Nhà văn Trần Bảo Định xuất hiện trên văn đàn khoảng một thập niên nhưng đã tạo được dấu ấn sâu đậm trong sinh hoạt chữ nghĩa đương thời. Sự nghiệp văn chương của ông trải dài từ thơ ca, truyện ngắn đến tiểu luận – phê bình cùng hàng loạt bài viết ngắn đã công bố(1). Trong đó, truyện ngắn chiếm vị trí trung tâm và chủ yếu qua 14 tập truyện thể hiện sâu sắc nhiều khía cạnh tư tưởng của nhà văn Trần Bảo Định. Vì vậy, trang văn của ông đi vào học đường và lan tỏa tích cực trên văn đàn suốt thời gian qua.

Bên cạnh đề tài văn hóa và môi trường sinh thái, nhà văn Trần Bảo Định còn có nhiều sáng tác về đề tài lịch sử. Từ Kiếp ba khía đến Mùa hoa nắng, “Ông già Nam Bộ nhiều chuyện” đã lần lượt khơi lại lịch sử từ dân gian trên vùng đất Nam Bộ qua nhiều thời kỳ khác nhau. Tuyển tập Đất Việt trời Nam liệt truyện là sự kết dệt các chặng đường lịch sử riêng lẻ nhưng thống nhất để khai thông dòng chảy lịch sử xuyên suốt từ khi các chúa Nguyễn vào Nam khai mở xứ Đàng Trong cho tới khi Nam Kỳ rơi vào tay thực dân Pháp và đến đầu thế kỷ XX, với cuộc chiến đấu của nhân dân Nam Bộ trong nỗ lực chung cùng giải phóng đất nước. Đất Việt trời Nam liệt truyện là tuyển tập các truyện ngắn dân gian sử mang dung lượng, chiều kích không – thời gian như bộ sử thi anh hùng; phản ánh một cách bao quát và sâu sắc những biến động thời đại, khơi sáng vẻ đẹp tâm hồn và khí phách của nhân dân Nam Bộ hơn ba trăm năm mở mang bờ cõi, bảo vệ và phát triển quê hương.
*
Mở đầu tuyển tập, Đất nước – vừa như đề từ vừa như sự dẫn nhập. Nhà văn Trần Bảo Định nêu cao tinh thần tự cường, khẳng định nền độc lập của nước Việt, của dân Việt. Nhắc nhớ ba lần tuyên ngôn Độc lập, nhất là thơ thần “Nam quốc sơn hà”, Trần Bảo Định mang ý hướng gắn kết lịch sử vùng đất Nam Bộ với toàn bộ truyền thống lịch sử dựng và giữ nước của dân tộc Việt. Nói cách khác, lịch sử mở cõi, bảo vệ, phát triển vùng đất Nam Bộ trước sau chính là phần tiếp nối thống nhất và toàn vẹn trong bản trường ca anh hùng của giống nòi Lạc Hồng hàng ngàn năm qua.
Trên tiến trình đó, Trần Bảo Định không vội nhắc nhớ các đấng trượng phu mà tưởng tiếc phận má hồng vì miếng cơm manh áo dân lành đã lặng lẽ bước xuống thuyền hoa. Nhà văn dành sự tôn vinh cho những hy sinh và cống hiến của người phụ nữ Việt Nam đối với lịch sử phát triển nước nhà. Nếu như hồi thứ nhất – Từ năm 1620… là thời kỳ mở mang và thống nhất giang sơn thì hồi thứ hai – Từ năm 1859… là thời kỳ giữ gìn và bảo vệ xứ sở, đến hồi thứ ba – Từ năm 1900… là thời kỳ chuyển biến và tái kết nối đứt gãy văn hóa bởi cuộc xâm lược của thực dân Pháp để nối liền mạch sống giống nòi. “Miền Nam đi trước về sau” chính là vì trực tiếp đối diện với cuộc xâm lược của thực dân, trực tiếp gánh chịu cuộc quốc biến làm đứt gãy mạch sống dân tộc. Trong tình thế đó, người bình dân Nam Bộ cũng trực tiếp góp phần tái kết nối mạch sống dân tộc Việt Nam trên phương diện lịch sử và văn hóa nghệ thuật.

Hồi thứ nhất – Từ năm 1620… phản ánh giai đoạn lịch sử Đàng Trong và Nam Kỳ với công cuộc mở mang bờ cõi về phương Nam. Bên cạnh cuộc thư hùng giữa Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh, nổi bật trên nền lịch sử thời đại ấy là những người anh hùng đại diện cho ý chí và khí phách của người bình dân: Đỗ Thanh Nhơn, Lê Xuân Giác, Lê Văn Duyệt, Mai Tự Thừa… và hàng loạt những anh hùng không tên tuổi cùng góp máu xương cho công cuộc thống nhất non sông vĩ đại. Mùa bông dừa nước, Nồi cháo cá nửa đêm, Bông gòn quê nhà, Cây ô môi vàm rạch cũ, Hai người đàn bà ở Gãnh Mù U… đều là những truyện ngắn mang tầm vóc tiểu thuyết, bởi khả năng phản ánh đa chiều đa tầng lịch sử thời đại. Qua một số truyện ngắn như Dấu chưn lưu dân, Tổng trấn Gia Định thành Nguyễn Huỳnh Đức: Miền đất cũ, Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt: Kê kinh trong lòng người… bạn đọc còn nhận ra dịch chuyển về mặt văn hóa – xã hội làm nền tảng cho bước phát triển về sau của văn hóa Việt ở miền Nam. Có thể nói, Đất Việt trời Nam liệt truyện kết dệt bằng những sợi chỉ xuyên suốt lịch sử lẫn đan cài trong đó những sợi chỉ phong tục tập quán, sinh hoạt nghệ thuật, đạo đức luân lý, nhận thức tư tưởng.
Hồi thứ hai – Từ Hồi thứ năm 1859… phản ánh thời kỳ thực dân Pháp chính thức xâm lược nước ta. Bước ngoặt lịch sử làm thay đổi toàn diện dòng chảy thời đại. Nhà văn Trần Bảo Định tập trung thể hiện ý chí kiên gan bất khuất của nhân dân Nam Kỳ cùng với nhân dân cả nước đứng lên chống giặc ngoại xâm. Hàng loạt hình tượng anh hùng bình dân lấy thân đền nợ nước như: hai mươi dũng sĩ đất Gò Công (Không uổng công má); nghĩa sĩ Sáu Chóp Chài (Trăng lũy pháo đài); má thằng Trợt và chú Năm với đôi trâu hào khí (Miếu Trâu); Sáu cận vệ (Khói un chiều); lão Tám với thằng Nhanh (Đêm cầu cơ)… có thể xem là khúc bi tráng ca vang vọng trong cuộc đấu tranh của nhân dân Nam Kỳ thời bấy giờ. Đối tượng của cái nhìn nghệ thuật ở hồi này dịch chuyển từ các nhân vật anh hùng được sử sách lưu danh (như Trương Định, Nguyễn Hữu Huân, Võ Duy Dương, Phan Văn Đạt, Nguyễn Trung Trực…) đến các nhân vật anh hùng vô danh. Và chính các anh hùng vô danh mới thể hiện toàn bộ chủ đích nghệ thuật của Trần Bảo Định, cho thấy tư tưởng: Nhân Dân Anh Hùng!
Hồi thứ ba- Từ năm 1900… phản ánh bước tiến mới của nhân dân Nam Kỳ trên tiến trình đấu tranh giải phóng dân tộc. Các hình tượng nhân vật lịch sử thời kỳ này cho thấy nhận thức toàn diện, sâu sắc hơn về cuộc xâm lược của thực dân Pháp và gợi mở những khuynh hướng đấu tranh khác nhau trong bối cảnh thời đại nhiều biến động trong nước cũng như trên thế giới. Bên cạnh đấu tranh yêu nước là việc phát triển nội lực kinh tế và đời sống xã hội của nhân dân. Phong trào vận động Minh Tân với các tên tuổi như Trần Chánh Chiếu, Huỳnh Đình Điển, Lê Văn Cửu… được tái hiện một cách chân thực. Hàng loạt truyện ngắn như Tiếng khóc kêu chiều, Những tấm lòng, Tư Thâu thời niên thiếu ở quê nhà, Người phụ nữ ấy, Cây sầu đâu bên kia đường Nhà thờ Đức Bà, Tình đắp nền, Dì Ba chẻ chữ… trong hồi thứ ba giúp độc giả mường tượng giai đoạn lịch sử sôi động và biến đổi mau lẹ; cho thấy vận mệnh giống nòi đến lúc thực hiện “bước nhảy vọt” trên tiến trình đấu tranh chống ngoại xâm và giải phóng dân tộc. Trang văn của Trần Bảo Định thể hiện tinh thần kế thừa, cập nhật và phát huy chủ nghĩa yêu nước với truyền thống văn hóa dân tộc, là đặc điểm nhất quán của các cuộc vận động đấu tranh yêu nước ở Nam Kỳ từ cuối thế kỷ XIX. Bạn đọc sẽ nhận ra hàng hàng lớp lớp người dân Nam Kỳ nối tiếp nhau cùng thúc đẩy vận mệnh dân tộc tiến về phía trước. Tiếp nối chí khí người xưa, cập nhật bối cảnh thời đại để xây dựng và phát triển phong trào yêu nước, đó là nguyên động lực to lớn thúc đẩy tiến trình lịch sử vùng đất Nam Kỳ cũng như vận mệnh chung của dân tộc Việt Nam và lịch sử Việt Nam hiện đại.
*
Xuyên suốt tuyển tập Đất Việt trời Nam liệt truyện, hình tượng nhân vật nữ chiếm vị trí đáng kể. Đó là công nữ Ngọc Vạn, công nữ Ngọc Khoa, hai bà vợ của Phan Thanh Giản, mẹ và vợ của Nguyễn Đình Chiểu, mẹ của Đỗ Trình Thoại, mẹ của Trần Xuân Hòa, cô Sáu Sanh, cô Hai Rái… Tất cả đều làm nổi bật vai trò người phụ nữ trong công cuộc mở mang bờ cõi và đấu tranh bảo vệ đất nước. Trên trang văn của Trần Bảo Định, người phụ nữ không hiện lên như phận “liễu yếu đào tơ” mà ngược lại, ngang tầm với các bậc trượng phu cùng chung vai sát cánh thu vén chuyện nước nhà. Do đó, trang văn của ông là tượng đài tôn vinh người phụ nữ Nam Bộ nói riêng và người phụ nữ Việt Nam nói chung. Dẫu trải qua từng hồi lịch sử với thách thức cam go, lực lượng trí thức vốn học tập và trưởng thành trong nền giáo dục khoa bảng của vương triều Nguyễn nhưng tâm hồn và tính cách của họ gắn chặt với người bình dân. Âu Dương Lân bỏ quan về với dân cứu nước, Đỗ Trình Thoại cùng hai mươi dũng sĩ đất Gò Công, Trần Xuân Hòa với Sáu cận vệ… cùng sát cánh với nhân dân chống giặc ngoại xâm là những hình tượng tuyệt đẹp tiêu biểu cho lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân Nam Kỳ bấy giờ.
Bên cạnh hình tượng người anh hùng bình dân Nam Bộ, Đất Việt trời Nam liệt truyện của Trần Bảo Định còn hấp dẫn ở cách lựa chọn và xây dựng tình tiết truyện gây xúc động mãnh liệt. Bà Hai trong truyện ngắn Nồi cháo cá nửa đêm, vì cứu giúp hậu duệ Nguyễn vương mà lịm dần trong căn nhà rực cháy với tâm trí miên man tưởng nhớ hương quít nồng nàn đầm ấm quê nhà. Cô Sáu Sanh trong truyện ngắn Chiều tái giá đã thức trắng đêm cùng di ảnh chồng rồi bái lạy cho trọn nghĩa phu thê để đi về phía máu đổ đầu rơi. Trong truyện ngắn Xà bông “Con Vịt”, cảnh tượng Cai Tuất phóng hỏa để biển lửa dìm chết bè lũ thực dân Pháp và tay sai, trong khi con Mực tru tiếng tru vĩnh biệt “Con Vịt” trong thời khắc sinh tử đã gây ám ảnh và xúc động cho người đọc. Mỗi truyện ngắn trong Đất Việt trời Nam liệt truyện của Trần Bảo Định đều có những nhân vật, tình tiết gây ám ảnh và gieo vào lòng bạn đọc niềm thương cảm vô cùng, với những hy sinh mất mát của nhân dân Nam Bộ trong cuộc tranh đấu bảo vệ non sông không gì bù đắp nổi. Đó cũng là ý nghĩa sáng đẹp và đáng quý của toàn bộ tuyển tập Đất Việt trời Nam liệt truyện.
Được nuôi dưỡng trong bầu sữa dân gian, nhà văn Trần Bảo Định mang lại góc nhìn riêng về lịch sử Nam Bộ xưa nay: liệt truyện của người bình dân hay dân gian triết và dân gian sử. Nổi bật trên nền sự kiện và nhân vật lịch sử thời đại là các hình tượng anh hùng xuất thân từ bình dân và trọn đời gắn bó với người bình dân. Đất Việt trời Nam liệt truyện vì thế không chỉ là bản anh hùng ca của một cá nhân, một dòng họ, một vương triều, mà hơn hết là bản anh hùng ca của người bình dân Nam Bộ. Sử quan triều đại có thể bỏ qua song bao nhiêu anh hùng bình dân vô danh hẳn còn sống mãi trong tâm hồn người dân Nam Bộ về sau.
*
Tuyển tập Đất Việt trời Nam liệt truyện giúp bạn đọc nhận ra tâm hồn và khí phách người bình dân Nam Bộ: không phải giống chim phượng trong lý tưởng vương quyền mà là loài chim sẻ trên đồng ruộng nắng vàng phương Nam; cũng không phải thần long uốn lượn trời xanh mà là con trùn đất cày xới, vun bồi đại địa. Giọng điệu trong trang văn của Trần Bảo Định như tiếng chim phương Nam ríu rít trong vòm tre, gợi âm hưởng chan hòa và sinh khí cuộc sống tươi tắn trên dải đất Việt Nam thống nhất, đậm đà ý nhị dân tộc và thấm đẫm tinh thần nhân bản. Trong tuyển tập Đất Việt trời Nam liệt truyện, bạn đọc sẽ nghe thấy âm vang tiếng nói hào sảng, cảm khái tính cách phóng khoáng và phẩm chất nhân nghĩa thủy chung của người bình dân châu thổ Cửu Long. Đây vừa là bản trường ca vừa là bản tráng ca mà cũng là khúc dân ca thấm đượm hương vị nắng gió chan hòa của đất đai xứ sở Nam Bộ xưa nay.
Trân trọng giới thiệu đến quý bạn đọc bộ sách Đất Việt trời Nam liệt truyện gồm ba tập Thượng, Trung và Hạ của nhà văn Trần Bảo Định.
NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP TP HỒ CHÍ MINH
________________________________
[*] Nhà văn Trần Bảo Định đã xuất bản 6 tập thơ: Ngao du sơn thủy (2012), Thầy tôi (2013), Mẹ! Tiếng lòng (2013), Thơ 6.8 (in chung Hoàng Yên Dy, 2014), Vợ tôi (2014), Làng tôi (2015); 14 tập truyện ngắn: Kiếp ba khía (2014, bộ mới 2020), Đời bọ hung (2015), Phận lìm kìm (2016), Chim phương Nam (2017), Đất phương Nam ngày cũ (2017), Ông già Nam Bộ nhiều chuyện – Dấu chưn lưu dân (2017), Ông già Nam Bộ nhiều chuyện – Góc khuất dưới chưn đèn (2017), Khói un chiều (2018), Bóng chiều quê (2018), Bông trái quê nhà (2018), Chơi thôi mà! (2019), Mưa bình nguyên (2019), Thương những ngày… (2020), Mùa hoa nắng (2020); 5 tập tiểu luận – phê bình: Phật tính dân gian Nam Bộ – Đôi điều suy ngẫm (2021), Dấu thời gian – Khát vọng của người xưa (2022), Lá rụng mùa – Mấy vấn đề về môi trường sinh thái Nam Bộ (2022), Đọc thơ bạn – Thú thưởng ngoạn văn chương (2023), Già ham sách – Mơ giấc mơ chữ nghĩa (2023).

















