Thổ phỉ – Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam – Kỳ 2

VHSG- Sắn đã một lần được mang chân mệnh đế vương trùm lên thiên hạ. Đó là vào mấy năm đầu của những năm năm mươi. Phòng Tô là miệng của trời, là mường trời thét, song trước đây chỉ có sấm sét từ trời,  từ thổ ty họ Đèo, thủ lĩnh họ Giàng nối nhau chứ làm gì đến lượt những người Dao thấp cổ bé họng. Việt Minh tràn qua, mấy đại đội lính khố đỏ, khố xanh trấn giữ ở các nơi hiểm yếu phải đội lốt vịt lạch bạch chạy về phía Lai Châu, Điện Biên. Các thổ ty – những kẻ cùng nhau uống máu ăn thề, hứa cùng nhau quyết tử với Việt Minh trông trước trông sau rồi mạnh thằng nào thằng ấy chạy.

Nhà văn Đoàn Hữu Nam

Từ ngày bị Việt Minh đánh bật ra khỏi Sán Chải, phải chui vào rừng sâu nương náu Sắn luôn sống trong tiếc nuối, nhục nhã. Trong hơn ba mươi năm nhận biết được ở cõi đời chưa bao giờ hắn biết đến gục ngã. Vậy mà lần này…, hắn đau. Đau lắm. Đau như bị cắt mất bộ truyền giống. Thất bại trước những kẻ trên không chằng dưới không rễ đã là nỗi đau quá lớn, nhưng chưa thấm vào đâu với cảnh như con chó bị đuổi khỏi nhà. Cùng bị bứng theo hắn có hơn ba trăm đàn ông, trai tráng người Dao sinh sống quanh thung lũng Sán Chải mà thường ngày hắn vẫn gọi là chiến binh. Trong số hơn ba trăm chiến binh ấy chỉ có hơn hai mươi người thực sự làm con chó chuyên nghiệp giữ cửa. Số còn lại là những dân binh nửa vời. Người thì dây mơ rễ má trong dòng tộc. Người bị sợi dây luật tục buộc chặt. Người bị ruộng đất, nợ nần trói từ đời này sang đời khác. Thường năm, ngoài việc mùa vụ, có công việc của bản, của châu phải đến làm tập trung, còn bình thường, ban ngày họ được cầy thuê cấy rẽ, ban đêm thay nhau vác súng, vác kiếm đến nhà họ Triệu gác sách, tuần tra, hoặc ban ngày tuần tra, canh giữ, ban đêm về nhà uống rượu, ôm vợ. Họ là những kẻ đầy tớ trung thành, bảo canh giữ thì canh giữ, bảo đi theo thì đi theo. Cái đích của họ là được làm thuê, làm mướn, là được ăn cơm, mặc áo nhà họ Triệu. Làm cho nhà họ Triệu giầu có là được nương nhờ, dứt khỏi nhà họ Triệu là dứt khỏi con đường sống. Đời ông họ thế, đời cha họ thế, bây giờ họ là sợi dây nối tiếp mà thôi. Bộ đội Việt Minh tràn vào, theo tù và hiệu lệnh của Sắn, họ vội bỏ dở bữa cơm, bỏ dở đường cày vác súng đến đón đánh Việt Minh bảo vệ bản làng, thực chất là bảo vệ nhà họ Triệu. Bộ đội Việt Minh như lốc như bão khiến cả vùng chưa đánh đã vỡ, họ phải chạy theo họ Triệu vào rừng.

Những kẻ theo Sắn càng đơn giản bao nhiêu thì Sắn càng đau đớn bấy nhiêu. Dẫu đau, dẫu bực, dẫu xót Sắn vẫn tỏ ra mình là một thủ lĩnh cứng rắn. Không cứng rắn không được, mấy trăm con người bại trận vây quanh Sắn tỏ rõ sự ô hợp cả bên trong lẫn bên ngoài. Bình thường là một đám nông phu, lúc tập hợp giống như một nồi thắng cố, thua trận lại càng thảm bại hơn. Trước đây tiền bạc, quyền lực nhà họ Triệu thít chặt sợi dây vào cổ họ, tưởng như họ Triệu bảo sống là sống, bảo chết là chết, ai ngờ lúc lâm trận chúng mới phô ra sự hốt hoảng, bạc nhược. Cả đội quân toàn những kẻ nghe tiếng súng mắt đã dáo dác như gà con mất mẹ gặp diều hâu, vào rừng rồi mà hồn lúc nào cũng đau đáu phía gà gáy, bụng dạ lúc nào cũng như kiến cắn. Vậy mà vẫn phải nuôi nấng, vẫn phải phỉnh nịnh không nuôi, không phỉnh nịnh thì lấy gì mà chiến đấu, mà lấy lại cơ nghiệp, lấy lại uy thế.

Giữa lúc Sắn đang điên lên thì quan Ba Đờ ri nhô thân chinh đến tận hang ổ của Sắn tính kế lâu dài.

Quan Ba Đờ ri nhô là người Sắn mang ơn suốt đời. Là người coi việc cháy trước mặt, lửa cháy sau lưng là ghẻ lở, hòn than ủ trong bếp mới là gan ruột, quan Ba đã lấy việc người địa phương trị người địa phương làm trọng, coi việc huấn luyện, nuôi dưỡng người địa phương làm kế sách lâu dài. Có chính sách của quan các thổ ty họ Đèo, họ Giàng, họ Lù mới có cái thế để cát cứ, hoành hành. Có nuôi dưỡng, dạy bảo của quan dọc biên giới Tây Bắc mới có lớp chiến binh áo đen, áo chàm khét tiếng. Khi Sắn xung lính, có sự dẫn dắt, nuôi dưỡng của quan, Sắn mới leo lên được chức Đội, mới có thực lực lập nên đội quân người Dao ở Sán Chải. Tháng tư năm Ất Dậu, quân Nhật theo đường Sa Pa tiến đánh Phòng Tô, quân Pháp kháng cự không nổi phải bỏ đất chạy lấy người. Trước khi vượt cửa khẩu để chạy sang bên kia biên giới lánh nạn quan Ba đã kịp giao cho Sắn nhiệm vụ ở lại xây dựng lực lượng. Lúc đó bao nhiêu giá trị lộn nhào, mạnh ai nấy xưng hùng xưng bá, song dẫu hùng, dẫu bá, dẫu đội lốt mèo, lốt hổ, kẻ nào cũng phải nghe theo sự chỉ bảo ngầm của quan thầy, nhất là khi âm mưu tái chiếm Tây Bắc của người Pháp đang sôi sục. Trong cây gậy từ mẫu quốc những người Pháp bại trận ở Côn Minh đã lập ra Phái đoàn Năm nhằm cài cắm, xây dựng lực lượng tình báo, biệt kích tinh nhuệ chống phá Việt Minh. Ở Phòng Tô, người mà Đờ ri nhô nhớ tới đầu tiên là Sắn. Từ súng ống, đạn dược, từ chỉ đạo chiến thuật, chiến lược của quan thầy, Sắn đã đứng lên đánh tan bọn Quốc dân Đảng. Từ khích lệ tinh thần của quan thầy, Sắn đã đưa đội quân của mình ngẩng cao đầu sánh ngang với những thổ ty người Thái, người Hmông, người Pú Nả, những kẻ bao đời làm mưa làm gió ở đất này.

Lần ấy, theo lệnh của quan Ba Đờ ri nhô, Sắn cùng đám thuộc hạ thân tín đi Mường Xo để cùng tri châu họ Đèo, thủ lĩnh họ Giàng, họ Lù thành lập liên minh chống Việt Minh. Thực ra lúc đó các chúa đất mỗi người hùng cứ  mỗi phương, có kẻ nào chịu kẻ nào mà liên minh, đứt minh, có chăng chỉ là dịp để các thủ lĩnh thăm dò lực lượng của nhau, thực lực của người Pháp ra sao, lo được gì cho mình.

Đúng như Sắn dự đoán, cuộc họp của liên minh lộn nhộn chẳng khác gì một nồi thắng cố. Khác chăng nồi thắng cố ấy đáng lẽ được đặt giữa chợ thì nó lại được đặt trong cái hang tối tăm giáp biên giới Việt Trung. Khác nữa thầy cúng Đờ ri nhô không điều khiển các âm binh mà để cho các âm binh tự điều khiển lẫn nhau.

Cuộc họp đi quá nửa ngày mà vẫn lùng nhùng, mọi nghi thức xã giao, mọi lối mở bị chôn cứng trong những cái đầu u mê, tham vọng, chỉ đến khi quan Ba tuyên bố các thủ lĩnh vùng nào sẽ chỉ huy kháng chiến vùng ấy. Căn cứ vào quân số và khả năng tác chiến của từng vùng máy bay Pháp sẽ thả dù súng ống, đạn dược, lương thực, thực phẩm cho các thủ lĩnh thoải mái chi dùng trong năm năm, mười năm, lúc đó các thủ lĩnh mới hồ hởi như những kẻ đói khát được chia phần.

Thổ phỉ – Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam

Trong cảnh mập mờ sáng tối những kẻ ma lanh có ưu thế của con rắn trong đêm. Chuyến đi đó Sắn bắt được vàng mười. Còn hơn cả vàng mười. Lấy lại được Sán Chải là thông lại được huyết mạch, là chặn đứng một hướng Tây tiến của Việt Minh, là nòng cốt để lan tỏa ra cả vùng, là… là… Những lời có cánh từ miệng quan Ba thổi vào tai Sắn. Cùng với những lời có cánh ấy, Sắn được hứa cấp súng đạn, lương thực, thực phẩm, bạc trắng gấp đôi vùng khác, nhận thêm hai trăm tàn quân Tưởng Giới Thạch chạy sang nương trú, có quân Pháp, quân các thủ lĩnh khác hỗ trợ để đủ sức đương đầu với bọn Kinh thật, Kinh giả…. Đặc biệt là Sắn được phép chuẩn bị mọi điều kiện để xưng vua.

Sắn ngỡ ngàng, hắn không tin vào tai mình. Làm vua thì phải có uy, có tín, có tôi hiền, tướng giỏi, hoặc chí ít phải có đám dân đen mê muội đến quên thân. Còn hắn, đức là cái mo nang trôi sấp trên suối; uy mới đủ khuất phục những kẻ lệ thuộc; quân là một đám nhộn nhạo, ô hợp; tiền bạc, kho lẫm vào cả trong tay kẻ thù thì làm sao đã đủ sức xưng vương, xưng vua.

Triệu Tá Sắn – Đội Sắn được quan Ba tiếp rượu thông đêm. Qua quan Ba, Sắn vỡ ra bao nhiêu điều mà chính hắn đã từng làm, từng nghĩ.

Sán Chải – Mảnh đất hiểm yếu, núi giữ chân người, người giữ chân núi.

Sán Chải – Trước đây các tộc người sinh sống nơi đây  vốn cùng một gốc. Cũng chọc lỗ bỏ hạt. Cũng xe lanh dệt vải. Cũng lấy rừng làm nhà. Cưới cheo cô dâu theo hướng Đông vào nhà. Ma chay linh hồn theo thầy dẫn dắt về phương Đông tụ hội. Trước đây vì không hiểu nhau nên tay phải chém vào tay trái, máu đổ, đầu rơi. Bây giờ Việt Minh tràn đến. Thôn tính đất đai, vơ vét tài sản, làm cho bần hàn, cơ cực rồi đồng hóa là mục tiêu của bọn thống trị. Rồi đây con cháu người Dao sẽ chẳng còn biết đến Bàn Hồ, chẳng còn biết đến tổ tiên. Muốn Sán Chải này, Phòng Tô này, Tây Bắc này không thành rừng cây bị vặt trụi lá thì các bộ tộc phải quấn lấy nhau, phải tạo nên sức mạnh quét sạch bọn Việt Minh.

Xưng vua trong lúc cùng đường là việc làm điên rồ. Dù ta – Triệu Tá Sắn có chân mạng dẫn dắt thiên hạ đi chăng nữa thì lâu nay ta vẫn chỉ là kẻ a dua, là con dao trong tay kẻ khác, vòng hào quang trên đầu ta vẫn là mượn, là giả. Giữ chặt bọn nửa lính tráng nửa đầy tớ trong tay là chuyện đương nhiên, song nuôi chúng, gây dựng chúng thành công cụ lúc này là phải cho chúng lòng tin. Chúng không trực tiếp làm rối loạn lòng quân, không lôi kéo bè cánh, song ta đang ở tình cảnh chúng tin thì theo, không tin thì bỏ. Chúng mà bỏ thì sự nghiệp của ta sẽ là mô đất giữa lòng suối, lở được một sẽ lở mười và cuối cùng tất cả sẽ rữa ra rồi trôi theo dòng nước. Trong vòng xoáy của thời cuộc ta có muốn đứng ngoài, có cố tránh nó thì nó vẫn xoáy vào, hoặc phải dạt vào bờ bên này, hoặc phải dạt vào bờ bên kia. Nhưng dạt vào bến bờ nào? Theo Việt Minh ư? Bánh vẽ làm cho cái tai, con mắt no đủ nhưng cái bụng sẽ như cần cối đói nước. Làm người nước Pháp ư? Bao nhiêu năm đàn áp, mua chuộc, dụ dỗ, gây dựng trật tự sắt, vậy mà chỉ một cơn gió tràn qua người Pháp đã bị lật gốc trốc ngọn. Không! Một ngàn lần không! Tiền nhân đã dạy, Hà Bá mong mùa nước lũ để lấp cái dạ dày; hổ báo mong rừng động để khỏi phải khổ sở rình mồi, còn ta…. Biến hóa ư! Ta còn nguyên cái khéo léo của tổ tiên. Sức mạnh ư! Uy vũ của ta có cái thế của kẻ làm chủ núi rừng. Xưng vua là danh chính ngôn thuận, là tăng thêm sức mạnh, là dẫn dắt bọn dân đen chui sâu vào con đường mê muội, là nghiệp lớn sẽ thành. Quan Ba Đờ ri nhô muôn năm! Vua Dao Triệu Tá Sắn muôn năm!

***

Sau khi nhận lệnh của quan Ba, Triệu Tá Sắn ngồi thông đêm với thây mo Quấy – Người có thể giao tiếp được với thần linh.

Sắn dính với thầy mo Quấy định mệnh.

Lần ấy Sắn đi Tà Thàng tìm gặp quan Ba.

Giữa mùa nắng nóng,  tiếng sấm ì ầm doạ nạt chán chê mà ông giời không rặn nổi một giọt nước xuống trần gian. Ban ngày mặt trời nung cho những tảng đá nóng rẫy, phồng lên, bạc phếch. Ban đêm sương lạnh làm cho đá ướt át, co lại. Sự nóng lạnh bất thường khiến những rãnh đá nứt rộng dần  rồi tụt hẫng, lở ầm ầm xuống chân núi.

Sắn cùng đám hộ vệ đang thả ngựa nước kiệu trên con đường vắt ngang sườn núi thì gặp một người đàn ông râu dài, mắt sáng, vóc dáng khác người từ trong rừng đi ra. Nhìn thấy Sắn cùng đám hộ vệ hùng hổ cưỡi ngựa đi về hướng Tây, người đàn ông ngẩng mặt lên trời cười lớn rồi nói một câu cụt lủn: “Đi đằng Đông thì sống, đi đằng Tây thì chết.”.

Nhìn kẻ  mới cỡ tuổi mình đang ra cái vẻ tiên tri, Sắn bật cười, vung roi vút xuống. Kẻ ăn đòn không giật mình, không chống đỡ, hắn đứng lặng, mắt nhắm tịt, ngón tay trỏ của bàn tay phải đặt dọc sống mũi lẩm bẩm câu gì đó, có lẽ là thần chú. Sắn lẩm bẩm: “Đúng là thằng điên”, rồi ra roi cho ngựa vọt lên, đám hộ vệ của hắn vọt theo.

Sắn cùng đám hộ vệ qua ngã rẽ được một đoạn, thì gặp quan Ba  cùng đám tùy tùng đang trên đường đến thăm mình. Chủ tớ gặp nhau tay bắt mặt mừng, Sắn hớn hở cùng quan thầy quay về Sán Chải. Cả bọn vừa đi được một đoạn thì một góc đỉnh núi phía Tây toác ra, đất đá ầm ầm đổ xuống. Cả bọn hú hồn, bầy ngựa sợ hãi hết tung vó trước lại hất cẳng sau, đám quan, lính, tây, ta hồn xiêu phách lạc.

Qua cơn nguy kịch Sắn nhớ tới kẻ lạc loài gặp ở dọc đường mà giật mình, thán phục. Gã cho người dò hỏi thì được biết người đàn ông đó tên là Quấy. Bàn A Quấy. Quấy mồ côi cha, hiện đang nuôi bà mẹ mù lòa. Quấy thông minh, có tài đoán định như thần. Những lời đoán sấm đoán chớp của Quấy thường ban đầu không ai tin, khi việc sảy ra như giời định mới bừng tỉnh, mới thấy sợ, thấy phục. Một lần giữa mùa hanh hao, Quấy bảo sắp tới sẽ có mưa đá lũ quét. Mọi người mặc kệ lời hắn bay lên giời. Hắn không nói không rằng, lập đàn cúng tế ngay tại ruộng trước cửa. Đàn cúng, cách cúng của hắn khác người, chẳng ra Dao, chẳng ra Tày, chẳng ra Nùng…. Giữa một vùng trời đất ảm đạm, lam sơn chướng khí ngùn ngụt, màu đen tuyền của giàn cúng, đồ cúng, quần áo người cúng khiến người ta coi hắn là phù thủy hơn là một thầy cúng. Mà hắn phù thủy thật. Hắn cúng hai ngày hai đêm, đến ngày thứ ba thì trời đất vần vũ, một trận mưa đá ầm ầm trút xuống. Sau mưa đá là lũ cuốn. Các loài vật biết chạy, biết bò, biết bay, biết bơi cuống cuồng vọt ra khỏi chỗ ẩn ấp. Riêng hắn không. Mặc mưa, mặc gió, mặc lũ đá, lũ bùn, hắn vẫn điềm nhiên ngồi cúng. Không biết vì lòng thành hay hắn điều khiển được cả giời đất, ma quỷ mà dòng lũ đang hung tợn như con hổ bị lửa đốt đít phóng đến gần đám ruộng nhà hắn bỗng rẽ ngang sang hướng khác. Cả vùng qua cơn lũ, ruộng ven suối thành dòng sông đá,  cây cối, đất đá ngổn ngang, vùi lấp, riêng ngôi nhà và đám ruộng của hắn vẫn nguyên vẹn như được phù phép.

Sau trận mưa đá, lũ ống mọi người vừa kinh sợ vừa căm ghét hắn, coi hắn là quỷ, là ma, là kẻ rước họa. Mẹ con hắn bị đuổi ra khỏi bản. Trong cái cộng đồng phải nương tựa vào nhau như trong rừng cây tựa cây, dưới suối nước tựa vách đá, dứt ra khỏi bản coi như sống cũng như chết, vậy mà hắn vẫn nhơn nhơn, vẫn đưa ra những lời phán chết người, lời hắn thối đến nỗi thấy hắn ai cũng phải bịt tai, nhổ nuớc bọt.

Sắn tìm đến Quấy.

Nhìn hắn pha nước mời kẻ khét tiếng khắp vùng mà nét ung dung, tự tin, coi thiên hạ dưới tầm con mắt lộ rõ Sắn ngầm thích thú. Quấy có dáng người cao ráo, khuôn mặt thể hiện cá tính mạnh, nhạy cảm, ý chí lộ ra từ gò má gày gò, đôi lông mày rậm gãy rủ, nhân trung thẳng, sâu, rộng như ai hằn sâu vào đó cái ngòi bút.

Sau một hồi trò chuyện Quấy đã được lòng Sắn, được theo Sắn về Sán Chải. Dọc đường thấy đàn vịt quây trên bờ suối vươn cổ kêu quàng quạc đòi ăn. Vịt là loại sống dai, nhiều con bị lưỡi dao cứa ngang cổ, dốc sạch không còn một giọt tiết, đầu sắp lìa rồi mà chỉ cần buông tay ra là ngất nghểu chạy khắp vườn, lặn ngụp quanh ao, dọc suối như ma nhập. Bắt cả đàn vịt hóa kiếp không phù phép thì chỉ có cho ăn bả. Sắn mỉn cười tinh quái, bảo Quấy bảo  làm phép cho lũ vịt hóa kiếp. Quấy nhìn Sắn cười mỉn rồi chắp tay đọc thần chú, vái bốn phương tám hướng, hú ba tiếng động giời sau đó mở tấm phên cửa vây bước vào, đưa tay khoát nhẹ như bơi. Như có phép lạ, Quấy bơi đến đâu đàn vịt rủ xuống tới đó. Những con mắt chữ A cái mồm chữ O chưa kịp khép lại mà cả trăm con vịt đã ngả trắng xóa cả bờ suối.

Sắn bị Quấy thuyết phục hoàn toàn. Hắn kết nghĩa anh em với Quấy, đón cả hai mẹ con Quấy về nhà, coi hắn như Khổng Minh tái thế. Ở bên Sắn, Quấy không phải làm việc gì trừ chuyện đọc sách, đoán định vận giời. Nhờ cưu mang của Sắn, Quấy đã được kinh qua cấp sắc bẩy đèn. Mặt âm, Quấy điều khiển bẩy mươi hai âm binh làm mưa làm gió. Mặt dương, Quấy được kè kè bên Sắn, đêm ngày bàn chuyện thời cuộc, bày mưu tính kế. Sắn bản tính bạo liệt, ham hành hạ, giết chóc nên gây thù chuốc oán nhiều, nhờ may mắn, nhờ cảnh báo của Quấy, hắn đã bao lần thoát hiểm, đã giữ được uy thế của mình.

***

Được Sắn hỏi chuyện đại sự, thày mo Quấy bối rối. Thầy hoãn binh bằng việc bảo Sắn xưng vua phải được trời phù, đất phù, thiên cơ phát lộ. Lời thầy chọc vào tính tự ái của Sắn, hắn ngửa cổ lên trời nghiến răng rồi cười sằng sặc. Thầy mo Quấy sợ hắn phát khùng sẽ phạm vào chốn linh thiêng nên đã khuyên hắn muốn biết vận giời phải dọn mình ba ngày để làm thủ tục mở tranh. Trong ba ngày ấy hắn phải không giết người, không giết súc vật, không nói tục, không đàn ông đàn bà. Nghe lời quân sư, Sắn đổi ý, răm rắp nghe theo. Lễ mở tranh không được như ý. Mở đầu của lễ, chậu nước rửa tay của thầy, của người thụ lễ biến thành chậu máu. Vào lễ, con gà sống sau khi cắt tiết đầu một nơi, thân một nẻo vẫn bay loạn xạ quanh hang.

Điềm gở làm cho Sắn bực mình, hắn lồng lên rủa xả giời đất, thề không làm được vua không làm người. Sự cuồng loạn như trâu đực cột giữa bãi bị đuốc dúi đít của Sắn khiến thầy mo Quấy phải nén lòng lạy van giời đất, lạy van các thần phù hộ cho Sắn lên ngôi vua.

***

Việc xưng vua của Sắn diễn ra vừa thuận vừa nghịch.

Khi ông mặt trời vừa bắt đầu một cuộc leo trèo mệt nhọc thì  hơn ba trăm đàn ông trai tráng trong đội quân người Dao nhũng nhẵng bám theo Sắn ngược dốc lên đỉnh núi Phan Si làm lễ.

Hơn ba trăm con người, hơn ba trăm tâm trạng, buồn có, phấp phỏng có, hoảng hốt, lo âu có, song không đường cùng, không bĩ cực.

Hơn ba trăm con người, người đi trước dựa vào kẻ đi sau để vững bước, kẻ sau trông vào vết chân người đi trước để tìm chỗ đặt bàn chân. Tất cả đều hướng ngược lên người đi đầu là thủ lĩnh của họ. Cả đoàn nối nhau làm con rắn hổ mang khổng lồ trườn ngược. Dọc đường, cây cối gặp mưa phởn phơ, tươi rói, những cây vầu già mốc thếch như những chú trăn hoa dựng đứng rì rào chào đón.

Đỉnh Phan Si, chóp mũ của người khổng lồ đất Việt, nơi quy tụ sức mạnh, quy tụ khát vọng vươn tới của con người đồng thời thể hiện sức mạnh, chế ngự của thần linh.

Tương truyền từ thời dựng nước, vua Hùng cho sứ giả dâng thiên tử nhà Chu một đôi chim trĩ trắng để cầu thân. Chim trĩ trắng là con của thần núi Hoàng Liên, uống sữa núi Hoàng Liên lớn lên. Trĩ trắng tượng trưng cho tinh khiết, thanh cao, khéo léo, là linh khí của thần núi, thần rừng người đời ngàn năm mới gặp. Trong cái lồng sơn son thếp vàng, với trọng trách sứ giả của hòa bình đôi chim cùng đoàn sứ thần rời đất Việt. Qua nhiều ngày tháng lặn lội, cuối cùng đôi chim trĩ cùng gốc gác ly kỳ của nó cũng  được dâng lên thiên tử. Cảm kích trước tấm lòng hữu hảo, cầu thân của vua tôi đất Việt, sau khi cho lưu đãi thăm thú khắp nơi thiên tử lưu luyến tiễn đoàn. Với năm cỗ xe chỉ Nam do vua nhà Chu ban tặng, đoàn sứ thần lại lặn lội chín lần đổi trạm, lại vượt qua bao gian nan trắc trở. Cả đoàn về tới biên ải. Cả đoàn đang bày tỏ mừng vui hoàn thành sứ mệnh thì đã thấy đôi bạch trĩ vắt vẻo trên ngọn trúc nước Việt tự lúc nào.

Tương truyền đôi bạch tượng, linh chủ của dãy Hoàng Liên trước khi về xuôi để thần dân Chân Đăng dâng vua Lý đã quỳ phục trên đỉnh Phan Si bảy ngày bảy đêm. Trong bảy ngày bảy đêm ấy trời đất cây cỏ được tắm trong ánh hào quang rực rỡ. Ban đêm bầu trời, mặt đất sáng như ban ngày. Ban ngày mặt trời dịu mát như mặt trăng. Những cây cầu vồng bẩy sắc đan nhau như cái chài khổng lồ úp chụp lên đỉnh núi. Vua nhà Lý nhận được voi thần như rồng thêm vây, hổ thêm vuốt. Nhà vua đi bình Chiêm thắng Chiêm, mở rộng bờ cõi được bờ cõi, mở mang bang giao được bang giao, mở rộng sự học được sự học, phát triển canh nông được canh nông… Đất nước thái bình, nhà nhà, làng làng yên vui, từ vua đến dân ai cũng biết ơn voi thần, biết ơn thần núi Phan Si.

Đó là chuyện của xa xưa, chuyện của biển cả bao la, còn với các tộc người mưu sinh dưới chân núi Phan Si thì từ khi sinh ra họ đã tin linh hồn những người về với ông bà, tổ tiên đã nhập vào từng gốc cây, tảng đá. Thần núi, thần sông cùng tổ tiên, linh hồn người Dao, linh hồn các tộc người khác quấn quýt đã cho con người nơi đây có sức mạnh, trí tuệ, phù hộ cho họ sinh sôi nảy nở, gốc ngọn vững bền. Song cuộc sống đâu chỉ có sự thuận chiều. Trong thế giới ánh sáng và bóng tối ngự trị, trong cái vòng quay biến hóa của sinh, tử, tái sinh, biểu hiện sức mạnh, biểu hiện quyền năng của giời đất, thần thánh nhiều khi làm khốn khổ chúng sinh.

Việc nổi giận của giời đất, thánh thần được các cư dân quanh chân núi Phan Si cắt nghĩa qua hai lần thủy, hỏa và với hai lần ấy dân chúng đã phải hai lần leo lên đỉnh núi Phan Si tế lễ thần linh.

Đó là một lần nghiêng mình đổ nước ông giời đã gây cho sườn núi phía Tây của dãy Phan Si một trận lũ bùn kinh hoàng. Trong trận lũ ấy hai mươi nóc nhà chứa hơn một trăm mạng sống bị cuốn theo nước, bùn, cây cối ra sông Cái. Theo lời thày mo thì con người nơi đây đã xâm phạm chốn thâm nghiêm, linh hiển, can thiệp vào biến hóa thống trị vạn vật của giời đất, thánh thần. Đó là sự đẽo gọt mẹ rừng để thỏa mãn mưu sinh, là lạm dụng thần lửa để thiêu cháy sự sống, là… là…là phải làm lễ tạ tội với thần linh trên đỉnh Phan Si.

Lời thầy là lời thánh, cả bản nhìn lại những việc làm của mình, cả bản thành kính, hối lỗi, cả bản bám đuôi nhau theo thày mo gùi những vật hiến tế lên đỉnh Phan Si làm lễ.

Lòng thành kính cùng khát khao của dân bản đã làm rúng động đến trời đất, thần linh. Sau lễ cúng ba ngày ba đêm thì trời đổ mưa. Một dòng chớp sáng lóe lên xua hết đám mây mù lưu cữu khiến cho tảng đá thần cùng người, vật, cây cỏ trên chóp núi sáng choang như vừa được gột rửa. Ai nấy thở phào nhẹ nhõm. Với sự linh hiển của thần linh, của giời đất, người Sán Chải đã tìm kiếm và lấy về chín mươi nhăm cái xác trong số hơn một trăm cái bị làm mồi cho thần sông thần suối. Dưới sự che chở của thần, của giời đất, màu xanh nhanh chóng trùm lên khắp rừng khắp núi; người, vật hân hoan trong cuộc sinh tồn, năm nối năm mưa thuận gió hòa, trời yên vật thịnh, thóc lúa đầy gác, trâu ngựa đầy chuồng, hội hè như con suối chảy giữa làng bản hết mùa này sang mùa khác.

Sự hội tụ của Thiên – Địa – Nhân tưởng như quanh năm chỉ biết đến rộn rã hội hè, rộn rã mùa vụ, nhưng không! Năm nọ không biết do con người cố tình làm ô uế thần linh hay thần linh cố tình thể hiện sức mạnh  mà từng nhà, từng nhà quanh chân núi lần lượt bị thần lửa hỏi thăm. Trong suốt những ngày ấy rừng núi răng rắc chuyển mình, cây cối ầm ầm trút lá, chim muông bật ra khỏi tổ vỗ cánh rợp trời, thú to thú nhỏ lao ra khỏi chỗ ẩn nấp, con người lấy hang hốc làm cứu cánh… Kinh sợ hơn là người ta nhìn thấy một con rồng lửa khổng lồ, khi ẩn, khi hiện. Con vật linh thiêng chuyên bảo vệ những nơi linh thiêng, diệt cái ác, tôn phù cái thiện, bảo vệ sự bất tử bỗng chốc là hiện thân của sự kinh hoàng.

Thần rồng cuộn ngang cuộn dọc khắp bầu trời. Hai mắt thần như hai ông mặt trời thu nhỏ nhìn vào đâu là chỗ đó rực sáng, lưỡi liếm vào chỗ nào là chỗ ấy thành tro bụi. Sán Chải bị lưỡi thần liếm đến ngôi nhà thứ năm mươi thì không còn cách nào khác mọi người lại bấu víu vào thày mo. Thầy mo không còn cách nào khác lại bấu víu vào thần núi đỉnh Phan Si, cả bản lại làm một cuộc hành hương cực nhọc. Lần này, trong khi thầy làm lễ, trời đất ầm ầm chuyển động, đang trong nắng rực mà sấm chớp xé toác bầu trời, cơn giông kèm theo mưa đá ầm ầm lướt qua. Sau cơn giông một con rắn trắng nằm chảy thượt từ đỉnh núi tới tận chân núi. Dân bản theo thày mo xuôi theo cái xác rắn khổng lồ, họ đã lấy được hàng lô hồng ngọc trôi ra từ miệng rắn.

Sau hai lần tế lễ linh nghiệm người Sán Chải gắn chặt linh hồn vào thần núi Phan Si. Sinh nở họ hướng về phía thần núi cầu khấn. Ốm đau – hướng về phía thần núi khẩn cầu. Tai ương, mùa màng, về với tổ tiên – hướng về phía thần núi… Hầu như những việc lớn, việc nhỏ của đời người, của cộng đồng đều có sự tham gia, chi phối của thần.  Thần là mối liên kết giữa con người với con người, con người với thần linh, hiển hiện khát khao của con người.

Lần này, theo lời của thầy mo Quấy, theo lời thủ lĩnh Triệu Tá Sắn thì bọn Kinh áo đen, Kinh áo chàm ở Tây Bắc đang hợp sức đón bọn người Kinh ở cuối dòng sông lên xâm chiếm mảnh đất tổ tiên, đưa người Dao Sán Chải đến tuyệt diệt. Muốn bảo vệ giống nòi, muốn gìn giữ mảnh đất cha ông thì phải đánh đuổi bọn chúng. Muốn đánh đuổi được thì phải hợp sức lại, phải được thần núi Phan Si giúp sức, người Dao phải có vua của mình, vua đó chính là thủ lĩnh Triệu Tá Sắn, lễ xưng vua phải có sự chứng kiến, phù hộ độ trì của thần.

***

Đoàn người theo thủ lĩnh Triệu Tá Sắn lên tế lễ trên đỉnh Phan Si bám nhau ngược núi. Càng lên cao không khí càng loãng, bầu trời như bị ụp xuống, sương mây quấn quýt, bảng lảng trên cây, trên lá, con đường lúc chìm trong rêu, trong cỏ, lúc bắt chân người sục trong mùn, trong lá mục. Hai bên đường  miên man những cây sồi, sến, táu, dẻ, de, dổi lực lưỡng. Cây khoe tuổi mình bằng những lớp vỏ xù xì, mốc thếch, bằng từng mảng địa y ken dày, bằng cách thờ ơ với những toan tính của con người. Cây giống như những nhà hiền triết giấu mình ngàn năm trong biển mây màu xám bạc. Những tán lá xòa ra, đan nhau kết thành thảm xanh dày đặc khiến cho cả khu rừng thành mái nhà khổng lồ, mưa xuyên khó thấu, nắng khó dọi qua. Dưới gầm mái nhà màu lục là phong lan. Phong lan nhiều vô kể. Lan thả trên cây xuống. Lan bám vào vách đá vươn ra. Lan chui lên từ mùn đất. Các mầu tím, vàng, trắng của hoa như những cô gái dậy thì, vừa cố giữ vẻ e ấp, thẹn thùng, vừa hong hóng phơi bày vẻ đẹp giời cho trong mây, trong gió.

Đoàn người vừa chui ra khỏi rừng già đã phải đối mặt với phễu gió. Hai dãy núi như hai cánh cung chạy đến đây bỗng hụt hơi tụt sâu xuống thành một vệt răng cưa lồi lõm. Những ngọn gió vô hồi quanh năm đuổi nhau từ Tây sang Đông bị ép chặt bởi hai cánh cung được dịp tung hoành. Khắp một dải núi hoang tàn vì gió. Gió không thành cơn thành lớp mà cứ ào ạt như đổ sỏi. Gió như bốc cả người, cả vật, cây cối ném xuống hõm đá. Gió vót nhọn từng mấu đá, xoa nhẵn từng mỏm đá. Gió làm cho cả một vùng đất đá mênh mông chỉ có rêu và những búi trúc quân tử ngang tàng mọc được. Rêu kết thành một tấm thảm khổng lồ bám vào mặt đá, mặt đất. Chui lên từ thảm rêu dày là những bụi trúc quân tử lơ thơ, thân sắt lại như đá, lá bị vót nhọn như mũi dao. Ngày cũng như đêm trúc cựa quậy, rên rỉ. Biết làm sao được, cây không tự mình bò ra khỏi biển gió thì đành phải bóp nhỏ thân, bóp nhỏ lá để tránh gió, để la đà làm bạn với mặt đất, dựa vào mặt đất. Rêu giữ nước, cây giữ đất, làm giầu cho đất, có cây, có rêu cái cái phễu khổng lồ này mới có sự sống.

Qua phễu đá đoàn người chạm vào rừng trúc phất trần. Đúng là trúc núi Phan Si. Những cây trúc to hơn ngón tay ken dày như vườn cây cảnh. Cây lá vấn vít cùng mây khiến cả vùng lãng đãng như trong tranh cổ của người Tàu. Là họ hàng nhà tre, song trúc ở đây không uốn éo, cong cớn, chúng thẳng từ gốc đến ngọn, thẳng từ lúc còn măng, thẳng từ hàng, từ lối.

Qua rừng trúc mọi người như đi lên trời. Chìm trong mây, trong gió là những cây tùng còn sót lại từ thủa hồng hoang. Cây ở đây to nhưng lùn, rễ trồi lên gân guốc, địa y, phong lan ken kín làm cho chúng như cây cảnh. Quanh những cây tùng, cây bách là thảm hoa mênh mông. Trong nắng nhạt bủa vây cả một sườn đồi ngời ngợi sắc hoa đỗ quyên, anh đào, vàng anh, chè tuyết… Những cây hoa không vươn cao mà tỏa ra, la đà bò rộng. Chúng không cần làm duyên cho loài nào mà cứ tự nhiên với vòng quay tàn nở khiến cho mọi người cảm tưởng đã chạm được tới thiên đàng. Dọc đường, những con thú nhỏ dạn người thập thò, ngơ ngác rồi coi khinh, tiếp tục những trò chơi muôn thủa của mình.

Ngày kiên nhẫn ngược dốc, đêm nghỉ, đến sớm ngày thứ sáu đoàn người lên tới chóp núi Phan Si.

Theo lệnh của thầy mo Quấy mọi người dọn dẹp, chuẩn bị làm lễ. Một con dê, một con lợn được chọc tiết ngay tức khắc. Khi bụng con dê mở ra, quả mật to như quả gấc dính với lá gan, lá lách lằng nhằng làm mọi người mắt tròn mắt dẹt.

Quả mật được đưa lên cho thủ lĩnh Triệu Tá Sắn. Thủ lĩnh họ Triệu tái mặt hỏi thầy mo Quấy. Thầy mo Quấy gật gù hài lòng, thầy bảo:

– Ngày xưa vua nhà Lý đi đánh Chiêm Thành, khi làm cỗ Thái lao, mổ con dê ra, thấy trong bụng dê có cái mật to bằng quả bưởi. Mọi người thất kinh nhưng vua vui vẻ nói: “Chữ “đám” tức mật, gần với chữ “đam” tức vui. Cỗ thiếu lao mà có mật to báo cho ta chỉ khó nhọc một chút mà được niềm vui lớn”. Mọi người quỳ rạp chúc mừng vua cha song trong bụng nghi hoặc như đang đứng trước câu đố của giời. Trận ấy vua thắng lớn, bắt được cả vua tôi Chiêm Thành. Hôm nay thủ lĩnh làm lễ khởi sự dựng nghiệp đế vương mà được quả mật to thế này thì khác gì vua nhà Lý đi đánh Chiêm Thành ngày xưa.

Thủ lĩnh họ Triệu  mừng rỡ kêu lên:

– Trời đất đã đón được ý ta rồi! Thần núi, thần suối, thần sông phù hộ ta rồi!

Sắn chưa dứt lời, trên trời, bầu trời đột nhiên vần vũ, từng đám mây đen ùn ùn kéo tới, phút chốc mặt trời chìm nghỉm trong cái ô mang màu chết chóc. Dưới đất, rừng núi lặng phắc như trước đám tang, lam sơn chướng khí bốc lên ngùn ngụt khiến từng đàn chim nhao ra khỏi tổ kêu inh ỏi, từng đàn khỉ, vượn lao ra khỏi hang ngửa mặt lên trời hú hét…

Mọi người kinh hãi hướng lên chóp núi Phan Si quỳ rạp.

Thầy mo Quấy môi bậm chặt, quai hàm bạnh ra, nét mặt như hóa đá. Thầy nhìn giời, nhìn đất, nhìn chóp núi rồi lẳng lặng cúi đầu vái bốn phương tám hướng, rền rĩ kêu cầu tam tầng tứ thế mở rộng lòng thương cứu giúp những người đang hy sinh thân mình vì nghĩa lớn.

Lời khẩn cầu của thầy thả lên bầu trời – bầu trời roãng ra, mặt trời thành miếng tiết hằm hè cảnh báo một mùa bão tố.

Lời khẩn cầu của thầy thả vào lòng rừng, lòng núi – thần núi, thần rừng, thần gió trở mình, một cơn lốc ào đến cuồng nộ bứt phá, lay dạt khiến vạn vật phải gồng lên chống đỡ, ba trăm con người mê muội phải nằm rạp xuống đất, bịt mặt, bịt tai phó mặc cho số phận.

Lời khẩn cầu rền rĩ, dai dẳng cuối cùng cũng lay động được lòng giời, lòng đất. Mặt trời cuối cùng cũng phải lùi lũi chui vào trong núi mây. Thần gió cuối cùng cũng hết hơi hết sức, phải theo lòng khe, lòng rừng trôi xuôi xuống chân núi.

Trong dáng vẻ thần bí, thầy mo Quấy kết thúc bài khẩn cầu bi hùng của mình bằng một câu ráo hoảnh:

– Thiên cơ mách bảo, muôn sự muốn thành phải biện đủ lễ, cúng đủ ngày, không thể đi tắt đón chặn được.

Thủ lĩnh họ Triệu ớ người không hiểu.

Thầy mo Quấy bảo:

– Tức là lễ vật cúng thần phải dâng đủ ba sáu con vật, mười loại ngũ cốc, năm loại rượu, ba loại thuốc lấy từ rừng, từ ruộng.

Triệu Tá Sắn thất kinh.

Các thuộc hạ của Sắn nhìn nhau lắc đầu.

Sắn vò đầu bứt tai, đi đi lại lại rồi dừng lại trước thầy mo:

– Giữa núi cao vực sâu, trốn chui trốn lủi thế này lấy đâu ra từng ấy lễ vật bây giờ.

Thầy mo Quấy lẳng lặng với cái điếu, tra thuốc, châm lửa. Khói thuốc cùng với làn sương mây bảng lảng vấn vít quanh cái dáng hiền triết đang thiền.

Sau một hồi suy ngẫm, thầy thủng thẳng:

– Có cách chữa rồi đấy, nhưng phải có lòng thành mới làm được.

Sắn sốt ruột:

– Cách gì, ông nói ngay đi, cứ như trâu ăn no thế này sốt ruột lắm.

Thầy khoát tay một vòng:

– Làm việc lớn không vội như mổ thú mắc bẫy được, phải làm cho thần rừng, thần núi thấy được từng này cái lòng mới thành được.

Mọi người nhìn nhau dò hỏi.

Thầy:

– Đừng có như đang chui qua rừng ma thế. Mọi việc ta đang làm, lòng ta đang nghĩ thế nào đều có các thần chứng giám. Khởi sự cái việc rúng động cả trời đất càng có sự chứng giám. Muốn biện đủ lễ vật lấy từ rừng, từ ruộng ư? Dễ thôi! Trời đất, thần phật ăn hương ăn hoa chứ có ăn thật bao giờ. Quanh ta bạt ngàn cây cối. Quanh ta toàn những bàn tay tài hoa, nếu tất cả cùng một lòng thì việc gì mà không làm đươc.

Mọi người ồ lên:

– Một lòng chứ, không một lòng thì lên đây làm gì!

– Tất cả theo thủ lĩnh thôi, thủ lĩnh bảo lên rừng lên rừng, bảo xuống vực xuống vực mà.

– Thủ lĩnh sống chết vì Phòng Tô thì chúng tôi cũng sống chết vì Phòng Tô thôi.

Triệu Tá Sắn đứng ngây người, cánh mũi nở dần như cánh hoa ăn sương.

Thầy mo Quấy:

– Vậy thì tốt, các vị mang lòng thành của mình vào việc đi. Hãy nhớ ai có ý nghĩ hai lòng, ai nghi ngờ các thần là đan bồ câu thành quạ, đan hổ thành lợn lửng đấy.

Lời cảnh báo của thầy lập tức nhập vào từng người. Mọi người nhìn thầy, nhìn nhau, đôi mắt rực sáng như đang lên đồng. Theo lệnh của thầy mỗi người cho vào mồm một đồng bạc trắng rồi tản vào rừng. Người chặt nứa, chặt giang đan các con vật. Kẻ lấy đất nặn nồi, nặn các loại ngũ cốc. Kẻ chặt cây làm giàn cúng, lột vỏ cây để làm dép, làm khố…, đồng bạc trắng trong mồm vừa thành bùa hộ mạng, vừa nhắc họ đang làm một việc thiêng liêng.

Chưa đầy hai canh giờ giàn cúng và lễ vật đã làm xong.

Thầy mo Quấy tay cầm hương, chân đi vòng quanh, miệng niệm thần chú. Thầy tung hoa lửa, thầy phun nham thạch, thầy lên đồng hú hét, nhảy quanh lũ con chim, con thú  đan bằng lạt nứa, lạt giang.

Mặt đất rùng rùng chuyển động, trời đất vần vũ.

Mọi người mắt nhắm nghiền, toàn thân run sợ ngóng theo vận giời, vận đất.

Trời yên, đất lặng, một vệt sáng chói lòa xoẹt qua làm mọi người bừng tỉnh. Ai nấy đều ngỡ ngàng, một thế giới loài vật vừa thật vừa giả, vừa chết vừa sống ngổn ngang trước mắt. Thế vào thế giới thần chết là thế giới thần sống. Voi đực hua vòi, mèo hớn hở, chuột nhắt tinh khôn, trâu nhà suy tư, uể oải, lợn mẹ quấn lấy đàn con, dê, bò hớn hở, hổ ngồi chồm hỗm chầu giời, chó nhà nằm cạnh chó rừng, cá chép ngáp trên thớt, sóc lo ổ, chim lo tổ… tất cả hiền lành, tất cả là bạn với người, là bạn với nhau.

– Đến lúc bày giàn cúng rồi đấy! – Thầy mo Quấy ra lệnh.

Thủ lĩnh Sắn và đám tay chân răm rắp như những âm binh nghe lời thầy phù thủy.

Chỉ một loáng giàn cúng đã bày biện xong xuôi. Trên giàn cúng được tết bằng nan tre có ba con vật hiến tế là gà, lợn, dê vừa đi từ cõi sống sang cõi chết nằm phủ phục, đầu hướng đầu lên mỏm đá đỉnh núi. Hướng theo chúng là lũ chim, thú, cá từ cõi chết sang cõi sống. Các vật tượng trưng cho vũ khí, các loại bẫy, nông cụ, vật dụng trong nhà được bày đặt theo trình tự, tôn nghiêm. Ngọn đuốc bằng gỗ pơ mu phơi nỏ cháy đùng đùng như tẩm dầu vừa làm cầu nối giữa giời giữa đất, vừa xua đi cái hoang vu giá lạnh của nơi quanh năm không có hơi người.

Sau giàn cúng là ba trăm con người trong vai những chiến binh thời trung cổ. Ba trăm con người đóng khố, đi dép vỏ cây rừng, trong tay người nào cũng giáo mác, khiên đao làm bằng gỗ đẽo.

Thành kính, mê muội bao trùm.

Thủ lĩnh họ Triệu đi quanh giàn cúng gật gù vẻ hài lòng. Sự mê hoặc có sức mạnh bằng cả một đạo quân. Trong cảnh trốn chui trốn lủi, giữa vùng rừng núi mênh mông, thiếu thốn trăm bề mà chỉ vài câu sai khiến đã có một giàn cúng tế. Dẫu giàn cúng không được bẩy tầng lộng lẫy, không bày biện đủ các con vật, vật dụng phục vụ thần linh, phục vụ con người, song cũng đủ để tỏ rõ lòng thành với giời đất, với các thần, đủ để đám thần dân mê muội tự nguyện nhảy xuống nước, chui vào lửa.

Trong nghi thức trang trọng, trước sự thành kính của hơn ba trăm con người, thầy mo Quấy bình thản trộn tiết lợn, tiết gà, tiết dê vào nhau, vò nát nắm lá rong riềng dại, nhúng vào chậu tiết rồi lần lượt bôi lên các hòn đá, cây cỏ mời các thần về dự lễ.

 ĐOÀN HỮU NAM

(Còn tiếp)

TIN LIÊN QUAN:

>> Đoàn Hữu Nam – Từ công nhân làm đường đến nhà văn

>> Thổ phỉ – Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam – Kỳ 1

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *