Chàng thợ gốm – Truyện dài của Trần Thu Hằng – Kỳ 4

Lý Quý đỡ Hồng lên lưng ngựa Ô. Đoàn người bắt đầu vượt qua dãy núi cao ngất trong cảnh hoàng hôn buông xuống. Họ đi không ngừng nghỉ, vì ở bên kia những sườn núi hoang vu, lãnh địa tăm tối của nữ thần Bóng tối, là một bình minh sáng rạng đang chờ đợi họ. Họ sẽ trở về nơi ấy, sống cuộc sống của những người dân suốt đời yêu thương và gắn bó với quê hương xứ sở.

 

>> Truyện dài của Trần Thu Hằng: Chàng thợ gốm – Kỳ 1

>> Truyện dài của Trần Thu Hằng: Chàng thợ gốm – Kỳ 2

>> Truyện dài của Trần Thu Hằng: Chàng thợ gốm – Kỳ 3

 

KỲ 4: NGƯỜI TRAI ĐẤT VIỆT

 

VIII.

Đúng như lời Lê Hữu nói, chỉ nửa năm sau, từ vùng thượng nguồn Phước Long giang đến tận Phiên Trấn (Hà Tiên), bọn ngụy quân bị quét sạch. Bọn tay sai của ngụy triều, trong đó có Nguyễn Bảo tuy được tha tội chết, nhưng đều bị đày xuống Bạc Liêu, Hà Tiên để phá rừng, lập ấp, ba đời không được ứng thí làm quan.

Lê Hữu được làm quan phủ thay cha. Ông ta cũng tiến cử Lý Quý lên vua Quang Trung, nhằm xin cho chàng có một chức quan. Nhưng Lý Quý vội vàng từ chối. Chàng tình thực tâu với nhà vua rằng chàng xuất thân từ nghề thợ gốm, ước nguyện của chàng là được trở thành người thợ gốm lành nghề, làm nên những đồ dùng đẹp đẽ cho cuộc sống người dân, chứ không thích làm quan. Nghe chàng bày tỏ như vậy, vua Quang Trung đã hết lời ngợi khen và cho phép chàng mở lò gốm ngay trong khu vực hoàng thành.

Khi ấy, vua Quang Trung đang muốn mở rộng bang giao với các nước láng giềng. Vì vậy, thấy đồ gốm của Quý làm ra thật đẹp và độc đáo, vua đã đặt mua để tặng cho sứ thần của các nước. Sứ thần các nước lại mang về dâng lên vua của họ. Nhận được những món quà vừa tinh xảo, vừa trang trọng hiếm có như vậy, vua của các nước láng giềng đã nhận lời giao hảo với Đại Việt. Họ còn ngỏ lời khen ngợi những bộ bình gốm thật đẹp của nghệ nhân nước Đại Việt, và đặt làm thêm các kiểu bình khác. Chẳng bao lâu Lý Quý lại tối mặt tối mũi vào với lò gốm của mình. Chàng cố gắng làm việc, nhưng giờ đây không phải cho riêng gia đình chàng nữa, mà cho cả thể diện của quốc gia. Bất cứ một vật dụng gì, dù chỉ là một quả cầu lửa nhỏ cho đến độc bình tặng cho hoàng đế Trung Hoa, chàng đều để hết tâm trí vào để hoàn thành.

Để ghi nhận công lao của Lý Quý, vua Quang Trung đã đặc cách phong chàng làm Trạng Gốm.

Chiếu chỉ của vua đến vào một buổi sáng, lúc ấy Lý Quý còn đang xoay trần ra, cùng với các thợ phụ nhóm lò cho một mẻ gốm mới. Bây giờ chàng có cả trăm người thợ phụ, với bảy tháp lò cháy rừng rực suốt ngày đêm. Hơi ấm của ngọn lửa lò khiến Quý hăng say làm việc. Khi mọi người biết tin chàng được phong làm Trạng Gốm, ai cũng vui mừng mà đồng thanh lên tiếng:

– Xin chúc mừng vị Trạng nguyên xuất chúng[1] của đất Đồng Nai…

Quý chỉ cười, xua tay mà nói:

– Xin cứ gọi tôi là chàng thợ gốm, kêu bằng Trạng, tôi không quen…

 ***

Một ngày kia, có một người hành khất tìm đến trước ngôi nhà của Trạng Gốm, lấm la lấm lét nhìn vào trong. Thấy người qua kẻ lại quá đông, y sợ quá đứng nép vào gốc cây bên đường, quân hầu cho cơm xong vẫn không đi, đuổi cũng không chịu nhúc nhích. Hồi lâu sau, chính Lý Quý nhìn thấy bảo gia nhân đưa người hành khất vào hỏi chuyện.

Nhà văn Trần Thu Hằng ở Đồng Nai

Bước vào đại sảnh, nơi Quý đang kiểm tra những chiếc bình mới ra lò, bọn gia nhân bắt người hành khất bỏ chiếc nón lá đội sùm sụp trên đầu xuống. Vừa hay chàng ngừng tay để quay ra hỏi chuyện. Thật là không bao giờ ngờ được, ngưòi hành khất kia chính là Lý Trọng.

– Trời! Đúng là anh Trọng rồi. Tại sao anh lại ra nông nỗi này?

– Hu hu hu… Em ơi! Gặp lại em anh cứ ngỡ mình nằm mơ giữa ban ngày. Em ơi! Chiến tranh giặc giã kéo đến, việc làm ăn lụn bại. Anh sống được đến ngày hôm nay cũng là chuyện khó tưởng tượng rồi.

Gặp lại anh qua mấy năm trời xa cách, Quý như quên hết mọi chuyện cũ. Hai anh em mừng mừng tủi tủi, cùng ôm nhau khóc. Sau đó, Quý sai gia nhân lấy quần áo của mình cho anh thay, làm đồ ăn thức uống thật ngon cho anh ăn. Từ đó, Trọng ở lại luôn trong nhà của Quý, chẳng đả động gì đến chuyện sau này ra sao nữa. Thấy Trọng ngang nhiên hưởng thụ, lại còn lên mặt hạnh họe gia nhân, mèo Bạch run cả bốn chân lên, nghiến răng trèo trẹo mà rằng:

– Chướng mắt quá đi thôi. Chướng mắt quá đi thôi. Tại sao trên đời lại có con người lười biếng đê tiện đến chừng ấy. Thật là không thể hiểu nổi, vì sao hai anh em ruột thịt lại khác nhau một trời một vực đến thế…

Chó Mực nhe hai hàm răng trắng nhởn ra, nói với mèo:

– Đêm nay ta sẽ vào tận giường cắn cổ, lôi y tống ra ngoài đường cho bõ ghét. Thế nào hở mèo Bạch? Tuy ta già rồi nhưng chắc chắn là ta vẫn đủ sức làm việc đó một cách gọn gàng đó chứ!

– Xì! – Mèo Bạch nheo nheo mắt tỏ vẻ nghiêm trọng – Tôi chẳng biết anh có đủ sức làm cái việc ấy không, nhưng mà tôi khuyên anh đừng làm cuộc sống thêm rắc rối, không cần thiết. Dù gì thì hắn cũng là anh ruột của chú Quý. Anh em như chân với tay, chú cắn cổ hắn, làm cho hắn sợ nhưng chú Quý sẽ buồn hay vui, anh có hiểu không?

– Grừ… Xem ra anh là chú mèo hơi bị tinh quái đấy. Bây giờ đã là mèo của Trạng nguyên rồi, nên chắc là anh chẳng muốn nhọc lòng tìm lẽ công bằng làm gì, có phải không?

– Tôi chả tranh cãi với anh! Chuyện đâu còn có đó. Người tính không bằng trời tính đâu anh bạn già của tôi ạ.

– Già… hừ… già… Ta già rồi à? Thế đấy! Chó Mực trệu trạo đưa hàm ra rồi ngáp.

Những cuộc trò chuyện giữa chó Mực và mèo Bạch thường kết thúc như thế. Không biết cuộc sống của hai anh em Lý Trọng và Lý Quý sẽ ra sao nếu không có chiếu chỉ của nhà vua, lệnh cho Lý Quý lên đường đi sứ sang Trung Hoa.

Nguyên do là vua nhà Thanh, bấy giờ là Càn Long đang bước vào tuổi bát tuần[2], muốn sửa sang lại hoàng thành của mình ở Bắc Kinh. Việc này cần rất nhiều thợ giỏi. Nghe tin ở Đại Việt có Trạng Gốm rất tài hoa và chăm chỉ, nên ngài đã cho sứ thần sang, xin mượn vị Trạng nguyên này ba năm để giúp phục chế những đồ gốm cổ đã bị hư hại trong hoàng cung.

Biết tin Lý Quý được cử sang Trung Hoa, với một trọng trách đặc biệt như thế, Lý Trọng bàng hoàng như bị đẩy xuống vực núi đá. Chàng ta không ngờ em mình được trọng vọng đến như vậy. Mới ngày nào, Quý còn là một cậu bé đen nhẻm, sợ sệt nhìn cha và anh mỗi lần làm đổ vỡ đồ đạc, vậy mà hôm nay đã là Trạng Nguyên, lại còn được sang Trung Hoa để giúp vua Càn Long những việc khó khăn đến vậy nữa. Rõ ràng là mình tài giỏi hơn nó, mình khéo léo hơn nó; vậy mà tại sao không ai biết đến mình? Phải chăng đứa em trai đáng ghét này đã lấy đi hết may mắn của Trọng rồi. Đúng là thứ khắc tinh của mình đây!

Tuy ghen tức đến tím ruột, bầm gan như vậy, Trọng vẫn ra vẻ mừng vui cho em, và giả vờ bịn rịn khi Quý ngỏ lời chia tay anh. Ý chàng muốn trong ba năm chàng đi vắng, Trọng phải trông coi những lò gốm để công việc không bị đình trệ. Trọng nhận lời ngay, lại còn nói thật to: “Em cứ yên tâm mà ra đi làm việc lớn, anh sẽ dốc hết lòng hết sức thay em tỏ lòng trung thành với đức vua!” Nhưng thực bụng, chàng ta nghĩ : “Thằng em ta chỉ là một thằng thợ gốm vắt mũi chưa sạch mà còn đòi đi sứ à? Quả là trời sập!”

Đến đêm trước ngày Quý lên đường đi sứ, Trọng nói với em:

– Quý à, tuy anh là anh nhưng lại bất tài vô dụng, đã phải ăn bám vào em. Nhưng dù có thế nào đi nữa, anh cũng cầu chúc cho em công thành danh toại, làm tròn phận sự quan trọng nơi xứ người. Anh giờ đây không còn của cải, không sắm được vật gì đáng giá làm quà cho em. Thôi thì để tự tay anh làm một bữa ăn đãi em và bọn ngựa Ô, chó Mực và mèo Bạch. Nếu em có thương anh thì đừng từ chối nhé!

Những lời này làm Quý cảm động rơm rớm nước mắt, nhưng chó Mực nằm gần bậu cửa dỏng tai cảnh giác ngay. Nó khều mèo Bạch đang long nhong chạy trên tấm thảm nhung lại gần mà bảo:

– Này! Lý Trọng đang định giở trò gì đó mà đòi nấu ăn đãi chú Quý với bọn mình đó. Tôi nghi lắm. Anh thử xuống bếp theo dõi xem Trọng làm gì nhé. Không được bỏ sót một hành động nào của y cả, rõ chưa?

Mèo đánh chiếc đuôi cong vòng lên mà đáp:

– Được rồi, anh khéo lo. Cứ để đấy cho tôi.

Nói vậy nhưng mèo lại lơ là ngó bọn chuột đói trên xà nhà, không chú ý đến Trọng. Hồi lâu sau, hai anh em cùng ngồi vào bàn, Trọng mời em một chén rượu, lại quăng cho mèo Bạch và chó Mực, mỗi con một cái đùi gà thơm phức. Thế là canh tư đêm ấy, lẽ ra Lý Quý phải lên thuyền đang chờ sẵn để đi sứ tới Trung Hoa, thì chàng lại ngủ mê ngủ mệt trong biệt phòng. Bên cạnh chàng là mèo Bạch và chó Mực cũng nằm thẳng cẳng, thở phi pho. Ngựa Ô trong chuồng cũng chẳng khá hơn, cứ ngáy như kéo gỗ. Lý Trọng thay áo đổi quần cho em, vừa rón rén, vừa hí hửng bước lên thuyền. Phen này Trạng Gốm đích thực là ta. Sang đất Trung Hoa, ta tha hồ được sống trong nhung lụa, lại có nhiều gái đẹp, rượu ngon. Hi hi, đúng là một bước lên tiên!

IX.

Đúng như Trọng nghĩ, vừa đặt chân vào hoàng thành, mang theo điệp sứ của hoàng đế Quang Trung, chàng liền được tiếp đón một cách long trọng. Chàng được thiết đãi sơn hào hải vị, lại được giới thiệu với các hoàng tử, công chúa con vua Càn Long. Chàng lại còn được dẫn vào vườn thượng uyển, ngắm các loại kỳ hoa dị thảo đẹp mê hồn. Sau đó, vị quan trông coi quốc bảo đưa chàng vào một cung điện ngầm dưới đất, nơi có rất nhiều sách cổ và các loại bình quý hiếm để chàng làm việc.

Bị giam lỏng trong hầm sâu, Trọng suốt ngày mơ tưởng đến công chúa Tiểu Lan, con gái út của vua Càn Long. Vốn biếng nhác, lại chỉ biết bập bõm vài chữ Hán, Trọng không đọc nổi một trang sách nào. Trái lại, vị quan trông coi quốc bảo luôn thúc hối Trọng, giới thiệu cho chàng biết những thứ đồ gốm sứ của hoàng gia đã được truyền từ đời này sang đời khác. Thấy Trạng nguyên quá lười biếng, vua Càn Long tưởng rằng triều đình đón tiếp chưa thật chu đáo, khiến chàng phật lòng; nên ngài truyền cho vị quan ấy nói với Trọng rằng:

– Công việc thật là khó khăn vất vả, nhưng ngoài Trạng Gốm ra thì khó ai hoàn thành tốt đẹp được. Vậy Trạng Gốm nên cố gắng hết mình, nhà vua sẽ trọng thưởng xứng đáng.

– Vậy ư? Càn Long hoàng đế phán vậy ư? Thế thì ngài mau xin với hoàng đế gả công chúa Tiểu Lan cho ta, ta sẽ làm tất cả một cách nhanh chóng và hoàn hảo…

Nghe Trọng yêu sách như thế, vua Càn Long sinh nghi, liền cho người đến doạ chém đầu Trọng, nếu không mau mau bắt tay vào việc. Bí quá, Trọng vơ liều mấy chiếc bình đẹp nhất rồi tìm đường chuồn mất.

Không may cho chàng, hoàng thành có tới ba lớp tường thành, mà tai mắt có mặt ở khắp nơi. Đến cửa hoàng thành, những tưởng sẽ được thoát thân thì một tráng sĩ phóng vút tới, giơ kiếm chặn ngang cổ Trọng. Vốn tham sống sợ chết, Trọng liền quỳ mọp xuống xin tha mạng. Ai dè đó chính là công chúa Tiểu Lan cải nam trang đi bắt sống ngụy Trạng nguyên.

Bị bắt lại, Trọng liền phun ra hết sự thật khiến Tiểu Lan và nhà vua vô cùng tức giận. Ngài cho thị vệ nhốt Trọng vào một cái lồng sắt, treo ngay trên một đảo cá sấu có đến hàng vạn con rất hung dữ. Chưa hả giận, ngài còn sai sứ thần mang tin hoả tốc sang gặp vua Quang Trung, xem có phải thợ giỏi của nước Nam đều như thế hay không!

Đến lúc ấy, nhà vua mới hay tin dữ. Ngài nổi trận lôi đình, bắt tìm Quý về để hỏi tội. Quý tình thực kể lại rằng mình bị bỏ thuốc mê mà bỏ lỡ chuyến đi sứ sang Trung Hoa. Nhưng Lý Trọng là anh của chàng, mọi tội lỗi Trọng gây ra chàng xin lãnh chịu hết.

– Bây giờ mang ngươi ra mà chém, mà giết cũng vô ích. Phải làm sao để tiếp tục kết tình giao hảo giữa hai nước, và phải hoàn thành tốt những công việc bên ấy. Như thế mới đúng là Trạng nguyên của nước Nam ta.

Tuy nói vậy nhưng nhà vua không bắt tội Lý Quý, còn xếp cho một đội thuyền nhanh chóng đưa chàng sang Trung Hoa, vừa là để bày tỏ thiện ý của người nước Nam, vừa là để tìm cách gỡ tội cho Lý Trọng. Biết rằng chuyến đi lành ít dữ nhiều, nên chàng mang theo cả chó Mực, mèo Bạch và ngựa Ô. Tất cả cùng nguyện sống chết có nhau.

 ***

Khi Lý Quý đến nơi, không ai tin chàng thật sự là Trạng Gốm của nước Đại Việt. Vua Càn Long bèn ra lệnh thử đưa chàng đến một lò gốm trong hoàng thành, bảo chàng làm một chiếc bình cao bằng đầu người. Nếu làm được thì ngài mới tin.

Quý khẳng khái trả lời:

– Thần xin làm theo lệnh của bệ hạ. Nếu không xong thì bệ hạ xử tội thế nào cũng được, còn nếu thần làm được thì xin bệ hạ gia ân tha cho Lý Trọng anh của thần …

Vua Càn Long nghe Quý nói cảm thấy rất nể trọng, khi thấy Quý đặt tình cảm lên trên cả sinh mạng của mình. Tuy chưa được chứng kiến tài nghệ của chàng song ngài cũng đồng ý. Dù sao thì Lý Trọng cũng là người của nước lân bang, không nên vì một kẻ gian tham như vậy mà để ảnh hưởng tới quan hệ bang giao giữa hai đất nước.

Quý ngồi vào bàn xoay gốm. Thợ khéo Trung Hoa lấy làm ngạc nhiên vì chàng sử dụng bàn xoay rất thành thạo, chiếc bình cứ cao lên, cao lên mãi, vượt qua cả đầu người rồi mà nó vẫn chưa dừng lại. Sau cùng, khi chiếc bình cao hơn bàn tay với, vua Càn Long phải lên tiếng bảo Quý dừng lại:

– Được rồi, được rồi! Cao đến thế là ta phải xây một cái lò riêng để nung nó rồi. Đây mới đúng là cao nhân từ ngàn dặm đến đây. Không ngờ ngươi còn trẻ quá… Chẳng hay Trạng Gốm nước Đại Việt năm nay bao nhiêu tuổi?

– Muôn tâu, thần đã tròn ba mươi tuổi…

Thấy Quý trả lời bằng tiếng Trung Hoa khá rành rọt, mọi người đứng xung quanh càng thêm trầm trồ kinh ngạc. Thật ra vì giao dịch với người Hoa kiều ở thương cảng Nông Nại Đại Phố nhiều năm, nên Quý rất thạo tiếng của họ. Khi chàng bước ra khỏi chiếc bàn xoay gốm, y phục của chàng vẫn sạch sẽ trắng tinh, chẳng khác nào một nho sinh mới rời án thư đi dạo mát.

– Ồ, thật là tài giỏi hiếm có – Vua Càn Long lại khen ngợi – Mau thỉnh Hoàng thái thái[3], cùng hoàng hậu và Tiểu Lan công chúa yêu của ta đến đây, để họ tận mắt được thấy kỳ công này…

Chỉ một lát sau, cả ba người cùng đến một lúc. Hoàng đế Càn Long giới thiệu Quý với các bậc tôn quý của nội cung, rồi lại giới thiệu công chúa Tiểu Lan với Quý. Thật bất ngờ, nàng nhận ra ngay chàng là em trai của Lý Trọng, và vòi vĩnh tâu với cha rằng:

– Hoàng A ma hãy ban người thợ khéo này cho con đi. Nói thật với Người là tất cả công tôn vương tử của Thanh triều, cả thanh niên trai tráng ở đất nước này, con chẳng thấy ai thông minh đĩnh ngộ như chàng…

– Ngoan nào, con gái yêu của ta. Đây là Trạng Gốm mới từ Đại Việt sang đây, ta phải vất vả lắm mới vời được, để giúp ta phục chế lại những di tích của Tử Cấm thành. Chuyện này… con không lẫn lộn công tư được đâu…

Nghe vậy, công chúa Tiểu Lan phụng phịu ra mặt, khiến hoàng hậu phải kéo nàng ra một góc để dỗ dành:

– Phục chế di tích, mở rộng hoàng thành là việc trọng đại, từ thời vua Đường Minh Hoàng cho đến nay, chưa ai gánh vác được như phụ hoàng của con. Vậy nên con đừng làm Người rối trí. Thư thư vài năm, ta sẽ xin với phụ hoàng tứ hôn cho con và Lý Quý. Phần con phải chăm lo học thêu thùa vá may, tề gia nội trợ đi là vừa. Người ta là sứ thần đặc biệt của nước Đại Việt, không phải hạng phu phen đâu mà con muốn là được…

Những lời nói ấy đã lọt vào tai mèo Bạch, vốn rất tinh khôn giấu mình sau những tấm màn nhung thật dày. Lập tức, mèo Bạch đi khoe với chó Mực, phen này Lý Quý sắp trở thành Phò mã Trạng nguyên rồi…

Nhưng chó Mực lắc đầu:

– Tôi không tin. Chú Quý không bao giờ cúi đầu lấy công chúa Tiểu Lan đâu.

– Tại sao? – Mèo Bạch lấy làm ngạc nhiên, hỏi lại.

– Chú ấy là người quân tử, “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất[4]”. Vả lại, chú ấy còn phải đi tìm cô Hồng con ông Bảy thương hồ nữa. Chú ấy sẽ không ở mãi trong những toà cung điện xa hoa này làm gì…

– Anh nói lạ. Tìm làm sao được mà tìm. Với lại Lý Trọng không đi tìm cô ấy thì thôi, chú Quý phải đi tìm làm gì cơ chứ?

Chó già nhóp nhép bộ răng rệu rã của mình, nói thầm:

– Thế mới là chuyện… Thương quá! Tôi chỉ mong sao chú ấy tìm được cô Hồng, cuộc đời chú ấy được thảnh thơi mà chúng ta mới thật sự dừng bước giang hồ được…

Sau khi Lý Quý trổ tài khiến vua Càn Long không còn điểm nào để nghi ngờ nữa, Lý Trọng liền được thả ra khỏi cái lồng treo trên đảo cá sấu. Biết rằng em mình đã sang đến nơi, đang ngồi ở chỗ mình đã ngồi trong thư viện cổ, Trọng cố nài xin:

– Em tôi là Trạng Gốm của nước Đại Việt, được hoàng đế Càn Long vời sang phục chế, trùng tu các di tích. Xin hãy nể mặt tôi một chút, cho tôi gặp em tôi…

Thế nhưng lời thỉnh cầu của Trọng không được chuẩn y. Lính ngự lâm áp giải Trọng ra ngoài cửa hoàng thành, đuổi đi thẳng cánh.

Nhục nhã ê chề, lại đói khát và không biết tiếng Trung Hoa để nhờ người khác cứu giúp, thêm sự uất ức vì thấy em mình lại được nể trọng hơn mình, chàng con trưởng của người thợ gốm Lý Mạnh đã chọn lối thoát cuối cùng: Tự vẫn! Chàng tìm đến một cây cổ thụ, xé dải áo của mình treo cổ lên đó. Thế là hết đời con người lười biếng gian tham.

Lý Quý suốt mấy ngày đêm bị giữ chân trong tầng hầm, đọc các loại văn tịch cổ. Chàng cố gắng làm việc mong lấy công chuộc tội cho anh, không dám đòi hỏi gì cả. Khi chàng xin được gặp anh cũng là lúc chàng nhận được tin tức đau lòng: anh chàng đã chết. Chàng tức tốc xin với vua Càn Long được đứng ra lo mai táng cho anh.

Vua Càn Long chuẩn y, với một điều kiện:

– Nghĩa tử là nghĩa tận, ta không truy cứu tội lỗi trước đây của y. Nhưng kẻ chán sống tự tử thì không thể thương xót được. Vậy nên y chết ở chỗ nào thì chôn cất y ở chỗ đó, để làm gương cho kẻ khác.

Lý Quý tạ ơn vua Càn Long, lập tức cho tẩn liệm xác anh mình rồi chôn cất. Nhìn thấy nấm mồ của anh nằm trơ trọi nơi đất khách quê người, chàng không thể nào kìm được tiếng khóc. Rồi lại nhớ về quê hương, nơi mẹ cha chàng đang nằm trong sự quạnh quẽ, cô đơn, không người hương khói, Lý Quý vô cùng đau khổ. Chàng mong sao cái hạn ba năm sớm chấm dứt, để chàng có thể cải táng cho anh, mang tro xương Lý Trọng trở về chôn cất bên cạnh mộ phần của cha mẹ chàng.

Lạ thay, đêm hôm đó có một người thiếu phụ đến bên nấm mộ Lý Trọng khóc lóc thở than. Nghe tiếng khóc, mèo Bạch và chó Mực lay gọi Quý. Chàng vốn còn nấn ná ở lại để sớm mai đắp lại mộ cho anh, nên chưa trở vào Tử Cấm thành. Thế là ngựa Ô vội vàng đưa Quý trở lại. Nghe tiếng than khóc mang đúng âm điệu tiếng nói quê hương mình, chàng đã chạy đến ôm choàng lấy người thiếu phụ:

– Hồng! Có phải là Hồng đó không? Vì sao nàng lại có mặt ở nơi đây? Vì sao nàng biết anh Lý Trọng đã chết?

Nhận ra Lý Quý, nàng khóc như mưa, không biết vì đau khổ hay vì tự thương mình. Hồi lâu sau nàng mới cất tiếng được:

– Tôi biết Lý Trọng chết trước cả chàng nữa, từ lúc xác chàng còn bị treo lủng lẳng trên cây kia kìa. Nhưng tôi không dám nhận, chỉ biết ngậm tăm nhìn bọn quạ diều lượn quanh mà thôi. Bây giờ tôi chỉ là một đứa nô tì thấp kém, làm sao tôi dám đứng ra lo ma chay cho Lý Trọng? Chàng ấy được như thế này là tôi cảm thấy mát lòng rồi…

Quý nhìn vào mắt nàng, rồi chàng lắc đầu nhè nhẹ:

– Nàng nói dối. Nếu thực sự cảm thấy yên lòng, sao đêm hôm khuya khoắt thế này, nàng lại đến đây than khóc?

– Tôi khóc là vì tự thương cho thân mình. Ngày ấy nếu tôi khôn ngoan hơn, biết suy xét trước sau thì thân tôi đâu đến nỗi này, mà Lý Trọng cũng không phải chết thảm…

Thì ra là mười mấy năm trước, khi Lý Trọng lên ghe thương hồ của cha nàng để “đi học”, nàng đã hồn nhiên khoe với chàng là cha nàng dành dụm được một ít tiền, để sau này cho nàng làm của hồi môn. Trọng đã ngỏ lời yêu thương nàng, dụ dỗ nàng lấy cắp tiền của cha để bỏ sông nước, lên đô thành lập nghiệp cùng chàng. Chẳng ngờ Trọng đã vung hết số tiền trong những canh bạc trắng đêm ở quán rượu, rồi trốn mất. Bọn chủ nợ đã ngang nhiên bắt nàng để trừ nợ. Chúng bắt nàng làm kỹ nữ, ngược xuôi qua bao nhiêu bến sông, chịu muôn vàn cay đắng. Rồi đến một ngày kia, có gã thương buôn người Hoa kiều mua nàng mang về Trung Hoa…Vì tay chân nàng khéo léo, cũng biết giao tiếp, buôn bán nên nàng thường được ra chợ phụ việc. Nhờ vậy mà nàng nghe lỏm được chuyện có Trạng Gốm của Đại Việt được mời sang phục chế đồ gốm cổ trong Tử Cấm thành, lại nghe cả chuyện Trạng Gốm quê ở Biên Trấn, … Nàng chắc trong dạ đến 7, 8 phần đó chính là Lý Trọng; nhưng chẳng ngờ vừa thấy Lý Trọng treo mình ở đó, vừa nghe chuyện lừa gạt đáng xấu hổ của cố nhân. Bao năm qua nàng vẫn hy vọng sẽ gặp lại Lý Trọng và thấy chàng biến cải thành một người tốt hơn… song đó chỉ là ý nghĩ hão huyền, ngu dại…

– Thân tôi khổ nhục như thế, là đáng đời tôi. Nhưng còn cha tôi giờ đây còn sống hay đã chết, chàng có biết không?

Quý đáp rằng từ ngày Đại Việt thái bình trở lại, chàng đã không trở về quê Biên Trấn, nên không gặp cha nàng, cũng không biết tin tức gì của ông.

– Trời ơi! Phải chăng cha đã mất rồi? Thế là con không bao giờ thấy mặt cha nữa, cha ơi! Con thật là một đứa con bất hiếu, biết bao giờ con mới được gặp cha đây, cha ơi!

Nàng lặng lẽ khóc hồi lâu, mặc cho Lý Quý ngồi thẫn thờ bên cạnh. Rồi đột nhiên nàng lau nước mắt, từ biệt Quý và biến mất. Chàng ngơ ngẩn nhìn quanh và bỗng nhận ra trời đã sáng.

X.

Chẳng bao lâu sau, Lý Quý nhận được tin vua Quang Trung đã băng hà vì bạo bệnh. Đã ba lần chịu tang những người thân yêu nhất đời mình, chàng vẫn không thể nào không bàng hoàng đau xót. Bởi vì chàng không thể nào quên được đức can trường và anh minh của ngài, cùng với tấm lòng bao dung độ lượng của bậc minh quân. Tuy chưa hết hạn ba năm, chàng vẫn một mực tâu xin với vua Càn Long, để trở về cố quốc thọ tang vua.

– Đúng là một con người trung hiếu hiếm thấy. Không biết trong số quần thần của ta, có mấy ai được như Lý Quý không? Cho về thì ta cũng muốn cho, nhưng công trình của ta ở Tử Cấm thành còn dang dở, lấy ai thay vào đặng đây…

Nghe vua Càn Long than thở như vậy, văn võ bá quan đều nín bặt, ai cũng cảm thấy hổ thẹn khi đức vua so sánh họ với Lý Quý. Riêng có tên hoạn quan vội vàng quay về nội cung, thẽ thọt nhỏ to với công chúa Tiểu Lan. Sau đó đích thân Hoàng thái thái cho vời nhà vua đến mà phán:

– Nếu cho Trạng Gốm trở về Đại Việt, thì cái công trình muôn đời kia của con sẽ ra sao? Lại nữa, ta chỉ có Tiểu Lan là công chúa mà ta yêu thương, trân quý nhất. Nó cũng là con gái của con đó, con liệu mà quyết định. Nhưng nếu để cho Tiểu Lan phải đau khổ thì ta không để yên cho con đâu.

Nghe Hoàng thái thái ra ý chỉ, vua Càn Long đành lặng im. Ngài tìm kế hoãn binh, hết hứa hẹn lại tránh mặt Lý Quý. Riêng công chúa Tiểu Lan như một kẻ đắc thắng, cho gọi Trạng Gốm đến mà rằng:

– Phụ hoàng của ta không cho chàng trở về Đại Việt đâu. Chàng hãy ngoan ngoãn tuân theo số mệnh của mình. Làm Phò mã của hoàng đế Trung Hoa, có mấy ai được như chàng? Còn ta, ta là người được phụ hoàng cưng chiều nhất, chàng muốn gì mà chẳng được, phải không?

– Thưa công chúa! Tôi chỉ là một người thợ gốm bình thường của nước Đại Việt, đâu dám sánh cùng vị công chúa kim chi ngọc diệp như nàng. Vả lại, tôi cũng đã có ý trung nhân, không thể phụ tình người ấy mà kết hôn với nàng được…

– Ta sẽ xin với phụ vương ban chết cho người đó, lúc ấy chàng chẳng còn phải vướng bận gì nữa, sẽ suốt đời cùng ta sống trong vinh hoa tột đỉnh. Tiếc một cô gái nghèo hèn để làm gì… Nói cho ta biết đi, cô nương ấy là ai, bây giờ ở đâu?

Nghe công chúa Tiểu Lan nói như vậy, Lý Quý đành lặng thinh. Chàng không thể làm liên luỵ đến Hồng được. Chàng càng cảm thấy kinh sợ cuộc sống quyền uy nơi lầu vàng điện ngọc, nó đã biến con người thành những kẻ độc ác. Có ai nghĩ được một nàng công chúa xinh tươi như hoa, như ngọc thế kia mà lại thốt ra những câu nói đáng sợ như thế. Điều ấy càng khiến Quý nung nấu ước mơ trở về quê cha đất tổ, không nơi nào tốt đẹp và thân thuộc với chàng bằng nơi ấy…

Chàng bàn với mèo Bạch, ngựa Ô, chó Mực cách thoát ra khỏi hoàng thành. Công chúa Tiểu Lan đã cho lính ngự lâm theo dõi chàng suốt ngày đêm, sợ chàng trốn đi. Sự theo dõi nghiêm ngặt đến mức một con chim cũng không lọt được, một con sâu cũng không bò qua nổi những vòng vây trong ngoài dày đặc. Bởi vì nàng cho rằng trước sau gì chàng cũng phải khuất phục trước uy quyền và sắc đẹp của nàng.

Không bay lên trời được thì chàng chui xuống dưới lòng đất. Chàng bắt tay vào đào một đường hầm rất sâu, rất dài. Chó Mực và mèo Bạch giao kèo trước:

– Khi chú Quý đào đến cuối đường hầm ấy, chú phải lập tức chui ra ngay. Mèo Bạch sẽ lập tức báo tin cho chúng tôi. Đợi chú đi thật xa, nếu không có động tĩnh gì, chúng tôi sẽ cùng ngựa Ô trốn đi. Chúng ta sẽ gặp lại nhau ở nơi chúng ta đã gặp nàng Hồng lần trước.

Kế hoạch gần như trót lọt. Lấy cớ phải làm việc liên tục dưới hầm sâu, nơi chứa đầy những cổ vật quý giá, Lý Quý tâu với vua xin cho khu vực chàng làm việc nội bất xuất, ngoại bất nhập. Chàng giả vờ cố sức hoàn thành sớm các công việc để có thể kết thân với công chúa Tiểu Lan. Tuy vậy, mèo Bạch vẫn nhởn nhơ ra vào mà chẳng bị ai phát hiện cả. Bởi chẳng ai để ý đến một con mèo gầy nhom, lười biếng, suốt ngày quệt cái đuôi ngắn ngủn đã trụi gần hết lông vào những cột đá chạm rồng trổ phượng. Càng không ai biết được Trạng nguyên Lý Quý còn biết cả tiếng nói của loài vật… Sau hơn ba tháng ròng rã, ngày thì làm việc, đêm thì bí mật đào hầm, Quý đã lọt ra đến ngoài mà không gặp nguy hiểm gì. Nơi đây đã xa Tử Cấm thành lắm rồi. Nhưng ngày hôm ấy, công chúa Tiểu Lan vô cớ muốn hành hạ ngựa Ô. Nàng dẫn ngựa Ô ra khỏi chuồng, cưỡi lên nó và dong ra ngoài. Nàng cứ nhởn nhơ dạo qua vườn ngự uyển, vừa đi vừa than vắn thở dài, nhìn trời nhìn nước. Ngựa Ô trong lòng như có lửa đốt, chốc chốc lại ngó quanh xem mèo Bạch và chó Mực đã ra hiệu chưa. Nhưng chẳng thấy tăm hơi hai người bạn đâu cả, thỉnh thoảng ngựa lại nghiến hàm trèo trẹo, khiến công chúa Tiểu Lan bực bội mắng:

– Đồ thứ ngựa man di mọi rợ, chẳng biết thế nào là phép tắc cả!

Bỗng “khà, khà!”, “meo!”. Chó và mèo cắn lộn nhau, xông vào đánh nhau tơi tả. Nàng Tiểu Lan toan mắng thêm nữa thì “hấp!” Ngựa Ô đã cong mình hất văng nàng xuống bãi cỏ, co vó chạy tế lên.

– Đúng rồi, giỏi lắm anh Ô ạ. Đúng là một bài học nhớ đời!

Chó Mực reo lên, rồi cùng chạy như bay. Mèo Bạch đu lên bờm ngựa Ô, bám thật chặt trong một cuộc tẩu thoát phi thường.

Công chúa Tiểu Lan nén đau và sự xấu hổ, vội quát đoàn ngự lâm quân bắt ngựa Ô lại cho nàng trị tội. Nhưng chú ngựa của rừng Nai, của đất Trấn Biên quyết không thể để ai trói buộc mình thêm nữa. Chú phóng qua những vòng vây, sải qua những bờ hào đầy chông và gai nhọn, vọt qua cả cánh cửa thành đang sập lại. Chó Mực cũng không chạy thua, cùng đáp song song với ngựa Ô xuống mặt đất, và cùng nhau chạy thẳng vào rừng.

Khi đến chỗ hẹn, cả ba đã thấy Quý ở đó cùng với Hồng. Khuôn mặt nàng đầm đìa nước mắt, nhưng rõ ràng là không giấu được sự vui mừng đến nghẹn ngào.

– Những người bạn trung thành và tài giỏi của ta đã đến rồi. Nàng hãy cùng đi với ta nhé, chúng ta sẽ trở về quê hương, sẽ đi tìm cha nàng…

Nói đến đây, Quý nghẹn lời không sao nói tiếp được nữa. Mèo Bạch thấy thế giục giã chàng:

– Nói tiếp đi, chú Quý! Nói rằng chàng sẽ không bao giờ để cho nàng chịu đau khổ nữa, hai người sẽ cùng xe tơ kết tóc, rằng chú đã chờ đợi giờ phút này biết bao năm rồi…

Nhưng Quý vẫn lặng im không dám nắm bàn tay Hồng, ôm lấy nàng, mặc dù nàng đang mong chờ được tựa vào đôi vai mạnh mẽ, và hoàn toàn tin tưởng vào trái tim nhân hậu của chàng. Ngựa Ô hấp háy nhìn cảnh tượng dùng dằng ấy, rồi chợt phá lên cười khi thấy mèo Bạch kêu meo meo nhặng lên, lại còn nhảy lên như con choi choi:

– Thôi đừng làm trò rối nữa. Tự nàng ấy sẽ hiểu tất cả, phải không anh Mực? Chúng ta đi thôi!…

Lý Quý đỡ Hồng lên lưng ngựa Ô. Đoàn người bắt đầu vượt qua dãy núi cao ngất trong cảnh hoàng hôn buông xuống. Họ đi không ngừng nghỉ, vì ở bên kia những sườn núi hoang vu, lãnh địa tăm tối của nữ thần Bóng tối, là một bình minh sáng rạng đang chờ đợi họ. Họ sẽ trở về nơi ấy, sống cuộc sống của những người dân suốt đời yêu thương và gắn bó với quê hương xứ sở.

Hết

TRẦN THU HẰNG

________________

[1] Xuất chúng: xuất thân từ dân chúng, không qua thi cử. Còn có nghĩa là khen Lý Quý giỏi giang hơn người.

[2] Bát tuần: Tám mươi tuổi.

[3] Là người giữ chức vụ quan trọng nhất sau Hoàng thái hậu, trông coi tam cung lục viện. Về vai vế, đó là tiếng gọi mẹ kế của vua.

[4] Lời của Khổng Tử: người quân tử là người giàu có không tham nhan sắc, gặp cảnh nghèo khó không chịu hạ mình, gặp sức mạnh đe dọa không chịu cúi đầu khuất phục.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.