Khi thơ là “phong cách của tư tưởng”

VHSG- Nhà thơ Mai Quỳnh Nam vừa xuất bản tập thơ Không tì vết, Nxb Hội Nhà văn, 2020.

Nhà thơ Mai Quỳnh Nam

Người ta cho rằng nhà thơ Mỹ Louise Gluck nhận được giải Nobel văn chương năm nay 2020 vì thơ bà “Độc đáo” không giống ai. Tôi có đọc một số bài viết về bà trên Facebook mới biết quan niệm về thơ của bà làm tôi tâm đắc. Bà cho rằng thơ phải “ít chữ, kiệm lời” và “Thơ là phong cách của tư tưởng”.

Tôi không so sánh nhà thơ Mai Quỳnh Nam với nữ nhà thơ Mỹ vừa đoạt giải Nobel văn chương năm nay, bởi mọi sự so sánh đều khập khiễng. Trong bài viết này, tôi muốn nói đến một tập thơ mới xuất bản của ông, tập Không tì vết mà theo tôi là tập thơ “ít chữ; kiệm lời” mang “Phong cách của tư tưởng”: Thế giới phẳng hơn, hấp dẫn hơn,/ Nhưng cũng đầy hiểm họa/ Một quá trình song song giữa kiến tạo và tàn phá (Nhìn vĩ mô)

Bài thơ chỉ có ba câu những chứa đứng cả một nguyên lý triết học: Được và mất luôn đi liền với nhau. Cái sự được và mất là hai mặt của thế giới, của sự phất triển và tồn tại dù ở lĩnh vực xã hội hay tự nhiên. Hơn 2.500 năm trước Lão Tử đã nói đến nguyên lý này: Được đi liền với mất, phúc đi liền với họa, trong họa có phúc, trong phúc có họa! Hãy nhìn thế giới mà chúng ta đang sống rõ ràng là kiến tạo và tàn phá đang đi liền với nhau!

Thơ không phái là triết học, nhưng, nói như nhà văn Ấn Độ, Frem Chandre: Triết học là bậc đá bước tới thi ca… Có lẽ Mai Quỳnh Nam đã ý thức rõ về điều này, nên trong bài Thống kê trong thơ W. Szymborska đã viết: “… Về những người yêu thơ/ Ba từ kỳ lạ nhất – sự quan sát ngập tràn cảm xúc”.

Phải có sự “… ngập tràn cảm xúc” trong ý nghĩ, tư tưởng, trong mọi sự quan sát… mới mang đến sự giao cảm cho người đọc, như vậy thơ mới thực là thơ: Cơn gió thoảng qua rồi đi thôi/ Lạnh và mong manh kiếp người (Cơn gió đầu đông).

Bài thơ chỉ có hai câu, nhưng thực sự làm tôi rung động vì ý nghĩ về cơn gió đầu đông đã “ngập tràn cảm xúc” của chính nhà thơ đã truyền sang tôi.

Tôi thích sự “ít chữ; kiệm lời” trong tập thơ này. Tất cả các bài thơ trong tập Không tì vết tôi không thấy bài nào dài qua hai trang in. Có nhiều bài thơ không có đầu đề. Thơ một câu, thơ hai câu, thơ không có đầu đề thực ra cũng không phải là mới. Cố nhà thơ Trần Dần và một số nhà thơ ở xứ ta đã làm. Nhưng, với nhà thơ Mai Quỳnh Nam qua một số tập thơ của ông mà tôi đọc, gần như đã trở thành một phong cách riêng biệt. Trong biển thơ mênh mông hiện giờ, đó là điều làm cho thơ Mai Quỳnh Nam không bị lẫn vào số đông. Đó mới là điều đáng nói! Bởi nghề viết, nhất là thơ, khó lắm, như Mai Quỳnh Nam đã viết trong bài Thế lưỡng nan của nghề viếtChứ mới hơi bị ngầu/ Chữ cũ trắng phau phau

Bài thơ Đếm đến một in trong tập này tôi thích: Một con cá bơi lội nhởn nhơ/ Một con cá nằm chờ trên thớt/ Một cành hoa cắm trên bàn thờ/ Một cành hoa vứt ngoài bãi rác/ Một giấc mơ xao động giấc mơ/ Một bi kịch, một bi kích khác.

Cuộc đời là vậy, có và không, được và mất, hay và dở, mọi thứ trên đời này diễn ra theo quy luật của nó, không thể thể theo ý muốn của ai, dù đó là ý muốn tốt đẹp nhất!

Bây giờ cũng có khá nhiều người làm thơ “Triết lý”. Có những bài thơ dài, tôi đọc mãi mà không hiểu gì cả. Lại có những bài thơ đăng báo hẳn hoi, tôi đọc thấy toàn là “Triết lý” vụn vặt, nói ra những điều chẳng để làm gì, chẳng cần cho ai, chẳng làm ai đồng cảm… Nhiều bài thơ trong tập Không tì vết của Mai Quỳnh Nam nói những điều tưởng như ai cũng biết, nói những chuyện ngày thường, nhưng, phía sau con chữ là những ý tưởng làm ta phải suy nghĩ: Vỡ tan tành/ Long lanh từng mảnh nhỏ/ Sự kết thúc rực rỡ (Pha lê).Tôi thừa ra ngoài quán rượu/ Nơi cánh đàn ông say xỉn và đập phá/ Họ thừa ra ngoài ngôi nhà/ Khi đang là chồng, là cha/ Chẳng ai bù đắp được cho ai/ Trong tình cảm éo le này (Sự thừa ra). *** Ở xó xỉnh ấy/ Tôi có ấm êm/ Vàng son của ngôi đền/ Hoang lạnh quá…/ ***Tranh chấp dữ dội/ Giữa ánh sáng và bóng tối/ Nhưng rồi/ Bóng tối vẫn là bóng tối/ Ánh sáng vẫn là ánh sang/ Ngay cả khi chạng vạng/ Cũng đủ nhìn thấy/ Ai vừa đi qua./ *** Đêm rã vụn/ Ý nghĩ bị cắt rời/ Từ sự thù hận.

Con người khác con vật là ở chổ có ý thức, nếu sống bản năng, làm việc theo bản năng thì mọi thứ sẻ đảo lộn, chỉ có hai câu mà nói ra được một nguyên lý sâu xa của đạo đức con người: Họ rú lên điệp khúc bản năng/ Thế giới vỡ ra xô lệch cân bằng (Ở bệnh viện tâm thần). *** Chỉ có thể có/ Khi biết rũ bỏ.

Có tám chữ hai câu mà nói được cả một nguyên lý của đạo Phật – RŨ BỎ!

Thơ là vậy. Ông cha mình đã nói về thơ là “Ý tại, ngôn ngoại”. Sự vang ngân trong thơ là ý nghĩa sâu xa sau từng con chữ.

Thời còn là sinh viên khoa văn đại học Tổng Hợp Hà Nội, tôi nghe thầy giáo đọc câu thơ: “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà” có ý phê phán. Sau này tôi mới biết đó là câu thơ của nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh tiêu biểu của trường phái TƯỢNG TRƯNG. Gần đây tôi đọc lại DẠ ĐÀI với bản tuyên ngôn TƯỢNG TRƯNG, tôi thấy thích, thấy bản chất thơ cũng đúng như tôi nghĩ: “ … Thơ phải cấu tạo bằng tính chất của vô biên. Sau cái thế giới trên hàng chữ, phải ấn dấu muôn nghìn thế giới, cả thế giới đương thành và đương hủy…” (trích trong cuốn Trần Dần- Ghi 1954-1960).

Bây giờ, người ta đang nói nhiều về cách tân thơ, tôi thiển nghĩ, cách tân, đổi mới là điều cần thiết, nhưng, dù cách tân đổi mới thế nào, thơ vẫn phải là thơ. Có lẽ điều tôi thích ở tập thơ Không tì vết của nhà thơ Mai Quỳnh Nam nằm trong ý nghĩ này chăng?!

DƯƠNG KỲ ANH

One thought on “Khi thơ là “phong cách của tư tưởng”

  1. Nguyễn Hồng Minh says:

    “Triết học là bậc đá bước tới thi ca…”
    …thế thì chúng ta đừng đưa thi ca ngược lại về triết học, tức là đừng đưa thơ ca trở về với từng bậc đá triết học ấy. Rất khác nhau nhé các bạn. Bài thơ trích dẫn đầu tiên về cái được mất của thế giới, từ “rõ ràng” trong lời tác giả Dương Kỳ Anh trong đoạn cảm nhận này chỉ ra từ sâu thẳm tác giả hiểu thơ là giải thích cho người đời sự rõ ràng này. Và thế là thế giới phẳng, hớp dẫn, hiểm họa, kiến tạo và tàn phá, rồi sao nữa, con người ở đâu? Con người chỉ thốt lên vậy thôi và tàn rơi như một chiếc lá? Mong manh quá hay chỉ thấy hớp dẫn, thấy hiểm họa bởi vì thế giới phẳng hay bởi vì cái lố bịch của con người là tàn phá rồi lại kiến tạo, cái vòng luẩn quẩn như một trò trơi mà con người mãi mãi là trẻ thơ chơi mãi không chán? Sáng tạo ở đâu? Đột phá ở đâu? Độc đáo ở đâu? Không giống ai ở đâu? hay bài thơ với ba câu này chỉ là “rõ ràng” một cái thực tế, mà thực tế vẫn mãi là thực tế. Chúng ta dựa vào ngôn ngữ thơ là hình ảnh, là ngôn ngữ, năng lượng, hương vị để có chủ đích về cái đẹp, về chân thiện hay chí ít đó là xúc cảm, là thổn thực từ sâu thẳm, súc tích và đúc kết lên một sự mới lạ của tất cả các lĩnh vực của cảm giác, để hướng tới một tầm cao mới của cái đẹp, của sự khám phá ra cái mới, hoặc thể hiện chúng ở một dạng “nhão bùn” nào đó, từ nhão bùn là của tôi nhưng sao tôi lại nháy nháy nó, vởi vì thay vì giới hạn là hơi nước, là nước thì tôi nói nhão bùn để thấy nước ấy với dạng thức ấy vẫn toát lên cái đẹp của nhão bùn.
    Quay lại bài thơ ba câu này, triết lý ở đâu khi đó chỉ là một quá trình đơn giản? Triết lý ở đâu khi đó là một cảm giác đơn thuần, hớp dẫn hơn? Triết học ở đâu khi đó chỉ là một nhận định nhẹ nhàng – cũng đầy hiểm họa? Triết học ở đâu khi ngôn từ sử dụng không rõ ràng – thế giới phẳng hơn? Và triết học ở đâu khi nói ra quá trình sống ấy tạo ra thế giới phẳng, rồi hớp dẫn, rồi hiểm họa rồi cũng lại vì thế giới phẳng mà tạo ra một quá trình, từ một là một, kiến tạo và tàn phá là hai từ hay. Như thế triết học chưa thấy đâu nhưng giờ thơ lại đưa chúng ta về với triết học bằng cô đọng từ, từng từ thì hay nhưng sự liên kết các từ ấy mới làm tư tưởng, như đầu đề bài viết nói tới bay bổng được, thì tôi thấy bài thơ này chưa đạt, và những bài thơ sau cũng vậy, hơn một chút chỉ có câu “lạnh và mong manh …” là tiến thêm một chút thôi. Xin lỗi đã trao đổi thẳng thắn như vậy ạ.
    Hoa Phong.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *