đông đều qui về nhất nguyên, và theo hướng nằm ngang, tình cảm, lý trí, tính tình… đều do một bộ phận cơ thể con người biểu trưng như xin (tâm, tiếng Trung), jai (tim, tiếng Thái), saz (gan, tiếng Mông), hati (gan, tiếng Indonesia và Malysia), hara (bụng, tiếng Nhật), bụng (tiếng Việt)… và tuy cùng xu hướng nhất nguyên nhưng cũng có nhiều khác biệt trong việc định vị theo nguyên lý nhất nguyên nhất vị hay nhất nguyên đa vị.

Hay trong phạm vi nghiệm thân với tự nhiên, tuy cùng  xuất phát từ ẩn dụ Đời người là một cuộc hành trình, nhưng người phương Tây, nhất là với những con chiên thì nhìn nhận con người sinh ra từ cát bụi và sẽ trở về với cát bụi và cuộc hành trình ấy diễn ra trên đường bộ, trong khi người Việt lại hình dung, con người sinh ra từ nước và khi chết lại trở về với nước và cuộc hành trình diễn ra trên đường sông (Trịnh Sâm, 2011, 2014, 2019).

Sau khi nhận diện tương đối rõ bản chất trí não của con người, nhất là vai trò to lớn của con người trong việc cảm nhận và diễn giải thế giới, trong vòng hai thập niên lại đây, các học giả chú ý nhiều hơn đến lược đồ tri nhận. Tùy theo nhu cầu nhận thức khoa học, tri nhận luận bắt đầu bằng lược đồ hình ảnh, rồi tiến lên, phân xuất các lược đồ vĩ mô thành những lược đồ vi mô dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau. Trong đó, đáng chú ý là cách đề xuất khung lý thuyết về một số lược đồ văn hóa, với ngành học Ngôn ngữ học văn hóa; sự vận dụng một số thành tựu liên quan đến lược đồ tri nhận để thiết kế các mô hình dịch tự động, và/ hoặc các mô hình trí tuệ nhân tạo.

Có thể nói được, từ BTNNVTG, BTYN đến hệ  mô hình tri nhận, ngôn ngữ học thế giới đã có một bước tiến rất dài về một lĩnh vực khá mới mẻ cả về phương diện lý thuyết cũng như những ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống.

TRỊNH SÂM

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Aprexian Iu.D., Lekxichexcaia Xemantika, Xinonhimichexkie xredxtva iaduca, Naiuca, M, 1974, 251 x.
  2. Trần Văn Cơ, Ngôn ngữ học tri nhận, Từ điển Tường giải & Đối chiếu, NXB Phương Đông, 2011.
  3. Cao Xuân Huy, Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu, NXB Văn học, 1995.
  4. Kövecses Z, Metaphor in Culture Universality and Variation, Cambridge University Press, Cambrige, 2005.
  5. Langacker, Ronald, Concept, Image and  symbol, Muton de Gruyter, Berlin, 1991.
  6. Nishida, H, A cognitive approach to intercultural communication based on schema theory, inetrnationalJournal of intercultural relation, 23(5), 1999.
  7. Rong Chen, Water networks, the Chinese radical and beyon, in  languages and linguitics, compendium of cognitive linguistics research, Thomas Fuyin Li (ed), Nova Publishers, New York, 2012.
  8. Trịnh Sâm, Miền ý niệm sông nước trong tri nhận của người Việt, tạp chí NN, số 12 (271), H. 2011.
  9. Trịnh Sâm, Mt vài nhn xét v ý nim “TIM”, tạp chí TĐH&BKT, số 4 (30), H , 7/2014.
  10. Trịnh Sâm, Về ý niệm NGON / DỞ, tạp chí TĐH&BKT, số 6 (138), H, 11/2015.
  11. Trịnh Sâm, Phổ quát và đặc thù thông qua một số miền ý niệm nguồn tiếng Việt, tạp chí NN, số 10 (329), H, 2016.
  12. Trịnh Sâm, Mô hình tri nhận và tương tác văn hóa, tạp chí NN, số 4 (335), H, 2017.
  13. Trịnh Sâm, Lý thuyết nghiệm thân nhìn từ thực tiễn tiếng Việt, tạp chí NN, số 1 (356), H, 2019.
  14. Sharifian, Farad, Cultural conceptualisations and language: Theoretical Framework and Applications. Amsterdam/Philadelphia: John Benjamins, 2011.
  15. Sharifian, Farad. Culture linguistics, PDF, Amsterdam/Philadelphia: John Benjamins, 2017.
  16. Lý Toàn Thắng, Ngôn ngữ học tri nhận, từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt, NXB Phương Đông, 2009.
  17. Nguyễn Đức Tồn, Đặc trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy, NXB Từ điển Bách khoa, H, 2010.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *