Dạy văn – đôi điều suy ngẫm

VHSG- Với tôi và thế hệ chúng tôi, môn Văn cùng với môn Toán đã ăn sâu vào tiềm thức. Ở Quảng Bình, giai đoạn 1970 – 1980, mọi người truyền nhau câu “văn Cán, toán Trình”, nghĩa là dạy văn hay như thầy Cán, dạy toán giỏi như thầy Trình. Học sinh nào được học văn với thầy Lương Duy Cán (bút danh Hà Nhật) xem như là một hồng phúc. Những thầy dạy văn có tiếng như thầy Cán thường có lực hấp dẫn đặc biệt. Học sinh không chỉ say mê khi nghe thầy giảng mà còn ngưỡng mộ cách sống phóng khoáng, phong thái ung dung, tâm hồn lãng mạn của thầy. Một số học sinh của thầy Lương Duy Cán sau này trở thành những nhà thơ tên tuổi như Lâm Thị Mỹ Dạ, Hải Kỳ, Ngô Minh… vẫn nhắc đến thầy với sự trân trọng và ngưỡng mộ.

Nhà thơ – nhà giáo Mai Văn Hoan

Hiện nay, ở bậc phổ thông rất khó tìm thấy những thầy dạy văn hay có lực hấp dẫn đặc biệt như thầy Cán và rất hiếm những học sinh say mê môn Văn như Lâm Thị Mỹ Dạ, Hải Kỳ, Ngô Minh… Thậm chí rất nhiều học sinh còn tỏ thái độ thờ ơ, lạnh nhạt, chán ghét môn Văn. Có nhiều nguyên nhân, ở đây tôi chỉ nêu một trong những nguyên nhân dẫn đến môn Văn không còn được học sinh như thời chúng tôi còn là những học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường. Dạy văn là dạy cái hay, cái đẹp; là truyền cái hay cái đẹp của văn chương cho học sinh. Tôi không biết vì lý do gì và do ai đề xướng mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đổi tên môn Văn thành môn Ngữ Văn. Thêm “ngữ” vào trước “văn” là vô tình thu hẹp đặc trưng, chức năng và lợi thế của môn Văn. Cách ghép từ trong tiếng Việt có khác với tiếng Trung (Trung Hoa). Nếu ghép đẳng lập thì từ quan trọng hơn thường đứng trước: nếu ghép chính phụ thì từ chính luôn đứng trước (chẳng hạn ta vẫn gọi hoa đào, còn người Trung Quốc gọi ngược lại đào hoa). Việc đặt chữ “ngữ” đứng trước chữ “văn” dẫn đến cái định hướng sai lầm là coi trọng dạy ngữ hơn dạy văn. Thực ra trong văn đã có ngữ. Xu hướng biến những giờ dạy văn thành dạy từ ngữ đã góp phần giết chết môn Văn. Trước khi nghỉ hưu (2009), tôi từng dự một số giờ dạy văn theo phương pháp mới, thấy phần lớn thầy cô chủ yếu phân tích từ ngữ, rất ít chú trọng khai thác chất văn. Tác phẩm văn chương bị băm nát bởi một loạt câu hỏi vụn vặt. Chẳng hạn dạy bài “Mời trầu” của Hồ Xuân Hương, có giáo viên đặt các câu hỏi: “Miếng trầu hôi” là miếng trầu thế nào? Em hãy giải thích nghĩa của từ “quệt”! Vì sao “Có phải duyên nhau thì thắm lại”? Ở câu cuối tác giả sử dụng biện pháp tu từ gì? Hãy nêu tác dụng của biện phát tu từ ấy? Học sinh trả lời ê a,ngắc ngứ, loanh quanh, chẳng còn thời gian để giáo viên bình giảng cái hay cái đẹp, cái ẩn ý sâu xa của bài thơ. Giờ học văn trôi qua một cách hết sức khô khan, tẻ nhạt. Dạy văn như vậy mà học sinh không chán môn Văn mới lạ!  Cũng bài thơ này, trước đây tôi từng nghe thầy Nguyễn Trung Hiếu (Khoa văn, Đại học sư phạm Vinh) bình giảng rất hay. Thầy đưa dị bản bài thơ “Mời trầu” để sinh viên so sánh “mới quệt rồi” và “đã quệt rồi”. Sinh viên có những cách trả lời khác nhau. Thầy trình bày cách lý giải của mình. Thầy không đồng tình với việc cho rằng Xuân Hương “mời trầu” sao cho hấp dẫn khách như bao cô gái bình thường khác. Nghĩa là bà không hề che giấu cái thân phận hẩm hiu của mình: “quả cau” thì “nho nhỏ”, “miếng trầu” thì “hôi” và “đã quệt rồi” chứ không phải  “mới quệt”…  Giờ giảng nhờ thế mà hết sức sôi nổi, sinh động. Xu hướng biến giờ dạy văn thành giờ phân tích từ ngữ sẽ còn dẫn đến một số hệ lụy khác. Vì vậy, tôi khẩn thiết đề nghị với Bộ Giáo dục và Đào tạo nên trả lại tên cho bộ môn Văn. Người ta thường gọi thầy cô dạy Văn, rất ít người gọi thầy cô dạy Ngữ Văn.

Tôi cũng hết sức ngạc nhiên với cái chủ trương “lấy học sinh làm trung tâm” của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ô hay, đi dạy mà không lấy “học sinh làm trung tâm” thì chẳng lẽ lấy cái bảng làm trung tâm?! Nhà trường đâu chỉ có học sinh, trong nhà trường việc dạy và học đều phải được đặt lên hàng đầu. Quá chú trọng học sinh mà coi nhẹ vai trò của thầy cô giáo cũng là một sai lầm hết sức nghiêm trọng. Tôi đồng tình với việc trong quá trình giảng dạy phải “phát huy tính chủ động tích cực, năng lực sáng tạo của học sinh”, nhưng tôi không đồng tình với việc xem giáo viên chỉ quan sát, hướng dẫn, uốn nắn… nhất là đối với những giờ dạy văn. Không ít giáo viên lợi dụng điều này để biến giờ dạy văn thành một buổi thi vấn đáp không hơn không kém. Thầy cô chỉ  nêu câu hỏi và làm trọng tài phân xử. Đối với các bộ môn khác dạy như thế là tốt, nhưng môn Văn vốn có đặc thù riêng. Thầy cô giáo dạy văn chẳng khác gì những nghệ sĩ trên sân khấu. Câu hỏi trong giờ dạy Văn phải là những câu hỏi khơi gợi óc phán đoán chứ không phải những câu hỏi kiểm tra kiến thức thông thường. Khi day về tiểu sử nhà thơ Tố Hữu, từng có giáo viên đặt câu hỏi như sau: Em nào biết Nhà thơ Tố Hữu sinh năm nào? Quê quán ở đâu? Ông giữ những chức vụ quan trọng gì? Ông xuất bản được mấy tác phẩm, gồm những tác phẩm nào? Học sinh chỉ cần nhìn vào sách giáo khoa và trả lời như con vẹt. Thậm chí, đề thi tốt nghiệp phổ thông cũng có những câu hỏi tương tự như vậy. Lẽ ra, với phần tiểu sử Nhà thơ Tố Hữu chỉ cần tóm lược nội dung được trình bày trong sách giáo khoa, rồi nêu một câu hỏi: Qua đó, em thấy Tố Hữu là người thế nào, để học sinh tự mình tìm câu trả lời. Thầy giáo dành ít phút kể vắn tắt vài giai thoại về nhà thơ (như xuất xứ bút danh Tố Hữu, Bác Hồ nhận xét thơ Tố Hữu…), sẽ làm cho giờ giảng tăng phần hấp dẫn, gây được hứng thú cho học sinh. Thầy cô giáo dạy Văn phải có tài ăn nói. Khi dạy, thầy cô dạy văn  không chỉ đọc và nói diễn cảm “lên bỏng, xuống trầm”, “nhả ngọc, phun châu” mà “nói” bằng cả ánh mắt, bộ điệu, cử chỉ. Những lời thuyết giảng hay của thầy cô không chỉ thu hút sự chú ý của học sinh mà còn khắc sâu vào trí nhớ, trở thành hành trang theo suốt cuộc đời các em. Mới đây, trong buổi Hội ngộ các lớp Chuyên Văn thời Bình Trị Thiên, có em học sinh cũ đã nhắc lại gần như trọn vẹn lời bình giảng của tôi khi dạy bài “Thương vợ” của Trần Tế Xương: “Nhiều người cho là tác giả mượn lời bà Tú để chửi đời. Thầy không nghĩ như vậy. Theo thầy, Trần Tế  Xương không chỉ thương cái vất vả, lam lũ của bà Tú “lặn lội thân cò”, “eo sèo mặt nước”… mà còn thương sự hụt hẫng trong đời sống tình cảm của bà. Phải thành thật đến mức nào, phải hiểu nỗi niềm bà Tú đến mức nào nhà thơ mới hạ được hai câu độc chiêu như vậy. Sức nặng của bài thơ dồn nén ở hai câu kết này. Với bà Tú, mọi vất vả khó khăn trong việc buôn bán làm ăn bà đều chấp nhận. Cả việc nuôi con, nuôi chồng bà cũng “âu đành phận”. Điều mà nhà thơ ân hận nhất, day dứt nhất, cắn rứt lương tâm nhất phải chăng là ông tự thấy có khi, có lúc mình quả “hờ hững” với bà Tú, “hờ hững” với người đang “lặn lội thân cò”, “eo sèo mặt nước” để nuôi con, để nuôi cả chính mình. Cái “hờ hững” ấy quả thật là đáng trách. Nhà thơ hiểu rằng cái sự “hờ hững” ấy của ông đã làm cho bà Tú phải bao đêm trằn trọc, thao thức, đau khổ…“Có chồng hờ hững cũng như không” đâu chỉ là tiếng lòng của bà Tú mà đó cũng là tiếng lòng của tất cả những người phụ nữ có chồng trên thế gian này”. Tôi xem đó là món quà vô giá trong quãng đời 40 năm dạy văn của mình.

Dạy được một giờ văn hay phụ thuộc rất nhiều yếu tố. Một trong những yếu tố theo tôi hết sức quan trọng là tạo được sự đồng cảm giữa thầy và trò. Nhưng để tạo được sự đồng cảm giữa thầy và trò trong giờ dạy Văn không hề dễ. Hơn bất cứ thầy cô dạy bộ môn nào, thầy cô dạy văn phải nắm được tâm sinh lý, hoàn cảnh, giới tính… của học sinh lớp mình giảng dạy. Phải tìm cách “gãi đúng chỗ ngứa” của các em, phải gần gũi, tiếp xúc với các em trong cuộc sống thường ngày. Thầy cô dạy văn không chỉ dạy trên lớp mà còn dạy ngoài giờ. Những chuyến đi dã ngoại với học sinh đối với thầy cô dạy văn rất bổ ích. Nhờ những cuộc đi dã ngoại với các em lên đồi Thiên An,  núi Bạch Mã,  đèo Hải Vân, chùa Túy Vân, biển Thuận An… mà tôi gần gữi các em hơn, các em cũng cảm mến tôi hơn. Những giờ dạy của tôi nhờ thế mà được tạo được sự đồng cảm dễ dàng. Còn nhớ, thời tôi mới vào Huế dạy (1979), trong lớp tôi dạy có em LDT gương mặt rất khả ái nhưng có vẻ lạnh lung. Tìm hiểu, tôi được biết bố em là sĩ quan trong quân đội VNCH vừa đi cải tạo về. Tôi hạ quyết tâm phải giúp LDT xóa bỏ mặc cảm. Có một số tiết dạy, tôi kín đáo tâm sự với riêng em thông qua những tác phẩm văn học giàu tính nhân văn như “Truyện Kiều”, “Chinh phụ ngâm”, “Chiến tranh và hòa bình”… Một thời gian không lâu, LDT đã bớt mặc cảm, sống chan hòa cùng các bạn trong lớp hơn.

Với tôi, hạnh phúc nhất là được nhiều thế hệ học sinh yêu thích một số giờ giảng văn tâm huyết  về thơ Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử….  Đặc biệt là Nguyễn Du và “Truyện Kiều”! Tôi say “Truyện Kiều” từ khi còn là một học sinh phổ thông. Lên đại học, những giờ giảng về Nguyễn Du và “Truyện Kiều” rất hay của thầy giáo Lê Kinh Khiên (khoa Văn, Đại học Sư phạm Vinh) khiến tôi không thể nào quên. Mỗi khi lên lớp dạy Nguyễn Du và “Truyện Kiều” tôi say sưa truyền đạt cho học sinh những điều tôi tâm đắc. Còn nhớ thời ở trường Sư phạm 10+3 Quảng Bình, tôi may mắn gặp được một lứa sinh viên rất đỗi tài hoa, Mặc dù lúc đó lớp học chỉ là mái tranh vách đất, ăn toàn bo bo với canh “toàn quốc” (toàn nước) nhưng các em học hành rất chăm chỉ. Cứ mỗi lần giảng đến đoạn nàng Kiều bị Mã Giám Sinh làm nhục là tôi không sao cầm được nước mắt. Các thế hệ  sinh viên Trường Sư phạm 10+3 Quảng Binh (nay là trường Đại học Quảng Bình) vẫn chép truyền nhau bài thơ “Nghe thầy giảng Kiều” của Lê Thanh Hải viết tặng tôi: Giờ học sáng nay thầy giảng Truyện Kiều/ Thầy đã khóc và chúng em đã khóc/ Thầy nghẹn ngào đọc trong tiếng nức/ Đất trời, cây cỏ rưng rưng…

Để trở thành thầy giáo dạy văn hay thầy cô giáo phải có lòng yêu nghề, lòng say mê, khả năng cảm thụ, truyền thụ, và phải có cả môi trường giáo dục thật thông thoáng nữa. Cha ông nói “không thầy đố mày làm nên”. Điều đó đặc biệt đúng với bộ môn Văn. Muốn chấn hưng bộ môn Văn, lãnh đạo ngành Giáo dục phải tạo điều kiện cho các thầy cô dạy đúng với đặc trưng bộ môn, vận dụng linh hoạt phương pháp giảng dạy, không rập khuôn, máy móc, không biến những giờ dạy văn thành những giờ dạy đạo đức hay dạy từ ngữ một cách giáo điều, khô khan, cứng nhắc.

MAI VĂN HOAN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *