Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 3

Nhà văn Vũ Xuân Tửu

Chương bốn

Mổ trâu khao quân

 

1.

Hoàn khỏe lại, muốn lên động Hoa Lư, nhưng Đàm thị không nghe.

– Mới cảm nhập tâm, chân lông chân da còn chưa liền, đi lạnh, gặp gió thì khốn. Nghe bu, có kiêng có lành.

Chợt có tiếng người lao xao ngoài ngõ, Hoàn nhìn ra, thấy một thanh niên, dáng quen quen. Người đó mau mắn lên tiếng, ới vào:

– Hoàn à, Tú đây! Trịnh Tú đây mà!

– A, Tú! Cánh Đại Hoàng ta chứ đâu xa?

Hoàn hồ hởi bước vội ra đón khách.

– Tưởng làm Động chủ rồi, thì quên anh em bằng hữu? – Tú nheo mắt cười cười, đùa cợt.

Hoàn nghe vậy, bàng hoàng chào lại, nói câu thanh minh:

– Tôi là kẻ mục đồng, ăn lộc của chú, đi chăn trâu thôi mà, đâu dám mạo xưng động chủ động chiếc gì.

Tú nghe vậy thì nở nụ cười, rạng ngời gương mặt. Cả hai cùng vào nhà, phân ngôi chủ khách, ngồi trên tràng kỷ, trò chuyện.

– Tôi nghe thầy học kể, Ngô Quyền đã giết Kiều Công Tiễn, báo thù cho nhạc phụ Dương Đình Nghệ rồi. Cũng vào năm Mậu Tuất (938), lại đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Các tướng Phạm Bạch Hổ, Dương Tam Kha lập công lớn lắm, – Tú nhấp chén trà núi, cảm thấy vị đăng đắng, ngòn ngọt trong miệng, lấy làm hài lòng.

– Quả tình, tôi ở Thung Lau, cũng có nghe đồn, nhưng không tỏ tường cho lắm, – Hoàn đưa đẩy. – Hồi theo phụ thân ra Châu Ái, tôi được gặp Ngô Thứ sử và cũng nghe danh các tướng Bạch Hổ, Tam Kha, Cảnh Thạc, Kiều Thuận, với lại Kiều Hãn…

– Họ đều là anh hùng cả, – Tú đáp. – Hổ thì được phong chức Phòng át, trấn giữ cõi Hải Đông(1), nên từ đó, gọi là Phạm Phòng Át. Tam Kha là em ruột của Dương Hậu, từng chém Hoằng Thao trong trận Bạch Đằng đó… Động chủ nên cầu thân với họ, thêm vây cánh, mới mưu đại sự được.

– Tôi chỉ có đám mục đồng, chăn trâu là chính. Thỉnh thoảng cũng bày trò đánh trận giả cho vui mà thôi, chứ có ý gì đâu? – Hoàn chưa biết bụng dạ Tú thế nào, nên không dám vồ vập.

– Tôi nghe nói, giời đã giao Ngọc khuê cho Động chủ, ắt không thể không linh ứng. Lại nghe, trẻ mục đồng, toàn là thanh, thiếu niên tuấn tú đổ về, khác nào tụ nghĩa dưới Cờ Lau. Nếu chần chừ, không ra tay sớm, thì e hỏng ăn, khác nào quả chín nẫu, cơm quá lửa, gái quá thì, – Tú cũng dãi bày tình thực, cốt để Hoàn khỏi nghi hoặc. – Tôi cũng muốn lên trên ấy, cầm thừng trâu một chuyến xem sao?

– Được thế thì còn gì bằng, ngang giời giúp vậy. – Chợt Hoàn phân vân, – nhưng e, bỏ theo cánh chúng tôi, thì phí. Mai sau, bằng hữu còn giúp triều đình Cổ Loa, chứ tình thực, động Hoa Lư là chốn hoang vu, mà Cờ Lau thì còn trứng nước.

– Với người tài cao học rộng, nhìn cái trứng biết sẽ nở ra rồng, thấy chốn hoang vu đã tính được chỗ định đô ấy chứ, – Tú khoát tay nói. – Còn tôi, kẻ ngu hèn, chỉ mong được cắt cỏ, cầm thừng là phúc lắm rồi. Coi như tôi cũng đầu quân theo bạn đồng tuế đây, – đoạn, Tú vỗ vai Hoàn, cười rổn rảng.

Hôm sau, cả bọn cưỡi ngựa lên Thung Lau. Đàm thị cho đám mục đồng khuân vác theo, nào gạo, nào muối, nào lợn, nào rượu… Thúc Dự gửi cho lão Bộc và hai chú lính mấy phong thuốc lào. Dự thấy cháu đã khôn lớn thì hởi dạ, nghĩ bụng: “Nó cũng bợm ra phế. Đúng là con nhà tông, chẳng giống lông cũng giống cánh”.

2.

Lão Bộc và bọn mục đồng nghe tin động chủ trở lại, thì mừng rỡ, kéo nhau ra ngoài tận

đầm Cút đón rước. Lại thấy một toán gồng gánh đồ ăn thức uống, thì cùng xúm vào đỡ vai. Mấy đứa khiêng lợn đến chân quèn, thì lấy que chọc cho kêu toáng cả lên. Thung Lau náo nhiệt như mở hội.

Hoàn bàn với lão Bộc và bọn Điền, Bặc, Tú làm lễ khao quân. Điền bảo:

– Hàng trăm con người, lại đang sức ăn sức nhớn, mà chỉ nhõn con lợn, thì chả bõ dính răng.

– Thế thì mổ trâu, – Hoàn phơ lên.

– Ấy chết! – Lão Bộc gàn, – không được đâu. Ông Dự đã có ý nhờ lão coi sóc, lại còn gửi cả thuốc lào cho hút đây này. Đấy là chữ” Nghĩa”, chữ “Tín”. Không mổ trâu trộm được đâu!

– Nhưng tôi đã nói rồi, không rút lời được nữa, – Hoàn phân trần. – Vả, cũng hợp lòng quân.

Bọn mục đồng nghe vậy, reo ầm cả lên. Chúng nhảy bổ vào, công kênh Hoàn lên như rước kiệu, chạy một vòng quanh thung. Đàn trâu tưởng bị đuổi bắt, cũng lồng thếch cả lên.

– Mổ trâu khao quân!

– Mổ trâu khao quân!

– Mổ trâu khao quân!

Thấy tình thế như vậy, Bặc lựa ý nói với lão Bộc:

– Thôi, việc đã thế này, không cản được nữa, tùy cơ biến báo thôi. Mà bầy trâu cũng đông đàn dài lũ bao nhiêu rồi, ông Dự cũng chẳng hay đâu.

– Ông Dự giao cho lão vào sổ, báo về hằng tháng, chứ bỡn à? – lão Bộc vẫn không chuyển ý. – Vả, một người thì kín, chín người thì hở, chỉ nội nhật ngày mai là chuyện mổ trâu khao quân sẽ đồn ịch cả Đại Hoàng cho mà xem.

Cực chẳng đã, hai chú lính phải rủ lão Bộc sang làng Vân Lung chơi, có ý lánh mặt, tránh phiền hà khi hào trưởng kiểm trâu. Bọn Hoàn cũng cho là phải. Thế là đám mục đồng xông vào, vật con trâu đực hung hãn nhất. Thấy vậy, Tú bảo:

– Hay là, ta làm lễ tế cờ luôn.

– Cờ đâu mà tế? – Điền láu táu hỏi.

– Cắm bông lau làm cờ. Thung Lau ê hề, – Tú khoát tay chỉ lên sườn núi.

– Hỏi Động chủ, xem ý thế nào đã? – Bặc tỏ ra thận trọng.

– Anh em thấy phải thì làm, – Hoàn tỏ ra dễ dãi. – Từ nay, chúng ta là anh em một nhà.

Bặc sai bọn mục đồng, chặt cây tre to, chôn giữa thung lũng. Những bông lau tết lại như dải phướn, treo lên ngọn cột tre làm lá cờ; mấy giàn phóng lao, ném đá, hất cầu lửa cũng được bày đặt nghếu nghện giữa thung. Bặc lại bảo Điền đốc thúc mục đồng bày lễ tế. Đầu trâu đặt giữa nong với cặp sừng vênh lên ngạo nghễ. Thủ lợn ngậm đuôi có phủ lá mỡ chài, đặt trên nia. Gà trống luộc cả con, ngậm bông hoa rừng, đặt trên mẹt. Xung quanh bày la liệt thịt trâu luộc, thịt lợn nướng, rượu đong đầy ống trúc, đặt khắp nơi.

Lễ tế bày đặt xong, bọn mục đồng, đứa cầm giáo hóp, đứa vác đao, đeo cung, đứng vòng quanh cột cờ. Bặc cầm tù và, thổi ba hồi dài, vang động Thung Lau. Tức thì, ngoài quèn, đám quân khua chiêng, trống, mõ, sáo trúc cùng tấu lên rộn ràng, trẩy xuống thung. Đi đầu là viên tướng mặc áo giáp trụ, cưỡi trâu đầu đàn, nom rất uy nghi lẫm liệt. Thoạt nhìn, bọn mục đồng không biết là ai, đến khi Bặc bắc loa tay, hô to:

– Chủ tướng vạn tuế!

Cả bọn hô theo ầm ầm như sấm động.

Đến lúc này, đám rước tới gần, chúng mới nhận ra Đinh Hoàn, bèn reo ầm lên, chạy a cả lại, trầm trồ thán phục. Hoàn khoát tay ra hiệu trật tự, rồi đứng trên mình trâu, dõng dọc nói:

– Bộ giáp trụ này, phụ thân ta để lại và dặn, chỉ khi nào có việc trọng đại mới được dùng. Nay theo ý anh em làm lễ tế cờ. Ta thấy dịp may hiếm có, nên cùng anh em chư tướng làm lễ tế cờ.

Cả bọn lại reo hò ầm ĩ.

Bặc trịnh trọng hô to:

– Mời chủ tướng lên làm chủ lễ tế cờ!

Hoàn nhảy xuống đất, chắp tay trước ngực, đi vòng quanh cột cờ chào anh em mục đồng. Đoạn, hướng mặt phương nam, vái cờ lau, cất giọng vỡ tiếng:

– Anh em ta là con một nhà. Bấy lâu luyện quân vất vả. Nay ta tế cờ, mở tiệc khao quân. Thề rằng, đồng cam cộng khổ, khó nhọc cùng lăn xả vào, phú quý cùng chung hưởng.

Hoàn quỳ xuống, cả bọn quỳ theo. Hoàn ngoái nhìn, thấy con trâu đầu đàn quỳ xuống, cả đàn trâu trong thung cũng quỳ theo; thảo nào, Bặc bảo, nó hiểu được tiếng người. Đoạn,  Hoàn đứng dậy, cả trâu và người cùng lục tục đứng theo. Hoàn cầm chén rượu giơ cao, bọn mục đồng nhất loạt cùng giơ ống trúc rượu, nhìn nhau mời chào hoan hỷ. Thế rồi, đám mục đồng như trâu phá đỗ, bò ăn mạ, hàng trăm hàm răng nhuộm đen cùng xô vào ăn uống, hò reo vui vẻ. Đàn trâu cũng được ăn những bó cỏ tươi, cùng nhe răng trắng nhởn ra cười.

Biết Hoàn khoái món tiết canh lòng lợn, nên ai cũng có ý mời. Hoàn ăn mấy bát liền, cảm thấy mát lòng, hởi dạ, lại uống thêm mấy bát rượu nữa. Cuộc vui kéo dài, tưởng như bất tận. Trò chọi trâu được khơi ra, mua vui, không con nào thắng được trâu đầu đàn. Tiếng sừng va chạm côm cốp. Tiếng chân đuổi nhau huỳnh huỵch. Tiếng reo hồ vổ vũ ầm ĩ. Hết trâu chọi lại đến trò vật nhau, Điền vô địch. Trời tối mà chúng còn hăng rượu, đốt đống lửa trại, vật nhau chán, rồi ôm nhau ngủ trong thung.

*

Yên Khê đang vấn khăn độn tóc, nghe tiếng vó ngựa vào sân, vội lật đật chạy ra, báo Thúc Dự:

– Tôi nghe, bọn thằng Hoàn khao quân, to lắm.

– Phải, bác Đàm cho chúng gà, lợn mà, – Dự điềm nhiên, vắt cương lên lưng ngựa và toan nhảy xuống.

– Nó mổ cả trâu đấy, ông ạ! Ăn uống suốt ngày hôm qua, – Yên Khê vấn khăn độn tóc một vòng quanh đầu. – Không biết nó mổ mấy con?

Nghe vậy, Dự thất sắc, vội cầm cương, ra roi, nhằm hướng Thung Lau, phi nước đại.

 

Bọn trẻ gác trên đỉnh quèn không biết Dự là ai, cản lại. Dự bực mình, vung roi quất túi bụi, rồi xông thẳng đến trước lán đại bản doanh của Hoàn, quát to:

– Thằng Hoàn đâu?

Hoàn đã nhìn thấy chú từ lúc trên đỉnh quèn, vội bảo bọn lão Bộc, hai chú lính và anh em tâm phúc lánh mặt. Xem chừng, chú giận lắm, hẳn vì chuyện mổ trâu đây, lão Bộc nói đúng thật, chỉ hôm trước hôm sau là cả làng cùng tỏ.

– Chú gọi cháu đấy ạ! – Hoàn lễ phép thưa.

– To gan, ai cho phép mổ trâu của tao, để khao quân của mày?

– Không phải mổ trâu đâu ạ, mà do hổ bắt, tha vào hang núi rồi.

Bỗng con ngựa hí lên, tế hai chân trước, khiến Dự tưởng có hổ thật, vội nhảy xuống, hỏi dồn:

– Đâu? Hang đâu?

Hoàn chỉ cái đuôi trâu còn phất phơ trong kẽ đá. Dự tưởng thật, rón rén dò từng bước tới, khẽ cầm cái đuôi trâu giật thử, không thấy động tĩnh gì, bèn xuống tấn, hai tay cầm đuôi trâu rút thật lực và hô to:

– Bay đâu, đến đây giúp ta một tay!

Bỗng cái duôi trâu đứt phựt, khiến Dự ngã bổ chửng, đầu va vào tảng đá, đau điếng. Bọn trẻ nấp trong thung, thấy vậy, cười ầm cả lên. Dự tức, lồm cồm bò dậy, cầm đuôi trâu, xem lại chỗ đứt, thì thấy rõ rành rành là vết dao chặt nham nhở. Biết là bị lừa, Dự đuổi đánh. Hoàn cuống lên, chạy quanh thung. Dự nhảy lên ngựa, như muốn giẫm bẹp thằng cháu dối trá. Bọn Bặc phải ra sức cản, Hoàn thừa cơ, nhảy lên lưng ngựa hồng của mình, thoát ra ngoài quèn, chạy xuôi bờ sông Đại Hoàng. Dự đuổi rát, đến ngã ba sông, định sang thì không có đò, chợt thấy bà lão bán hàng, Hoàn vội hỏi:

– Đây là đâu?

Bà lão không nói, trỏ tay lên phía thượng lưu. Hoàn bực, mắng:

– Gián khẩu!(2)

Hoàn ra roi, ngựa dựng bờm phi ngược lên, thấy có cây cầu, liền lao qua, thì sẩy chân, ngã lăn xuống bùn. Dự đuổi đến nơi, rút kiếm ra toan chém, bỗng thấy có con Rồng vàng nổi lên, cõng Hoàn qua sông. Dự thất kinh, vội nhảy xuống ngựa, cắm gươm, quỳ phục xuống lạy:

– Chú là người trần mắt thịt, không may phạm đến long thể, xin được tha mạng!

Về sau, sông Đại Hoàng được gọi là Hoàng Long, để nhớ tích rồng vàng cõng Hoàn qua sông. Đám ruộng chỗ Dự cắm kiếm lậy cháu, gọi là Kiếm Điền(3). Quả núi mọc lên cạnh đó, gọi là Kiếp Lĩnh, hay núi Cắm Gươm(4), cũng là núi Chú Phục Lạy Cháu. Bến sông rồng đỗ, gọi là bến đò Long Độ(5).

*

 – Thôi, giời chẳng chịu đất, thì đất phải chịu giời, ông ạ! – Yên Khê thẽ thọt với chồng.

– Nó là người giời đấy! – Dự vẫn còn thảng thốt.

Nghe Yên Khê cười khảy, Dự mới kể lại sự tình mà mình thực mục sở thị. Yên Khê há hốc mồm, kinh hãi.

– Hay là, bàn với bác Đàm, lấy vợ cho nó, cột nó vào như trâu sấn sẹo ấy mà. Năm nay, nó mười sáu, nam thập lục là lấy vợ được rồi. – Yên Khê vừa bày kế đàn bà, vừa phủi gàu trên vai áo chồng, – cái giống này, phải gội bồ kết mới sạch.

3.

Hai anh em ruổi ngựa sang Thung Lá, xem thằng mục đồng phi trâu bị ngã gãy chân và mấy thằng gây sự đánh nhau sứt đầu mẻ trán, đang được bà lang chữa chạy ra sao. Lúc qua bờ đầm Cút, hai ngựa song đôi, Điền bảo:

– Chú thỉnh thoảng cũng phải đáo về làng với thím ấy chứ?

– Tôi không xa anh em được. – Hoàn lưỡng lự, – hay là, ta đưa lên đây cho tiện.

– Ấy, không được đâu. Đàn bà trong quân là bất tiện lắm, – Điền vội can.

– Nhìn đi ngó lại, toàn chỗ anh em, bà con cả, no đói có nhau, – Hoàn vô tư nói.

– Toàn bọn mục đồng mới lớn, đang háu gái. Tự dưng mang mỡ đến miệng mèo, rồi mất công đi canh chừng à?

Nghe vậy, Hoàn phá lên cười. Điền cũng cười theo. Tiếng cười sảng khoái của hai anh em vang động cả núi rừng, khiễn lũ chim giật mình bay táo tác, mấy con thú hoang cũng chồm vội vào bụi cây, náu mình.

Qua dốc Thung Lá, Điền thúc ngựa đi trước, Hoàn lững thững cho ngựa đi bước một, bụng nghĩ, vướng vào đàn bà, có khi lại hỏng việc lớn không chừng, nhưng cũng có cái hay hay… Hoàn mỉm cười thú vị, nhưng chợt nghĩ đến đôi song kiếm treo cổ ngựa đá, cảm thấy bồn chồn trong dạ.

Trong Thung Lá có một bà già, y như thể từ cõi tiên giáng xuống, chạy chữa cho bọn mục đồng, mỗi khi ốm đau, hay bị thương tích. Chúng còn trẻ, lại vào nơi lam sơn chướng khí, làm gì chẳng dễ đau ốm, rồi lại hiếu động cưỡi trâu đánh lồng thếch lên, hoặc leo núi, lội đầm, trèo cây, đủ trò.

Hoàn dừng ngựa dưới chân núi Nguyệt, ngắm nhìn dãy núi bao bọc quanh thung, nom như dáng rồng chầu, hổ phục. Cả năm ngọn núi sừng sững, uy nghi, tạo cho Thung Lá làm nơi trú quân dưỡng bệnh an toàn, lại liền kề Thung Lau, nên tiện lợi mọi đường.

Hoàn thăm bọn ốm và đứa ngã trâu. Bọn chúng thấy chủ tướng đến, thì tỉnh như sáo, chuyện rối tinh cả lên. Đứa nào cũng thích lễ khao quân. Hoàn cười cười, nhớ trận chú đuổi chí chết. Đoạn, cùng Điền gặp bà lang, tính chuyện hái thuốc và trồng cây dược liệu. Bà lang cũng đã trồng một vườn, coi như thuốc tươi trữ sẵn, phòng khi có biến.

*

Trong bản doanh, Tú và Bặc ngồi đối ẩm, bằng thứ chè núi. Tú chẹp miệng thưởng thức vị chè, rồi nói:

– Năm nay, Kỷ Hợi (939), xứ Tĩnh Hải Quân ta có hai việc trọng đại: nhất là, Ngô Quyền xưng vương, gọi là Ngô vương; nhị là, Động chủ Đinh Hoàn cưới vợ.

Bặc bảo:

– Đỗ Cảnh Thạc là người Hán răng trắng, lại được Ngô vương phong chức Chỉ huy sứ.

Tú lại nói:

– Kể cũng đáng gờm. Phải bảo Chủ tướng kíp cầu thân với Cổ Loa. Chả gì, phụ thân Chủ tướng cũng từng dưới trướng Dương Đình Nghệ, mà Chủ tướng cũng bầu bạn với Ngô Vương, thuở hàn vi, thế nào chẳng được thu nạp.

– Làm vương làm tướng gì gì, thì cũng phải vây cánh. Vây cánh là lực lượng. Đến với Ngô Vương là phải chịu dưới trướng chỉ huy của họ Đỗ, – Tú nói.

– Nghe nói, có người phải luồn háng thằng hàng thịt(6), để mưu nghiệp lớn thì đã sao, – Bặc thở dài, chép miệng.

4.

Điền phóng ngựa như bay vào Thung Lau, hét toáng lên:

–  Chủ tướng sinh con giai rồi!

Cả đám mục đồng, từ các lán trại cùng ùa ra, reo mừng. Hoàn lật đật đỡ anh xuống ngựa.

– Mấy giờ? – Hoàn khẽ hỏi.

– Đây, bu đã viết vào đây, – Điền chiềng cánh tay ra. – Sợ tôi quên. Bu bảo, nhờ lão Bộc lập lá số cho đích tôn.

Bặc bước ra, cùng kêu to:

– Giai Canh Tý (940) là sang. Tên gì nào?

– Liễn, – chợt nhìn thấy cái liễn đựng cơm nóng, Hoàn bèn thốt lên như vậy. – Đặt tên Liễn, vừa no nê cơm sốt, lại suốt ngày được bưng bê.

– Đinh Liễn! – Lão Bộc bấm đốt ngón tay, lẩm bẩm, – cũng số quân vương chứ chẳng bỡn.

– Thật là hổ phụ sinh hổ tử, – Bặc vui ra mặt. – Mừng cho bằng hữu, – liễn, còn có nghĩa là đồ quý, được tôn thờ..

– Nhà tôi có treo đôi liễn, bằng gỗ quý, các cụ để lại mấy đời rồi, – Tú cũng góp lời.

– Phải, cũng có nghĩa là đôi mảnh vải, đôi tờ giấy, đôi ván gỗ, để các cụ viết câu đối.

Quý lắm, – lão Bộc nắc nỏm.

Chiều đó, Hoàn phóng ngựa về làng. Thế là ta đã thành bố trẻ con. Ngọc khuê, cốt táng hàm Thạch mã, Đinh Liễn nữa là ba thứ báu vật của ta. Mai ngày, xông pha trận mạc, có mệnh hệ gì thì cũng đã có chỗ chống gậy, mà là gậy tre hẳn hoi. Mới năm kia, cũng con đường này, ta chạy trốn chú Dự. Năm nay, cũng con đường này, ta về thăm con đỏ. Một cuộc chạy trốn mạng treo sợi tóc, cùng một chuyến thăm nhà thư thái như bay. Đời người, qua cơn bĩ cực lại thái lai, rồi lại… Sao mà chú dữ như hổ, chỉ vì tiếc một con trâu mà vung gươm lên toan hại cháu, may có rồng vàng cứu nạn. Nhưng cũng tại ta, không xin chú trước, lại còn nói dối, đùa nhả, làm chú ngã suýt vỡ đầu. Nghĩ vậy, Hoàn cười trừ, ra roi…

Vậy là, bọc hài cốt táng mõm ngựa đá dưới lòng sông hẳn đã linh nghiệm rồi. Chẳng thế mà lúc nguy cấp, lại xuất hiện Rồng vàng nổi lên, đón ta qua sông? Chỉ riêng hai cái chuyện Ngọc khuê, với lời phán sãi chùa và Rồng vàng cõng qua sông cứu nạn, đã cho ta thấy mệnh lớn rồi. Nay lại sinh con giai nữa, tốt số, kế nghiệp, quả là giời cho.

Qua chân núi Kỳ Lân, Hoàn bái vọng lên hõm núi hình ngai vua khổng lồ. Mai ngày phát tích, phải trọng chốn này. Bây giờ, phải tính đầu quân dưới trướng Ngô Vương, để có chỗ dựa chính danh, rồi luyện quân chỉnh tướng cái đã.

Mái nhà tranh trên gò Bồ Đề đã hiện ra ngay trước mặt. Tiếng trẻ khóc oe oe vọng ra, như lời con thơ chào bố trẻ, khiến Hoàn xốn xang trong lòng. Về sau, vợ sinh thêm hai cô con gái nữa là ba năm đôi, nhưng Hoàn không có niềm vui như đón con đầu lòng.

 5.

Vào năm Kỷ Hợi (939), Ngô Quyền lên ngôi. Năm sau, cho vời con giai bằng hữu Đinh Công Trứ là Đinh Hoàn làm Nhiếp chính thứ sử, Ngự phiên đô đốc.

Thời gian học việc quan của Hoàn, chỉ được dăm năm, đến khi Ngô Vương băng hà vào năm Giáp Thìn (944), Dương Tam Kha cướp ngôi của cháu là Ngô Xương Ngập, thì Hoàn mất chỗ dựa, lại về quê. Nhưng chỉ ngần ấy năm cũng đủ làm vẻ vang thêm danh tiếng Hoàn. Như con chim bằng tung cánh, Hoàn ngao du khắp vùng Châu Hoan, Châu Ái, ra tận Đại La, Phong Châu, Bố Hải Khẩu(7), Hải Đông… Không đâu là Hoàn không đặt chân, kết bạn, học việc làm quan.

Ở đâu, Hoàn cũng thấy các quan được ăn bổng lộc từ tô thuế qua thực ấp vua ban. Nơi nào nông dân cũng cần cù khai hoang, phá ruộng, lập ấp. Thế thì, ta cũng phải cho bọn mục đồng khai phá quanh vùng Thung Lau để làm ruộng, cấy lúa. Quân phải lam làm, tích trữ lương ăn lúc giáp hạt. Quân cũng xuất thân từ đồng ruộng và sông ngòi trong vùng, nên cũng thích bẫy chẫy chân tay cấy lúa, đánh cá. Rút kinh nghiệm đận trước, bọn trẻ ngại việc bỏ về, nay phải đả thông cho chúng vỡ nhẽ mới được, thực túc binh cường. Cái gì cũng vậy, thông cái đầu, mới nói chuyện động dụng chân tay. Đi một ngày đàng học một sàng khôn là cái sự vậy, các cụ dạy cấm có sai câu nào! Nghĩ vậy, Hoàn loại càng phấn chấn, cho lo công nghiệp của mình.

VŨ XUÂN TỬU

(Còn tiếp)

_________________

(1) nay thuộc vùng Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Ninh.

(2) nay thuộc xã Gia Tân, huyện Gia Viễn; đối diện bên hữu ngạn

thuộc xã Ninh Giang, huyện Hoa Lư, cùng tỉnh Ninh Bình.

(3), (4) nay thuộc xã Gia Tiến, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

(5) nay thuộc xã Gia Thắng, huyện Gia Viễn; bên hữu ngạn sông Hoàng Long

là xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, cùng tỉnh Ninh Bình.

(6) chuyện Hàn Tín (229-196 Tr.CN), thời Hán – Sở tranh hùng, bên Trung Quốc.

(7) nay là tỉnh Thái Bình.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *