– Anh an tâm, chân cứng đá mềm, đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Em ở nhà chờ anh… – Hải nước mắt ngắn dài cố nói vài lời động viên chồng.
Thời gian tuy ngắn ngủi nhưng Thắng cùng Hải kịp tổ chức đám cưới giản dị, đầy đủ lễ nghi và hạnh phúc. Chung sống bên nhau chưa hết tuần trăng mật, chưa quen hương vị vợ chồng, anh về đơn vị. Ngồi trên xe khách, anh ngập tràn nỗi nhớ thương vợ, nhớ dáng người dong dỏng cao, khuôn mặt trái xoan, miệng cười xinh lấp lánh chiếc răng mạ vàng… Tiếng tàu bay Mỹ gầm rú, bom nổ rung chuyển cả bầu trời đã xua tan nỗi nhớ và anh nghĩ đến nhiệm vụ của mình…

Ngày ấy, làng xã có đội văn nghệ nghiệp dư, thường diễn một số trò tuồng, tích cổ rất hay, ý nghĩa và bổ ích cho bà con xem sau một ngày lao động mệt nhọc. Ban ngày Hải chăm chỉ làm ruộng, đêm đêm thui thủi một mình trong căn nhà trống vắng rất buồn, nhớ chồng nhưng đành phải chấp nhận vì biết anh ở đâu mà đến thăm! Buổi tối tham gia tập luyện và biểu diễn văn nghệ, chị thấy vui vẻ, khuây khỏa nỗi nhớ chồng. Chị son rỗi, hình thức khá đẹp, có chút năng khiếu nên được kén chọn vào vai “công chúa”, diễn hay, được khán giả yêu thích, khen ngợi. Công chúa sánh vai với vua, là anh Tác, khá điển trai, phong độ, đã có vợ con, nhiều hơn chị vài ba tuổi. Cảnh diễn tuồng làm cho họ trở thành một cặp tình nhân, ngoài đời càng nhân tình hơn thế.
Rồi đêm thâu vắng vẻ, chỉ có hai người đã “nếm trải mùi đời” và lửa gần rơm khô lâu ngày bùng cháy! Chị mang thai, sinh bé trai kháu khỉnh, khỏe mạnh, giống bố Tác như lột. Trong làng, chín người mười ý kiến: “Tại chị Hải văn nghệ đêm hôm, khi chồng đi xa!”. “Tại anh Tác máu dê, thấy gái đẹp là làm tới, không biết chồng cô ta là bộ đội hay sao?”. “Tại thằng Mỹ nên vợ chồng phải xa nhau, nên chị là nạn nhân…”. Nghe dân làng tiếng bấc, tiếng chì, Hải xấu hổ, tự giác nhận “án kỷ luật”, về nhà mẹ đẻ, làm ruộng nuôi con.
Thắng được về phép, chấp nhận đơn ly hôn của Hải. Dân làng kính trọng bố mẹ Thắng tham gia du kích chống giặc Pháp càn quét những năm 1950, anh dũng hy sinh góp phần tô thắm danh hiệu xã anh hùng lực lượng vũ trang. Ai cũng thương anh mồ côi vất vả, gian khổ, khen anh là có ý chí, nghị lực, rất chăm chỉ, học giỏi nên đã tốt nghiệp cấp 2. Được anh em nội ngoại bao dung vật chất, động viên tinh thần… ba chị em côi cút bên nhau ngày một lớn khôn. Rồi chị gái lấy chồng, em gái đi công nhân. Năm 1960 vừa tròn 18 tuổi anh xung phong đi bộ đội, khỏe mạnh, lý lịch tốt, anh được tuyển vào công an vũ trang. Hoàn thành huấn luyện anh được biên chế về Quân khu Tây Bắc, tiễu phỉ Vàng Pao.
Nhiều năm anh cùng đồng đội, nhân dân vượt đèo cao, rừng thẳm, vực sâu nguy hiểm, gian khổ vất vả, tiêu diệt, bắt sống… làm tan rã tổ chức thổ phỉ phản động. Anh hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, cấp trên điều động anh về công tác ở Bộ Công an. Lấy vợ xinh đẹp đảm đang, anh hi vọng cuộc đời sẽ vui hơn, nào ngờ lại thêm một nỗi buồn. Anh đau khổ, bức xúc, căm ghét lão Tác nhưng không trả thù. Anh nuốt nước mắt vào lòng, không oán trách vợ bội tình. Anh về đơn vị trước thời gian nghỉ phép, vui vẻ công tác, đồng đội chia sẻ chuyện đau lòng của anh. Sau đó anh vào vùng giới tuyến Vĩnh Linh làm nhiệm vụ đặc biệt, nhiều lần anh bí mật vượt qua sông Bến Hải bắt cóc, trừng trị những tên Ngụy tay sai gian ác.
Mọi người trong gia đình, dòng họ “mai mối” cho anh với cô Thành, người cùng làng, kém anh gần mười tuổi. Vì bố mất sớm, thương mẹ vất vả nên học xong cấp 2, cô Thành ở nhà làm ruộng. Nhà chỉ có hai mẹ con, mẹ được lĩnh tiền phụ cấp đi Nam của con trai nên Thành được ăn no mặc đẹp. Thành dáng người tầm thước, ngực mông nở nang, khuôn mặt trái xoan, cổ cao ba ngấn, da trắng hồng, mũi dọc dừa, mắt đen lay láy, tóc hơi xoăn, xinh đẹp. Thành là hoa khôi của làng. Vài năm không thấy Thắng về nhà, mọi người cho là anh đi Nam còn sống hay hi sinh?! Đột nhiên anh về phép, khuôn mặt hốc hác, da đen sạm nắng gió chiến trường nhưng khỏe mạnh. Hai bên gia đình tổ chức đám cưới Thắng với Thành gọn nhẹ theo hình thức “đời sống mới”.
Anh bộ đội to cao đẹp trai phong độ, quân phục sĩ quan, sánh vai với “hoa khôi” thật là đẹp đôi. Vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau vài ngày, rồi chia tay. Thành nước mắt chảy dài, nghẹn ngào: “Anh an tâm, giữ gìn sức khỏe, quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, nhớ biên thư về cho em”. Thắng thương vợ, xúc động: “Em làm tốt việc nhà, việc làng xã… chờ anh… “. Anh về đơn vị, nhận nhiệm vụ vào miền Nam, tham gia chiến dịch mùa hè đỏ lửa 1972. Cả họ lo anh vất vả, gian khổ, dễ bị hy sinh và mong sao có đứa con, cho người vợ vui vẻ nhưng Thành không có thai! Vì có chồng và anh trai đi bộ đội đang chiến đấu ở miền Nam nên Thành được lãnh đạo xã tạo điều kiện cho làm kế toán hợp tác xã nông nghiệp. Thành làm kế toán nhưng không qua trường lớp đào tạo nên bỡ ngỡ, lúng túng, lo lắng, tự học và tìm hiểu nghiệp vụ. Ban chủ nhiệm hợp tác xã giao nhiệm vụ cho anh Thất, đã qua chức kế toán, hiện là phó chủ nhiệm, giúp đỡ Thành.
Ông Thất có vợ và ba con, hơn Thành gần 15 tuổi. Thành lo lắng nên tranh thủ lúc chiều tối muộn, nhờ anh Thất hướng dẫn, chỉ bảo nghiệp vụ chuyên môn kế toán. Căn phòng tối mờ, chỉ còn lại hai người, tay cầm tay, áp ngực kề mông với Thành trẻ đẹp làm máu dê của Thất sôi lên. Lúc đầu, Thành né tránh sự va chạm thân thể và ánh mắt thèm muốn của Thất. Sau mãi thành quen, Thành cảm thấy… thích, muốn… anh Thất… “Chiều mai em đến nhà anh học nghiệp vụ, chuyên môn kế toán nhé” – Thất nói nghiêm trọng nhưng ánh mắt lúng liếng đưa tình. Ngả chiều, Thành đi lối tắt sau vườn để đến nhà Thất, đôi mắt đen nhìn vụng trộm, lo ngại ai nhìn thấy. Chị mặc áo hồng, bó chặt cơ thể căng tròn, quần xa tanh dài sát gót chân thướt tha trên đôi dép nhựa trắng càng làm tăng thêm vẻ đẹp của hoa khôi. Chỉ có một mình Thất ở nhà, hai người ngồi sát nhau, gác chân lên nhau, rồi “trai trên gái dưới”. Sau buổi chiều ấy, hằng đêm căn nhà của Thắng được chứng kiến nhiều cuộc ái ân của cặp nhân tình này. Thất ngoài 40 tuổi rất sung sức, Thành phơi phới tuổi đôi mươi thì việc mang thai là tất yếu xảy ra. Thành sinh con gái và bị kỷ luật, về nhà mẹ làm ruộng nuôi con. Thất bị kiểm điểm, cách chức phó chủ nhiệm hợp tác xã.
Thắng ra Hà Nội tập huấn, nhận nhiệm vụ và được về phép. Biết Thành ngoại tình với ông Thất, làm anh sống mà như chết! Không ít người bức xúc, căm phẫn nói với anh: “Phải tiêu diệt kẻ phá hoại hạnh phúc! Trả thù đứa bội tình, theo trai! Kiện bọn nó ra Toà án Quân sự cho bọn nó ngồi tù…”. Anh giỏi võ nhưng không trả thù, tiêu diệt kẻ phá hoại hạnh phúc. Với tâm hồn, tinh thần, ý chí, nghị lực của người sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, anh không hành hạ hai người vợ ngoại tình và anh không bài xích hai đứa trẻ vô tội. Anh âm thầm chịu đựng và trở về đơn vị trước thời hạn. Anh được điều động vào miền Nam, tham gia chiến dịch Tây Nguyên và các chiến dịch khác rất ác liệt, nguy hiểm nhưng anh cảm thấy thoải mái hơn ở nhà!

Sau khi giải phóng miền Nam, nhiều người lính đã trở về cùng niềm vui chiến thắng và vô vàn giọt nước mắt đau thương vì chưa thấy người thân! Chị gái đi hỏi thăm khắp nơi về em trai và lo lắng vô cùng. Nhưng Thắng bình an và nhận công tác ở Ty Công an Bình Trị Thiên, tiếp tục nhiệm vụ an ninh chính trị. Sau đó anh ra Hà Nội tập huấn và tranh thủ về nhà.
Hôm ấy, Thắng đến nhà bà Hảo thắp hương, tưởng nhớ người bạn chăn trâu, cùng nhập ngũ đã hi sinh thì gặp Loan, con gái bà Hảo. “Bác thương cháu quá vất vả đường vợ con… Độ này cháu gầy đen nhưng khỏe… “- Bà Hảo nghẹn ngào không nói được nữa, bà nghĩ đến con trai hi sinh. “Vâng, cháu bị sốt rét. Cháu còn may mắn hơn nhiều đồng đội đã hi sinh…” – Thắng mắt ứa lệ, ngắm nhìn chân dung thằng bạn treo trên bàn thờ. Loan mồ côi bố từ khi lên ba tuổi. Cuộc sống gia đình tuy khó khăn thiếu thốn nhưng có truyền thống hiếu học nên Loan quyết tâm thi đỗ vào học lớp 8, trường cấp 3 huyện, xa nhà trên mười cây số. Nhiều người bảo: “Con gái học biết chữ là được rồi, học cao, vất vả… để làm gì! Con gái là con người ta, ở nhà làm ruộng lấy chồng sinh con…”. Hằng tháng Loan đi bộ về nhà thăm gia đình, xin mẹ ít tiền và mang lương thực, thực phẩm để ăn. Có tháng chị dâu không thấy Loan về, lo cô ốm, chị gánh lương thực, thực phẩm và mang tiền cho em. Ba năm học hành, vượt qua bao khó khăn gian khổ, Loan tốt nghiệp lớp 10. Vì thương mẹ, chị dâu lao động vất vả nên Loan không đi học trường Đại học Thế dục Thể thao, mặc dù họ về trường sơ tuyển đạt tiêu chuẩn rồi. Chị chăm chỉ làm ruộng, nam thanh niên trong làng và bạn học cùng trường lớp ngỏ lời yêu nhưng chưa được gia đình chấp nhận.
Hết phép Thắng trở về đơn vị. Tuy công việc rất nhiều nhưng anh Thắng thường xuyên gửi thư tâm sự với Loan về hoàn cảnh gia đình, bản thân, mong muốn kết hôn với Loan. “Em ơi! Cứ mỗi buổi chiều tà, màn sương đêm phủ xuống, lòng dạ anh, tâm hồn anh lại nhớ tới em. Em là người bạn đời trăm năm! Tất cả cho những ngày chung sống và đoàn tụ gần nhất”. Loan bắt đầu từ tình thương và dần dần trở thành tình yêu với Thắng. Chị động viên anh: “Thơm thơm trang giấy trắng/ Chan chứa bao yêu thương/ Lòng dạt dào nhựa sống/Hy vọng cùng niềm tin/ Chúc anh luôn mạnh khỏe/ Trăm trận thắng, bình an/ Ở nhà em giữ trọn/ Chờ anh- ấp ủ lòng”. Cuối năm 1976 Thắng ra Hà Nội tập huấn, tranh thủ về nhà và hai gia đình tổ chức lễ cưới anh với Loan. Vì thương anh bị sốt rét, đôi mắt thâm quầng, da đen cháy, không còn bố mẹ, hai lần đứt gánh nên nhà gái chỉ nhận đĩa trầu cau cúng gia tiên cho đúng lễ nghi, phong tục. Hạnh phúc lần thứ ba, lại đến với Thắng được vài ngày và hết phép anh trở về đơn vị. Loan không mang thai, vừa chán nản, vừa sợ cái gì đó trong căn nhà này, nhất là những đêm khuya thanh vắng, mưa bão. Loan mua sắm giường, phản, bát đĩa… thường xuyên có anh chị em đến chơi làm cho căn nhà thêm ấm cúng.
Năm 1978 cấp trên điều động anh ra vùng biên giới Lạng Sơn. Anh tranh thủ về nhà, cuộc sống vợ chồng đầm ấm, hoan hỉ trong một thời gian rất ngắn nhưng năm sau chị sinh bé gái, khỏe mạnh, xinh xắn. Sau ba lần cưới vợ, kéo dài trên 12 năm đau khổ, đến nay anh mới có gia đình ổn định, vui vẻ với đứa con gái đầu lòng. Cuối năm 1980 vì anh bị thương, sức khỏe yếu, chiến tranh ác liệt, vợ nuôi con nhỏ rất khó khăn trong việc làm ruộng khoán nên anh xin phục viên về nhà. Thời gian gần 20 năm trong quân đội, anh tham gia tiễu phỉ ở Tây Bắc, chiến đấu ở mặt trận phía Nam và trực tiếp chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc gian khổ, vất vả, anh đều hoàn thành tốt. Thời kỳ đổi mới, khoán quản trong nông nghiệp, cuộc sống của mọi cựu chiến binh rất khó khăn thiếu thốn.
Thắng bắt đầu lập nghiệp, với tinh thần ý chí của anh bộ đội Cụ Hồ, anh đã làm tốt mọi công việc nhà nông. Năm 1981 anh chị sinh thêm con trai, cả làng khen: “Ông Trời có mắt! Anh Thắng là người tốt, sẵn sàng hi sinh, quên mình vì đất nước nên được đền đáp xứng đáng”. Vợ anh không khỏe, hai con ốm yếu, khó khăn, thiếu thốn càng tăng thêm. Năm 1983 chị Loan sinh bé gái, được vài ngày rồi mà chị vẫn bị sốt cao, mệt lả người, có thể sót nhau thai, nhiễm trùng. Anh phải bán con lợn giò, thúng thóc cuối cùng lấy tiền đưa vợ đi viện, cấp cứu kịp thời, thoát chết. Sau nhiều năm nuôi con rất vất vả, ba người con của anh chị đều tốt nghiệp cấp ba, đi bộ đội, là thầy giáo, cô giáo và lập gia đình sinh con, cuộc sống no đủ.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã giành thắng lợi hoàn toàn, nhiều người lính Cụ Hồ hi sinh vẻ vang và nhiều người đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trở về quê hương. Hầu hết, họ rất khó khăn, thiếu thốn mọi bề, sức khỏe giảm sút… nhưng tất cả họ đã vượt qua để có cuộc sống gia đình bình thường, số ít khá giả. Hà Quyết Thắng – anh bộ đội Cụ Hồ, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng, đánh thắng sự nghèo đói, đánh thắng “chính mình” về bệnh tật, về tinh thần, về tình cảm, tình yêu… sáng ngời như tên anh: Quyết Thắng.
ĐẶNG VĂN HƯƠNG
- Thơ 1-2-3 Nguyễn Tiến Nên: Tiếng chim gọi câu thơ mọc cánh và tôi tìm được chính mình
- Điều khiến Annie Ernaux được trao giải Nobel Văn chương
- Truyện ngắn Hoàng Đình Quang: Người thợ sửa giày góc phố
- Về tiểu thuyết Kim Ji Young sinh năm 1982 của Cho Nam Joo
- 5 lý do Phú Yên thành điểm du lịch ‘hot’ năm 2022

















