Thi sĩ Á Nam Trần Tuấn Khải: Nỗi niềm gửi lại…

VHSG- Đã thành thông lệ, hơn mười năm nay, cứ vào dịp cuối tháng 2, đầu tháng 3 dương lịch hằng năm, nhà thơ Trần Thị Lan (tức Lan Hinh) – con gái thi sĩ Á Nam Trần Tuấn Khải – lại tổ chức buổi lễ tưởng nhớ cụ thân sinh tại nhà tưởng niệm của gia đình ở phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, Tp HCM. Ngoài họ hàng, bà con và bạn bè thân hữu, còn có rất nhiều người yêu thơ, tao nhân mặc khách vẫn nhớ dịp này để tụ về.

Thi sĩ Á Nam Trần Tuấn Khải

Ký ức về một nhà Nho yêu nước

Năm nay, như thường lệ, người ta lại thấy nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý ngồi ở vị trí trang trọng nhất, trong tư cách người anh cả, cùng nhà thơ Lan Hinh đại diện cho phía gia đình cụ Á Nam Trần Tuấn Khải.

Nhờ duyên hội ngộ của cuộc đời và văn chương, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã được vợ chồng cụ Á Nam lúc sinh thời coi như con trai. Cụ Á Nam có phong cách của một nhà Nho, mà lại là nhà Nho đất Bắc nên ở nhiều phương diện, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý cảm thấy mình như người ruột thịt trong gia đình.

Ông nhớ lại: “Ngày xưa khi hai cụ còn sống, tôi nhớ nhất một buổi, bà cụ gọi tôi đến bên giường, kêu hai cô con gái lại rồi bảo, nhà này không có con trai, mẹ coi anh Tý là con, nên anh nói gì các con phải nghe”. Lời dặn ấy, nhiều thập kỷ trôi qua, cả nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý lẫn hai cô gái vẫn không quên.

Với nhà văn Sỹ Ẩn, kỷ niệm về cụ Á Nam lại bắt đầu bằng câu chuyện mẹ ông kể cho nghe về ngày bà tiễn chân chồng xuống tàu từ Nam Định vào Nam năm 1938. Hồi đó, mẹ nhà văn đã dùng những lời trong bài thơ của cụ Á Nam để tiễn chồng lên đường:

Anh khóa ơi! Em tiễn chân anh xuống tận bến tàu

Đôi tay em đỡ cái khăn trầu, em lấy đưa anh…

Anh khóa ơi ! Còi tu tu tàu sắp kéo cầu

Đường trần em sắp sửa gánh sầu từ đây.

Có lần sau năm 1975, khi nhà thơ Huy Cận vào công tác miền Nam, biết tin cụ Á Nam ốm phải nằm viện, có nhờ ông Sĩ Ẩn đưa tới thăm. Trên đường đi, Huy Cận cứ băn khoăn mãi chưa biết xưng hô thế nào cho phải với cụ. Lúc tới nơi, thấy cụ, Huy Cận bước tới ôm chầm và đột nhiên bật ra tiếng gọi “Anh khóa ơi”. Thế là hai người cảm động ôm nhau sau hàng chục năm xa cách.

Liên hệ tới những giá trị còn rất thời sự trong thơ ca yêu nước của cụ, Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã cho rằng, thơ ca yêu nước của cụ Á Nam Trần Tuấn Khải đã có tác động sâu sắc tới quần chúng nhân dân và phong trào đấu tranh giai đoạn đầu thế kỷ XX. Theo Tiến sĩ Nguyễn Nhã, hơn lúc nào hết, giới trẻ ngày nay nên đọc lại những vần thơ của cụ Á Nam, cũng như bồi dưỡng lòng yêu nước trong thời kỳ hòa bình, xây dựng.

Nhà văn Vũ Hạnh từng có thời gian làm việc cùng cụ Á Nam Trần Tuấn Khải ở lực lượng bảo vệ văn hóa dân tộc. Sau khi vào Nam, cụ Á Nam là chủ tịch danh dự của tổ chức này. Nhà văn Vũ Hạnh nói, ông chỉ có thể dùng hai chữ “tuyệt vời” để nói về con người và nhân cách cụ Á Nam.

Không chỉ bày tỏ lòng thán phục trước năng lực tự học của cụ Á Nam Trần Tuấn Khải, nhà giáo Nguyễn Quảng Tuân cho biết, trong quá trình nghiên cứu, ông đã chép tay và giữ lại được khoảng hơn 20 bản thảo các bài dịch thơ Đường của cụ Á Nam đăng trên báo Đông Dương tạp chí từ năm 1917.

Yêu mến cố thi sĩ Trần Tuấn Khải, nhà giáo Nguyễn Quảng Tuân cũng đã viết một bài hát nói có tên “Tấm gương tự học” dành tặng cụ. Bài hát nói có những câu như: Mới mười hai đã đọc sách Hán văn

Với phụ thân riêng cố gắng chuyên cần

Thành học giả từ những năm tiền chiến

“Hồn tự lập” bao nhiêu sáng kiến

“Bút quan hoài” thực lắm công phu

Chống thực dân hết vào khám ra tù

Theo gương sáng Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng…

Chưa hề có một tuyển tập Á Nam

Về bản thảo, tới nay, số tác phẩm đã in của cụ Á Nam Trần Tuấn Khải đã bị thất lạc khá nhiều. Cụ sinh năm 1895, tạ thế ngày 7/3/1983, bắt đầu in sách từ năm 1920. Với các bút danh Á Nam (thường dùng), Đông Minh, Đông Á Thị, Tiểu Hoa Nhân, Lâm Tuyền Khách, Giang Hồ Khách, Lôi Hoàng Cư Sĩ, cụ Á Nam Trần Tuấn Khải đã xuất bản hàng chục  tác phẩm. Về thơ có: “Duyên nợ phù sinh” I, II; “Bút quan hoài” I, II; “Hồn tự lập” I, II; “Với sơn hà” I, II; “Hậu anh Khóa”. Về tiểu thuyết có: “Gương bể dâu” I, “Hồn hoa”  và “Thiên thai lão hiệp”. Về kịch, cụ Á Nam có vở “Mảnh gương đời” (1925). Về dịch thuật, cụ cũng là một tên tuổi lớn, được độc giả nhiều thập kỷ nhớ đến qua các bản dịch: “Thủy hử” (1925), “Hồng lâu mộng” (1934) và “Đông Chu liệt quốc” (1934).

Trong cuốn “Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải” (NXB Văn học, Hà Nội, 1984), nhà thơ Xuân Diệu từng viết: “Tôi không quên lúc học lớp nhì, 14 tuổi, tôi mượn được quyển “Bút quan hoài”. Tôi chép vào quyển vở mới một số đoạn thơ thích nhất… Quyển vở thơ Trần Tuấn Khải quí báu của tôi, như là tiếng gọi của lương tâm!”.

Tuy nhiên, cũng theo nhà thơ Lan Hinh, hiện tại, bà không còn giữ lại được bản in nào trong số các tác phẩm đã xuất bản đó của cha mình. Dù rất muốn có thể tái bản các tác phẩm của phụ thân, song do tuổi cao, sức yếu, điều kiện tài chính hạn hẹp, bà Lan Hinh vẫn chưa thể thực hiện mong ước đó.

Nhà văn Sỹ Ẩn đề cập vấn đề bản thảo cuốn sách toàn tập Á Nam Trần Tuấn Khải. Theo ông, về việc này, trước đây ông đã trao đổi, bàn bạc với nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam và được ông nhiệt liệt tán đồng. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, chủ yếu do điều kiện, tới nay, Hội Nhà văn Việt Nam vẫn chưa thực hiện được tuyển tập đó.

Bà Lan Hinh thực sự mong muốn các cơ quan chức năng có những quan tâm và hành động cụ thể, thiết thực, để có thể cùng bà khôi phục lại di sản văn chương của cha mình. Ở tuổi ngoài bảy mươi, bà cảm thấy mình gần như lực bất tòng tâm trước ước nguyện này.

Còn đó những nỗi niềm

Ngoài tình cảm yêu quý, trân trọng về tài năng và nhân cách của thi sĩ Á Nam Trần Tuấn Khải, nhiều trí thức văn nghệ sĩ đã đề xuất những vấn đề liên quan tới nghĩa cử tri ân cố thi sĩ Trần Tuấn Khải vì đóng góp đáng kể trong thi ca, nghệ thuật.

Nhà văn Sỹ Ẩn cũng nhắc tới chuyện cần hợp thức hóa mảnh đất xây dựng khu tưởng niệm cụ ở quê hương Lộc Hà, Mỹ Lộc, Nam Định. Ông cho biết, khu đất huyện Mỹ Lộc, Nam Định cấp cho gia đình cụ Á Nam xây từ đường tới nay vẫn chưa được hợp pháp hóa trên giấy tờ, dù trong thực tế, chính quyền đã chấp thuận.

Bên cạnh đó, nhiều ý kiến đồng thuận trong đề nghị các đơn vị chức năng cân nhắc tới việc truy tặng cụ một giải thưởng xứng đáng, như Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, vì những đóng góp đã có

TRẦN ĐẮC LUÂN

THEO VNCA

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *