Nhà văn Tô Hoài còn viết kịch

VHSG- “Tôi vốn tự học. Cho nên tôi nghĩ chịu thương chịu khó là một đức tính hàng đầu. Chịu khó sống và tìm hiểu xung quanh, chịu khó học và đọc, nhất là chịu khó viết – khi viết nên liệu sức mình, nên tập trung, không nên đá gà đủ các thể loại” – nhà văn Tô Hoài từng tâm sự – “Trong những yếu tố tạo nên nghề viết văn của tôi có hai điều kiện quan trọng và quyết định là đời sống của mình và nghề làm phóng viên báo (sự hiểu biết đời sống quanh mình)”…

Nhà văn Tô Hoài (1920 – 2014)

Cái thế kỷ XX mà chúng ta vừa xa 20 năm tròn, chắc chắn còn để lại trong  dòng lịch sử hơn 40 thế kỷ của nước Việt Nam ta một dấu ấn không thể nào quên. Những cuộc vận động cách mạng liên tục, mấy cuộc chiến tranh dữ dội chưa từng có trong lịch sử, đã làm thay đổi cả về bề sâu và bộ mặt đất nước mấy ngàn năm vùi mình trong một nền nông nghiệp của các triều đại phong kiến cổ. Nhiều lần bị xâm lược của các thế lực ngoại bang cũng không làm thay đổi bao nhiêu hình hài đất nước nông nghiệp ấy. Tư liệu, sách vở ghi chép về mấy ngàn năm ấy còn lại cũng nghèo nàn và độ tin cậy luôn phải đặt ra. Chỉ từ những năm sinh thế hệ mới, trong đó có người mà hôm nay chúng ta kỷ niệm 100 năm ngày sinh, đất nước và con người Việt Nam đã bước vào thời kỳ hiện đại, trên đường hòa nhập với thế giới. Phần lớn thời gian hòa nhập này là diễn ra trong cách mạng và chiến tranh, nghĩa là thường trực ở trong những hoàn cảnh, điều kiện, quan hệ,… không bình thường. Con người tồn tại, trưởng thành,sống, hành động, hoạt động luôn trong tình trạng phải chọn lựa, và đó là quá trình bộc lộ và định hình tính cách , nhân cách và bản lĩnh của mình. Cũng trong hoàn cảnh xã hội đặc biệt ấy, lịch sử chứng kiến sự xuất hiện một thế hệ con người Việt Nam có trí tuệ , bản lĩnh, tài năng, tầm vóc  trên nhiều lĩnh vực quân sự, chính trị, khoa học – kỹ thuật, văn hóa – xã hội. Mấy cuộc chiến tranh đã đẫy họ về  hai – mà không chỉ hai phía. Những thăng trầm trãi nghiệm, những hỉ nộ ái ố mà thế hệ người Việt này trãi qua trong thời hiện đại đã là đề tài của văn học nghệ thuật một thời kỳ giàu về số lượng tác giả và tác phẩm. Dưới caí nhìn khách quan và nhân văn, càng lùi xa những năm tháng chiến tranh và chia cắt, trong  tinh thần hòa hợp và gác lại quá khứ, nhìn về tương lai, nền văn hóa và văn học nghệ thuật chúng ta đang trở nên giàu có và nhiều màu sắc hơn. Sự khác biệt được coi là một động lực cho sự phát triển của văn hóa ở một đất nước nhiều dân tộc, và bây giờ là người Việt ở nhiều quốc gia trên thế giới.

Nhưng, do di chứng lịch sử, và nguồn tư liệu, mà cho đến nay, nhiều, khá nhiều nhân vật trong đó Cái quan đã lâu, mà định luận không dễ.

Riêng nhà văn Tô Hoài mà năm nay chúng ta kỷ niệm 100 năm sinh, may mắn là không thuộc trong số đó, dù những sáng tác đầu tiên của ông ra đời trước Cách mạng 1945, và ông viết liên tục, đều dặn, hầu như tất cả các loại hình chữ  nghĩa: truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết, bút ký, hồi ký, đồng thoại, viết lại truyện cổ, viết báo, viết điểm sách, giới thiệu sách, viết báo cáo,… Không biết Ông có làm thơ không. Số đầu sách của Ông là hơn 150, nhưng số lần tái bản thì nhiều vô kể. Tính về đầu sách thì có mấy người còn có thể nhiều hơn Tô Hoài, nhưng tính về số lượng bản in, dù không có cơ sở tư liệu thống kê, nhưng tôi tin, khó ai vượt được Ông. (Hiện nay, may ra có Nguyễn Nhật Ánh). Tô Hoài có thể coi là một công dân chỉ có một nghề duy nhất là viết.Trong tổ chức Hội Nhà Văn nhiều năm, Ông có nhiều chức vụ thuộc hàng lãnh đạo. Trong các cuộc đấu tranh tư tưởng nhiều thời kỳ căng thẳng của Hội Nhà văn, Ông luôn được tiếng là người khôn ngoan có thừa. Nhưng trong đối xử với bạn viết, với lớp trẻ, Ông bao giờ cũng là người hiền lành, chân tình. Nhà văn Nam Bộ Nguyễn Quang Sáng, người được Ông phát hiện, động viên, dìu dắt từ những ngày đầu tập kết 1955, cho đến cuối đời vẫn một niềm yêu kính, hễ có dịp ra Bắc là tìm thăm Thầy. Từng là Tổng Thư ký Hội Nhà văn VN, rồi lui về Chủ tịch Hội Văn Nghệ Hà Nội, hình như bao giờ Ông cũng vẫn nhỏ nhẹ, với nụ cười siiiêu ý nghĩa. Hẳn nhờ thế, mà Nhà văn từng có chức vụ chính quyền cao nhất là Tổ trưởng Dân phố.

Để nói cho có sách, tôi còn giử được một mẫu ngắn Ông viết gửi tôi, khi tôi còn làm ở Nhà xuất bản Hội Nghệ sĩ Sân Khấu Việt Nam:

“Thảo thân mến,

Tôi đặc biệt yêu một số cổ tích. Tôi đã viết thành tiểu thuyết và đã in : Đảo hoang (Quả dưa đỏ), Chuyện nỏ thần (Mỵ Châu – Trọng Thủy ), Nhà Chữ (Chữ Đồng Tử), Riêng Giáng Kiều & Thạch Sanh  tôi lại viết thành kịch. Có lẽ kịch tôi chỉ là kịch đọc nên trước kia tôi gửi cô Phạm Thị Thành không trả lời (Giáng Kiều),và anh Hồ Ngọc đọc Giáng Kiều chỉ bảo là hay. Vậy thôi.

Nay nhân tôi sửa lại, và tập hợp lại, tôi gửi Ngô Thảo một bản. Trước nhất, Ngô Thảo đọc. Cũng không có ý kiến để đăng, để diễn. Nếu không có ý kiến  gì đáng nói lại với người viết thì thôi, đừng băn khoăn nhé. Tô Hoài”.

Ơn giời, năm đó, chúng tôi đã có nguồn kinh phí để in tập kịch Giáng Kiều.

Sự khiêm cung, nhũn nhặn của Ông, làm bạn đọc gặp mặt nhà văn trong  nhiều dịp, ở nhiều nơi, khá bất ngờ. Trên số báo Xuân Tân Mùi 1991, Tạp chi Cửa Việt (Quảng Trị ) có phỏng vấn Ông với tư cách thành viên Hội đồng Văn xuôi chấm giải  1988-1989, Ông đã thẳng thắn bộc lộ nhiều điều, kể cả những điều làm Ông bất ngờ , nhưng là thành viên nên Ông vẫn chấp hành.

Năm đó, nhà văn Nguyễn Minh Châu (1930-1989) vừa qua đời, nhiều ý kiến khác nhau về một số tác phẩm của nhà văn, Tạp chí hỏi và đã nhận được từ Tô Hoài một cách lý giải “Rất Tô Hoài”: Thẳng thắn, chừng mực và rất thấu đáo:

“- Hỏi: Cỏ lau, tác phẩm mới nhất của Nguyễn Minh Châu vừa được trao giải thưởng văn xuôi 1988-1989, trong đó người đọc thấy, Nguyễn Minh Châu đã không quên nói điều gì cả, về con người, đất nước, và những tháng năm. Thế nhưng trước đó, bài  “Ai điếu…” lại bị nhiều nhà phê bình kết án là phát ngôn cho xu hướng “phủ nhận quá khứ”. Thật là oái oăm. Thưa anh Tô Hoài, vậy thì lý giải như thế nào cho sòng phẳng với nhà văn quá cố của chúng ta: Là nghịch lý trong tâm lý sáng tạo của nhà văn hay phải hiểu ý thức “phủ nhận” theo một cách nào khác?”

Sau khi khẳng định trong tập Cỏ lau, thì Phiên chợ Giát hay cực, ông nói: “Khi anh Nguyễn Minh Châu còn khỏe, có đôi lần tôi được nghe anh kể những truyện dự định viết về vùng quê thắm thiết quen thuộc của anh, nhiều truyện thật dữ dội và xúc động mà tôi tưởng Phiên chợ Giát là một trong những truyện ấy. Rất tiếc…

Từ những suy nghĩ dự định, và từ nhận xét phê bình đến đánh giá cụ thể một  sáng tác bao giờ cũng khó khăn…. Trên con đường dân chủ thảo luận một tác phẩm có thể dẫn đến những đánh giá giống nhau hoặc không giống nhau, cũng như với người sáng tác, nói và viết, có thể gặp nhau, có thể xa nhau. Như trường hợp Nguyễn Minh Châu. Không phải là lạ lùng và không bình thường, trái lại còn dễ hiểu và cần thiết, nếu giữ không khí thảo luận được thân ái, đoàn kết, vì lẽ phải.

Nguyễn Minh Châu đã viết bài “Ai điếu…”, những suy nghĩ và bình luận văn học đang ở phút hào hứng, sôi nổi, trong giai đoạn đầu văn xuôi bước vào đổi mới. Bài này ra đời trước truyện ngắn Phiên chợ Giát nhiều. Tôi đọc Nguyễn Minh Châu từ Mảnh trăng cuối rừng đến các tiểu thuyết, cả những tác phẩm viết cho thiếu nhi và truyện ngắn cuối cùng này, tôi chưa nhận ra được sáng tác nào cần phải “ai điếu” cả. Mà chỉ thấy các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu càng ngày càng khẳng định hình thành phong cách nhà văn nhiều công phu tự đổi mới và cho đến Phiên chợ Giát thì thật là tài tình. “Ai điếu…” là một khát vọng về sự sáng tạo, và sự tự trọng, cũng như tấm lòng thiết tha mong ước đã luôn luôn thúc đẩy nhà văn chuyển mình.”

Sự từng trải, kinh nghiệm một đời viết, với sự uyên minh, Ông đã giúp giải đáp một trường hợp ngỡ như khó hiểu trong đời sống văn học.

Năm 1995, nhân Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ IV, mấy bạn văn chúng tôi, gồm Vương Trí Nhàn, Võ Khắc Nghiêm, Lại Nguyên Ân và tôi có sáng kiến làm bộ sách gồm nhiều tập: Nhà văn Việt Nam – chân dung tự họa, trên cơ sở gửi mấy câu hỏi đế các nhà văn tự giới thiệu về mình trong vòng 500 chữ. Do số nhà văn hưởng ứng không nhiều, nên chỉ in được tập 1 ở nhà xuất bản Văn học với Chân dung tự họa của đúng 108 nhà văn. May mắn, có nhà văn Tô Hoài tham gia. Do số lượng in không nhiều, nên không mấy người nhìn htấy mặt cuốn sách. Nhân dịp này, tôi xin giới thiệu phần nhà văn Tô Hoài tự vẽ chân dung:

“… Xưa kia, dể sinh sống, tôi đã làm một số nghề như bán hàng, phụ kế toán nhà buôn ở Hà Nội (1936-1940). Từ năm 1940, sau khi viết và in truyện Con dế mèn Dế mèn phiêu lưu ký, tôi bước sang nghề làm văn. Tất nhiên viết văn dễ sống hơn các nghề trước tôi đã làm.

Tôi vốn tự học. Cho nên tôi nghĩ chịu thương chịu khó là một đức tính hàng đầu. Chịu khó sống và tìm hiểu xung quanh, chịu khó học và đọc, nhất là chịu khó viết – khi viết nên liệu sức mình, nên tập trung, không nên đá gà đủ các thể loại.

Trong những yếu tố tạo nên nghề viết văn của tôi có hai điều kiện quan trọng và quyết định là đời sống của mình và nghề làm phóng viên báo (sự hiểu biết đời sống quanh mình). Năm 1940, đầu tiên cộng tác với  tuần báo Hà Nội tân văn, tôi viết truyện ngắn, phóng sự và mục tin tức. Suốt kháng chiến chống Pháp, tôi làm phóng viên báo Cứu quốc. Bây giờ làm báo Người Hà Nội (1992), tôi thường viết mục tin tức và hộp thư trả lời bạn đọc.

Tôi thích trò chuyện với các bạn mà trong câu chuyện hay nảy ra những khía cạnh thú vị, sắc nét, hóm hỉnh, gợi hứng, gợi ý nhớ lâu như các nhà văn Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Bính, Nguyễn Tuân, Nguyễn Văn Bổng, Kim Lân.

Tôi thường đọc lại nhiều lần các tác phẩm như sau: Truyện Kiều, Vũ trung tùy bút, Liêu trai chí dị, truyện dài, truyện ngắn A. Moravia (Ý), Phóng sự chiến tranh C. Malaparte (Ý), truyện ngắn – riêng truyện ngắn G. Market (Colombia), tiểu thuyết Nông thôn Giônô (Pháp).

Tôi thường cho rằng thế hệ viết văn thế kỷ này (XX) không thể có tác phẩm lớn (như định nghĩa của văn học thế giới) – vì nhiều lẽ khách quan và chủ quan, mà nhiệm vụ của những người đương cầm bút hiện nay nên chịu khó và cố gắng viết hay, viết nhiều,như vậy sẽ góp sức làm cơ sở cho các thế hệ sau có nhiều Nguyễn Du. Ý nghĩ trên của tôi méo mó đến độ tôi thường tránh chữ Nhà văn mà thích dùng chữ Người viết văn.”

Kỷ niệm 100 năm sinh của nhà văn Tô Hoài, ở năm thứ 20 của thế kỷ XXI, những ý nghĩ đó của Ông như gởi lại cho chúng ta  một lời nhắn nhiều ý nghĩa,

Ngày 7.9.2020

NGÔ THẢO

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *