Truyện ngắn Nguyễn Hải Yến: Thuyền trăng ao Cát

Làng tôi có hai thôn. Thôn Trong nối với thôn Ngoài bằng con đường mòn xuyên qua cánh đồng. Mỗi buổi chiều đứng ở cuối vườn, nhìn hút mắt qua màn sương xanh mờ, thấy thôn Ngoài buồn và xa thăm thẳm. Mới sẩm chiều đã vắng. Còn đêm bói không nổi lấy một bóng người. Chẳng ai dám len ven trên con đường mòn bồng bồng lau sậy ngang ngực vào giờ ấy nên đồng Trong đồng Ngoài chỉ cách một thôi đường mà ngằn ngặt xa.

Tất cả chỉ vì ao Cát.

Làng cửa sông, ao đầm nhiều nhưng rộng nhất và lạ nhất vẫn là ao Cát. Đó là một vùng  mênh mông, tròn đều như một nét khuyên mực tàu, một nửa gối lưng về gò ông Đống, một nửa chạm mặt vào cánh đồng, bốn mùa chỉ lăn tăn những vệt sóng trong veo ngả màu xanh sẫm, vào thu, nước cạn bớt, nhìn rõ đáy – một đáy ao không bùn mà toàn cát. Chẳng có cái ao nào trong làng như thế. Cũng chẳng ai biết vì sao. Quanh bờ ao, cúc dại nở bốn mùa. Từ bờ bên này, chỗ gốc cây đề hai thân cụt ngọn nhìn sang bên kia thấy cả một khoảnh bèo tây cao lút đầu người. Cứ tầm tháng hai, tiếng cuốc từ đó bắt đầu vọng ra, đập vào tim người rồi bật trả về. Thắt ruột. Nắng lên, ao Cát cũng đôi lúc giật mình bởi tiếng cá quẫy, hay xao động bởi vệt rắn mòng rẽ nước sang ngang. Những đêm giở giời, mưa tạt lay phay, tôm tép búng nước rào rào.

Nhà văn Nguyễn Hải Yến ở Hải Dương

Cái ngày ao Cát chưa động, vào một đêm như thế, chị em cái Liên lần ra ao đặt vó thính. Nó đi trước, tay cầm cây gậy tre có đầu mấu, khẽ nhấc từng chiếc vó màn thây lẩy, lục sục những chú tôm trà, hất gọn vào cái rá tre. Cái Hoa liền sau, tay soi ngọn đèn dầu, nhúm từ ống bơ từng nhúm cám rang ném xuống mặt nước tĩnh giữa bốn gọng vó vừa thả xuống. Đến chín giờ, rá nằng nặng, tiếng càng tôm bật loách choách, con Hoa đang vạch lá lên xem bảo dễ thường đến non cân…  nghe con chị hét thất thanh, quăng đồ nghề bỏ chạy thì cũng cuống cuồng vứt cả đèn, cả ống chạy theo. Về được đến nhà, hú hồn, đốt vía gọi mãi mới hồi. Một đứa vừa kể vừa lấm lét nhìn ra ngoài: “Có cô trẻ lắm! Tóc dài. Ngồi bên bờ đầm với bó hoa cúc trắng…”. Cô Hiên quát: “Có thật không hay lại trông gà hóa cuốc?”. Rồi quay sang: “Con kia! Mày có thấy không?”. Cái Hoa rúm vào góc giường: “Con không biết…  Thấy chị  ấy chạy thì chạy theo”.

Bẵng đi một dạo, đến một chiều hè, chị Lụt trả vãn công gặt, được bữa thảnh thơi đem trâu thả quanh ao. Sẩm mặt trời, tốp đi mót về qua, rẽ xuống khỏa chân tay thì nghe tiếng hát, thấy trong lùm xa thấp thoáng có bóng người. Nhà Danh bảo gớm con cái Lụt, chồng mới về vài hôm mà cứ như thài lài cứt chó, trâu về đến đầu làng, người còn rửng mỡ ngồi đấy hát với hò… Mãi khi được mọi người kéo về, tỉnh lại mới thì thào: “Cái cô gái ở dưới ao ấy, hát hay lắm. Nghe chẳng muốn về…”.

… Ao Cát từ độ ấy vắng người. Cúc dại càng xòa thành vồng, hoa miên man nở trắng trên mặt nước.  Duy chỉ có đám bèo tây góc ao là vẫn nguyên như thế, chả ai động vào mà cũng không lan rộng, không đầy cơi lên. Cứ giữ nguyên một mảng xanh, mùa hè ngợp hoa tím. Y như lúc chị Phương chết đuối ngày xưa.

Mọi người ai cũng bảo cô gái hay hiện về trêu người ấy là chị Phương – người con gái chưa chồng, đẹp và ngoan nhất xóm. Hội làng năm nào, đêm giã bạn cũng đứng ở sân đình hát cùng bố mẹ “Ngồi tựa mạn thuyền”. Rồi đi làm xa. Một ngày chủ nhật về thăm nhà, tranh thủ ra ao Cát vớt mẻ bèo cho lợn. Trước khi xuống thuyền còn xin cô Hoài ruộng bên mấy bông cúc trắng về cắm lọ. Người thế mà vắn số. Đi chẳng trở về. Đến trưa, khi mọi người đổ ra tìm, ao Cát vẫn trong ngằn ngặt, sóng vẫn tĩnh nhìn rõ đáy, chỉ thấy chòm bèo giữa ao hoa tím nổi vồng lên, ghìm chặt cả người và thuyền vào trong ấy, gỡ mãi mới ra. Kéo được vào bờ chị đã trương nước, trắng ngần ngận. Cả làng ai cũng thương. Mấy mùa hội qua đều nhắc: “Chả biết bây giờ “ngồi tựa mạn thuyền” nào?”.

Rồi theo thời gian tất cả lãng quên dần. Đến khi tưởng chẳng còn ai nhớ thì chị lại về nhắc cho bằng nhớ, nhắc để cả người lớn, trẻ con cùng sợ, chẳng mấy ai dám bén mảng lại qua…

Cho đến một ngày…

Chú Thụ trở về làng, dựng căn nhà nhỏ bìa thôn Ngoài, nhìn qua cánh đồng thấy ao Cát trong tầm mắt. Ngoài bốn mươi, không vợ không con. “Tao bị chất độc da cam. Đèo bòng làm gì cho khổ người ta”. “Chú ở đây không sợ à?”. “Sợ gì? Tao còn sợ gì được nữa? Mà này! Chúng mày có nghe thấy tiếng hát không? Những đêm trăng sáng tao nghe tiếng con gái hát Ngồi tựa mạn thuyền  thương không ngủ nổi”. “Chúng cháu không nghe thấy. Nhưng chị Phương hát đấy!”. “Có phải là cô gái ao Cát không?”. “Ma chứ chú!”. “Hát hay thế không thể là ma. Tao phải đi tìm bằng gặp. Hát với nhau cho đỡ buồn. Đêm nay trăng sáng, tao ra đấy thử xem”.

Cho đến tận bây giờ tôi vẫn nhớ, đêm ấy chú Thụ cầm chai rượu xuống thuyền chèo ra khoảng nước đen thăm thẳm. Từ xa nhìn lại chỉ thấy một thuyền, một bóng cô đơn.

Chẳng biết chú đợi và thấy những gì. Chỉ biết rằng từ ấy ao Cát neo một con thuyền nhỏ. Chú Thụ vạt rẻo đất ven bờ trồng một viền hoa cúc trắng. Mỗi đêm ngoài mùng, trong lòng thuyền, màu cúc trắng rời rợi, hắt ngược ánh sáng lên trời, chú Thụ ngồi tựa mạn thuyền uống rượu và hát. Hát một mình hay hát với ai chẳng biết.

Rồi chú ra đi lặng lẽ trong một đêm như thế. Đám hoa cúc cạnh bên còn nguyên dấu người nằm. Người ta kể trên thuyền trăng  đêm ấy không phải chỉ mình chú mà có cả tiếng chị Phương cùng hát. Hát rằng “Ngồi tựa mạn thuyền (ấy mấy đêm) là đêm hôm qua…”.

NGUYỄN HẢI YẾN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *