Tiểu thuyết dã sử “Vua không ngai” Phan Ba Vành

Đại văn hào Nga Lev Tolstoy viết tiểu thuyết lịch sử Chiến tranh và hoà bình dày 1.600 trang trong 6 năm, khi cuộc chiến đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Ông không tin những người viết tiểu thuyết – nhất là tiểu thuyết lịch sử – dưới 30 tuổi. Ông lại càng không tin những người đã trên 70 tuổi mà còn đủ minh mẫn tỉnh táo để viết thể loại này. Theo ông thì tuổi vàng của tiểu thuyết gia là từ 35 đến 55 tuổi.

Bìa tiểu thuyết dã sử “Vua không ngai” của Phan Đức Nam

Tác giả gần 70 tuổi mới chính thức bắt tay vào viết tiểu thuyết dã sử Phan Ba Vành, dẫu đã được ấp ủ từ lâu, viết trong gần 2 năm mà chỉ được gần 600 trang, đó là nhờ đã viết trước từng chương đoạn, có kết cấu truyện ngắn, in rải rác trên các báo. Đến giai đoạn cuối, tác giả mới sắp xếp những truyện ngắn này thành tiểu thuyết xuyên suốt, nói về nhân vật có thật trong dòng họ, đã được sử sách ghi chép và dân gian truyền tụng cách đây hơn 200 năm, đó là lĩnh tụ nông – ngư dân Phan Ba Vành, ông đứng lên khởi nghĩa chống lại triều đình phong kiến áp bức thời Minh Mạng (thế kỷ XVII).

Do viết về nhân vật có thật là người trong dòng họ, nên tác giả hết sức cẩn trọng, khách quan, vì chỉ cần tô vẽ hơi quá là sẽ bị phát hiện, đánh giá là có ý khoe trương.

Từ kinh nghiệm của các tiểu thuyết gia viết lịch sử xưa nay, các nhà nghiên cứu lịch sử, các lý luận gia, học giả… Tác giả thấm thía lời dặn của bác học Lê Quý Đôn, cho đến nay ông vẫn được ca tụng là: “Thiên hạ vô tri vấn Bảng Đôn” (Thiên hạ có điều gì không hiểu thì cứ hỏi Bảng nhãn Lê Quý Đôn). Ông đọc nhiều, hiểu rộng, đã thận trọng căn dặn: “Những việc chính sử ghi chép, cho dù hoàn hảo đến mấy, cũng không thể hoàn toàn tin theo được”.

Còn văn hào Maxim Gorky thì khẳng định: “Lịch sử đích thực của con người phải do nhà văn viết, chứ không phải do các nhà viết sử viết ra”.

Thật vậy, nhà viết sử mà chỉ chép lại sử cũ, thì chỉ là người chép sử biên niên, bởi họ lệ thuộc vào nhiều yếu tố, bị áp lực, sự chi phối, ảnh hưởng quan niệm thời đó, bởi thiên kiến cá nhân, trình độ nhận thức…

Các sử gia triều X đương nhiên phải ghi chép theo chủ trương của triều X, phải bênh vực, nói hay về triều đại mình đang phục vụ, dè bĩu chê bai, thậm chí nói sai về những nhân vật triều Y vừa bị triều X lật đổ.

Chỉ cần đưa ra một ví dụ xa xưa như nỗi đau của Nguyễn Trãi – Nguyễn Thị Lộ, nếu cứ tin vào “chính sử” sau khi Lê Lợi mất, thì Nguyễn Trãi dẫu là đại công thần khai quốc vẫn bị khép tội phản chúa, bị tru di tam tộc… Nỗi đau oan khuất sau này mới được vua Lê Thánh Tông giải oan. Các sử gia về sau lúc đó mới dám nhìn lại, nhận định, ghi lại cái đúng và vạch rõ sự sai.

Vậy thì các nhà viết truyện lịch sử cần phải sáng suốt, dũng cảm, giải mã những tồn nghi. Những nhân vật lịch sử được phục hồi, sống động, phong phú và chân thực hơn. Như mỗi hoạ sĩ vẽ người mẫu của mình qua từng góc cạnh và ánh sáng soi chiếu. Cảm thức nghệ thuật, cảm thức lịch sử của mỗi tác giả, có được đông đảo người thưởng lãm sau này chấp nhận hay không là tuỳ vào tác phẩm của họ. Điều căn bản trước tiên là phải Đúng, sau đó là Đẹp. Bông hồng dẫu trong đêm tối vẫn là bông hồng. Người viết truyện lịch sử có nhiệm vụ viết tiếp, có khám phá, sáng tạo, làm phong phú và sáng thêm lịch sử, không được bôi nhọ hay làm lu mờ lịch sử, cũng không hoàn toàn chép lại. Độc giả cần những cái nhìn mới, hợp lý, nếu không thì họ chỉ cần đọc lịch sử là xong.

Nhà văn Phan Đức Nam

Trong quá trình viết tiểu thuyết dã sử Vua không ngai nói về lãnh tụ Phan Ba Vành, tác giả đã nhiều lần về quê Thái Bình, thâm nhập vùng Sơn Nam Hạ ngày xưa, hỏi thăm ghi chép những câu chuyện kể liên quan. Trong những chuyến thực địa dã ngoại, tác giả đã lang thang trong những cánh đồng mả, lắng nghe hồn tử sĩ than khóc, theo thuyền chài ra những chòi canh ngao dựng ngoài khơi xa, nghe gió hú hát, sóng biển gầm gào, thấm thía phần nào nỗi buồn cô đơn của chinh nhân xa xứ, khách lục lâm phiêu bạt giang hồ… Liên tưởng đến những trận thuỷ chiến bạo liệt ngày xưa…

Các địa danh cũ được tái hiện để thích hợp với không khí và cảnh vật xưa.

Nhà tiểu thuyết Pháp Alexandre Dumas viết: “Lấy kim văn để thuật cổ sự là điều chướng tai, nhưng chồng chất các tiếng cổ địa phương cũng lại làm người đọc vất vả chán nản”. Do đó tác giả cố gắng sử dụng văn phong ngôn ngữ bình dân miền đồng bằng và duyên hải Bắc bộ.

Những sử tích và các chuyện kể có liên quan đan xen, cốt làm sáng thêm thông tin và tính cách nhân vật, tăng tính hấp dẫn, nhưng vẫn bám sát sườn cốt lịch sử, để chuyện gần gũi với đời thường, không hoang đường mị hoá.

Những tồn nghi chỉ để tham khảo, nghiên cứu giải mã sau này.

Tác giả cố gắng trong khả năng có thể. “Hữu khai tất tiên” – công lao chính là nhờ những người đi trước, đó là các nhà nghiên cứu lịch sử, các tác giả đã bỏ công sưu tầm, biên soạn, tổng hợp. Nhà văn Bút Ngữ (Phan Đình Khương) là chú họ tác giả khi còn sống đã nhiều lần nhắc nhở, thậm chí phiền trách: Sao cháu không cố gắng viết dài thêm hơi thở dòng họ tổ tiên? Xưa cụ Phan Ba Vành bị xem là giặc, đến nay được Nhà nước nhìn nhận ghi công, xây Đền thờ tưởng nhớ. Ngày khánh thành Đền sao cháu không về thắp hương?…

Rất tiếc thời gian đó đại dịch Covid hoành hành, Hội đồng hương Thái Bình tại TP. Hồ Chí Minh không thể tổ chức, tác giả không về theo được. Tiểu thuyết dã sử Phan Ba Vành mãi 5 năm sau mới hoàn thành, xin được xem như lễ vật tạ lỗi.

Rất mong được sự lượng thứ, đóng góp quý báu của các bậc trí giả và độc giả khắp nơi, để những lần tái bản sau được hoàn chỉnh hơn.

Đa tạ.

Viết tại Đền thờ Phan Ba Vành, tháng Giêng 2023

PHAN ĐỨC NAM

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *