Truyện ngắn Trần Quang Lộc: Bến đò xưa hoang vắng

– Đò ơi! Đò … ò … ò …

Đứng bên này sông nhìn sang bến đò năm cũ nhạt nhòa sương khói, tôi cất tiếng gọi đò. Âm thanh “đò” kéo dài vang vọng trên dòng sông gợn sóng rồi lịm tắt trong buổi chiều cuối năm se lạnh.

– Đò ơi!

Tôi định lấy giọng gọi tiếp thì một người đàn ông đang đứng trên bãi dâu cạnh đó, lên tiếng:

– Đò giang đâu nữa mà gọi. Chú em muốn sang sông cứ đi thêm quãng nữa sẽ có cây cầu. Bến đò nầy đã hủy bỏ lâu rồi mà!

Theo sự chỉ dẫn của người đàn ông tốt bụng, tôi đi dọc triền sông một đỗi nữa gặp chiếc cầu xi măng khỏe khoắn níu chặt đôi bờ thưa thớt mấy bụi tre già đang run rẩy trong gió mùa se lạnh và những khóm cừa tàu soi mình trên nước biếc.

Nhà văn Trần Quang Lộc ở Bình Định

Sang bên kia sông, tôi hết sức ngỡ ngàng! Làng Hạnh nhơn bây giờ rất khác xưa, suýt nữa tôi không còn nhận ra nơi mà mình đã trải qua thời niên thiếu đầy ắp những kỷ niệm vui buồn.

Suốt chiều dài lịch sử hình thành và phát triển, làng Hạnh nhơn yên bình bên dòng Kôn với không khí trong lành tươi mát bởi màu xanh của vườn cây ăn quả, của lũy tre làng, nay đã trở thành một thị trấn nhuếch nhác, ô nhiễm môi sinh, và đầy ắp những âm thanh ồn ào náo nhiệt của chốn thị thành… Con đường liên thôn liên xã đỏ quạch màu đất bazan rạch làng Hạnh nhơn ra làm hai nửa. Dọc theo hai bên con đường mới mở còn lồi lõm ổ gà, sống trâu là dãy nhà lợp tôn, móc ngói, cái lấn ra, cái thụt vào, to nhỏ, cao thấp khác nhau, tất cả lấm láp bụi đường, càng trông càng thêm nhức mắt. Hệ thống tải điện còn tồi tệ hơn. Đường dây dẫn đủ màu sắc, đủ các kích cỡ giăng mắc lùng nhùng trên hàng cột tre khẳn khiu, ruỗng mục đem ánh sáng văn minh đến với đời sống nông thôn mới, và cũng có thể mang đến cho bà con những hiểm họa khó lường! Làng Hạnh Nhơn là quê hương người cô ruột của tôi.

Quê tôi, ngôi làng nhỏ của một huyện miền cao đất đai khô cằn sỏi đá, quanh năm lãng đãng sương mù. Tuổi thơ của tôi không được may mắn như bạn bè cùng trang lứa. Năm bốn tuổi, mẹ mất vì căn bệnh hiểm nghèo khi tuổi đời còn rất trẻ. Ba là nhân viên trạm y tế xã. Những lần đi công tác xa, ba gửi tôi cho người bạn nhà bên cạnh trông nom giúp. Mặc dù chật vật trong cuộc mưu sinh, nhưng ba tôi vẫn nuôi mộng cho tôi học hành tử tế để sau này có cuộc sống khá hơn.

Năm tôi sắp lên lớp năm cũng là năm ba tôi có tên trong danh sách những người được sang Mỹ định cư theo diện người thân bảo lãnh. Trước ngày ra đi, đêm nào ba tôi cũng thao thức trăn trở bởi hai ý nghĩ: ở – đi. Cuối cùng, ba tôi cũng dứt khoát đưa ra quyết định. Ba tôi phân tích chuyện được mất, hơn thua của chuyến ly hương với cô và nhờ cô chăm sóc dạy dỗ tôi nên người tử tế chờ ngày ba tôi trở lại. Mặc dù không đành lòng để đứa em trai phải đi xa đến nửa vòng trái đất, nhưng để giúp ba tôi hoàn thành tâm nguyện, cô nhận lời đón tôi về nuôi dưỡng. Ngày theo cô về xuôi, tôi rất buồn vì phải xa ba tôi, xa làng, xa mảnh đất miền cao tuy nghèo nhưng ở đó, tôi đã trải qua thời thơ ấu!

Quán tạp hóa của cô tôi cạnh bến đò Trường thi, mặt hướng về dòng Kôn xanh biếc, êm đềm với những con đò dọc, đò ngang sớm chiều khỏa nước. Nghe tin cô tôi vừa đón về một đứa cháu ruột, bạn bè hàng xóm đến chúc mừng thăm hỏi. Ai cũng bảo tôi có nét thông minh, sẽ là chỗ dựa của cô tôi lúc tuổi về già. Cô tôi chỉ cười, không nói. Còn tôi, cứ trả lời nhát gừng mỗi khi có ai hỏi đến.

Mấy tuần lễ đầu, tôi rất buồn vì lạ người lạ cảnh, vì nỗi nhớ cồn cào. Những buổi chiều, tôi thường ra ngồi bên quãng sông vắng dõi theo cánh chim chao liệng giữa trời xanh mây trắng. Đêm, chới với, đắm chìm trong hoài niệm. Mỗi lần nghe tiếng gọi đò văng vẳng giữa sương khuya từ phía bên kia sông vọng lại, tôi càng nhớ làng nhỏ miền cao, nhớ ba tôi da diết. Nhiều đêm bắt gặp tôi nằm khóc một mình, cô tôi đến ngồi bên cạnh, phe phẩy chiếc quạt lá dừa, vỗ về an ủi: ” Đừng buồn! Con trai phải mạnh mẽ lên! Tất cả rồi sẽ qua thôi”. Tuy không hiểu gì nhiều lời cô nói nhưng tôi yêu cô.

Cô rất nuông chiều tôi, mỗi lần sang bên kia sông mua hàng họ về bán, cô thường đưa tôi theo. Có lần, ngồi trên chuyến đò sang sông, tôi hỏi cô:

– Tại sao người ta gọi là Bến đò Trường thi hả cô?

Cô tôi giải thích:

– Dưới triều nhà Nguyễn, phía bên nầy sông có trường thi Hương, cung cấp hàng trăm cử nhân tú tài cho các tỉnh miền Nam Trung bộ. Cứ ba năm tổ chức một kỳ. Gần đến ngày thi, sĩ tử các nơi mang lều chõng, nghiên bút đổ về đây đông như trẩy hội. Dọc hai bên các ngả đường, bà con trong vùng dựng lều, mở quán bán cơm, bán giấy bút. Đò ngang qua lại tấp nập trên dòng sông Kôn phục vụ sĩ tử và các quan giám khảo ở Kinh đô về. Từ đó, bến đò mang tên Trường thi. Như một giáo viên dạy sử, cô tiếp tục giảng giải cặn kẽ: – Gần bảy thập kỷ, Trường thi tồn tại và trên hai mươi kỳ thi Hương được tổ chức tại đây, phần lớn thủ khoa thuộc về tay sĩ tử Bình Định. Vì vậy, ở đây có câu ca còn truyền tụng:

Uổng công các tỉnh đường xa

Để cho Bình Định thủ khoa nhiều kỳ.

Ông nội con đỗ đầu cử nhân kỳ thi Hương cuối cùng. Mãi đến khi việc học chữ Hán bị bãi bỏ, Trường thi hoang phế dần rồi bị giặc Pháp đập phá, Trường thi chỉ còn lại những đống đất đá làm chứng tích. Bến đò Trường thi vẫn tồn tại và là nguồn cảm hứng cho các thi nhân. Bài thơ Bến My Lăng nổi tiếng của nhà thơ Yến Lan ra đời cũng từ bến đò đầy gợi hứng nầy. Chợt nhớ ra tôi chỉ là đứa bé chưa qua tiểu học, cô cầm tay tôi, dặn dò:

– Con ráng học để sau này đỗ đạt như nội con ngày xưa con nhé!.

Thời son trẻ, cô dượng tôi sống rất hạnh phúc trên làng Hạnh nhơn nằm dọc dòng Kôn xanh. Cô tôi trước khi lấy chồng là giáo viên tiểu học. Sau này bỏ dạy về mở quán trên Bến Trường thi phục vụ khách thương hồ. Thi thoảng cô tôi cũng khoan nhặt mái chèo đưa đón khách sang sông. Dượng tôi vừa hành nghề Đông y, vừa bí mật tham gia hoạt động cách mạng. Cô dượng tôi chỉ có một cậu con trai, đó là niềm an ủi duy nhất của cô dượng.

Rồi chiến tranh diễn ra ác liệt, làng Hạnh nhơn khói lửa ngút trời, đạn bom xới tung đường thôn ngõ xóm. Dượng tôi mất vào một chiều giông gió bên dòng sông Kôn trong trận càn quét của giặc. Hai năm sau, người con trai của cô dượng đang học cấp II cũng qua đời vì đạn pháo. Sự ra đi của đứa con trai yêu quí đã làm cho mái tóc cô gần như bạc trắng, tinh thần suy sụp mặc dù lúc ấy tuổi chưa đến bốn mươi. Ngày toàn thắng, cả nước vang khúc khải hoàn, cô vẫn tiếp tục thân cò lặn lội ven bến sông quê.

Rồi tất cả cũng qua đi. Nỗi buồn của tôi đã nguôi dần bởi tình thương của cô, bởi những chuyến đò ngang cần mẫn nối liền hai bờ lau trắng. Làng Hạnh nhơn êm ả chan chứa tình người giúp tôi tìm lại lứa tuổi hồn nhiên trong trẻo mà số phận đã cuốn trôi.

Đầu năm học mới, cô đưa tôi vào học lớp sáu, cùng trường với chị Thưa. Chị Thưa ở cách nhà cô tôi một thửa vườn. Ba chị làm y tế xã, mẹ mở hiệu may trên phố huyện. Tuổi thơ của chị là chuỗi ngày tràn đầy hạnh phúc. Tuy lớn hơn tôi năm tuổi nhưng chị chỉ học hơn tôi một lớp. Ở vùng quê, trẻ con học muộn là chuyện thường. Chị Thưa hồn nhiên, trong veo như hạt sương buổi sớm. Vì vậy, mới gặp chị lần đầu tôi đã cảm mến. Còn chị, rất thương tôi sớm mang thân phận nghèo, côi cút. Chị thường xưng hô “chị – em” với tôi rất thân mật. Tôi và chị Thưa học cùng buổi nên sáng nào chị cũng ghé lại rủ tôi cùng đi. Tan trường, cùng về. Thường những buổi tối, chị hay đến nhà cô chỉ hộ mấy bài toán khó, nhắc tôi phải hoàn thành các bài tập tại nhà trước khi đến lớp rồi quay sang nói chuyện với cô tôi trước lúc ra về, hoặc rủ tôi đi xem hát mỗi khi có đoàn cải lương nào đó ở Sài Gòn ra diễn trên nhà văn hóa xã.

Những ngày nghỉ học, tôi cùng chị Thưa lên khu đồi sau lưng nhà chị hái sim chín và nhặt củi khô đem về đun bếp. Có hôm, cùng ra tận quãng sông vắng đợi con nước ròng, bày trơ cát nhặt những con hàu con hến đem về nấu canh bầu. Thi thoảng, những kỳ lễ tết, cô đưa chúng tôi lên thành phố Quy Nhơn ngắm biển, mua hàng. Từ ngày quen thân chị Thưa, việc học có chiều hướng tiến bộ rõ rệt. Tôi quí chị Thưa lắm. Vắng chị thấy nhớ!

Năm ấy, theo thông lệ, đầu tháng ba làng Hạnh nhơn mở hội, người các nơi đổ về tưng bừng nhộn nhịp. Mới nửa chiều mà trống tuồng đã nổi lên giòn giã, thôi thúc từ phía sân đình. Hôm ấy, tôi đi học vừa về đến nhà trời đã nhập nhoạng. Cơm nước xong xuôi, tôi háo hức đến rủ chị Thưa cùng dự hội làng. Dưới ánh trăng thượng tuần treo lơ lửng tận góc trời xa, chị Thưa nắm chặt tay tôi đi hết con đường làng rợp bóng rồi băng tắt qua mấy thửa ruộng dưa để kịp xem đoạn đầu vở tuồng “Đổng Trác hí Điêu Thuyền”, vở tuồng Tàu mà cô tôi khen hay lắm. Đến một quãng vắng, tôi bỗng kêu thét lên “ma” rồi quay lại ôm cứng lấy thân thể tròn trịa, săn chắc, ấp mặt vào bộ ngực chị, thở dồn… Chị Thưa vòng tay siết chặt lấy tôi nhận chìm trong hơi thở gấp gáp của lồng ngực phập phồng, thoảng chút hương bưởi hương chanh từ mái tóc dài óng mượt của chị. Lúc này tim tôi đập thình thịch. Lần đầu tiên trong đời, lòng rộn lên một thứ cảm giác rất lạ!. Bất chợt, như bừng tỉnh cơn mê, chị khẽ đẩy tôi ra thở dài thảng thốt, cất giọng hổn hển :

– Bù nhìn giữ dưa đấy em !

Tôi ngơ ngác nhìn chị, nhìn con bù nhìn giữ dưa bên cạnh rồi lặng lẽ đi vào hội làng …

Năm tôi đang học lớp mười thì ba tôi về làm thủ tục bảo lãnh cô cháu tôi sang Mỹ. Cô tôi dứt khoát không chịu rời bỏ quê hương xứ sở, mồ mả ông bà. Ba tôi cố thuyết phục nhưng vẫn không lay chuyển nổi ý chí của cô tôi. Riêng tôi, rất yêu cô, yêu da diết làng Hạnh nhơn, yêu bến Trường Thi với những chuyến đò ngang ngày đêm cần mẫn nối lại đôi bờ. Còn chị Thưa của tôi nữa! Nhưng không phải vì vậy mà làm đảo lộn mọi toan tính của ba tôi.

Trước hôm ra đi, tôi tìm chị Thưa để chào từ biệt. Tìm mãi rồi cũng gặp chị ngồi lặng lẽ bên quãng sông vắng, mắt buồn thăm thẳm hướng về chuyến đò chiều khỏa nước trên dòng sông đỏ rực ráng hồng. Tôi khẽ khàng bước đến cạnh chị, giọng bùi ngùi:

– Chị Thưa, sáng mai em đi …

Không lên tiếng cũng không ngoảnh lại nhìn tôi, chị bỗng đưa tay ôm mặt nấc nghẹn, bờ vai run rẩy theo nhịp sóng lòng dâng cuộn … Lòng tôi cũng se lại. Bất chợt, như một cơn gió giật, chị quay lại ôm chầm lấy tôi, hôn tới tấp lên tóc lên trán nhạt nhòa nước mắt rồi đứng lên vụt chạy qua bãi dâu xanh ngắt, lồng lộng gió chiều.

Đêm ấy, tôi cứ thao thức, trăn trở bởi nụ hôn của chị Thưa nước mắt nhạt nhòa, bởi những chuyến đò ngang mang đầy kỷ niệm!

Tảng sáng hôm sau, chuyến đò đầu tiên trong ngày chỉ có hai ba con tôi và một nỗi buồn ly quê lặng lẽ rời xa bến. Trước mặt tôi, làng Hạnh nhơn như bồng bềnh chao đảo trong làn sương sớm.

Bất chấp con đò chòng chành, tôi bỗng đứng vụt lên gọi lớn:

– Chị Thưa ! Chị Thưa ơi !

Trên bến Trường thi, chị Thưa đang đứng vẫy tay chào từ biệt và cất tiếng gọi đò – Đò ơi! Con đò vô tâm cứ lặng lẽ xa bờ! Hình ảnh chị Thưa cứ mờ dần rồi khuất hẳn sau làn sương tím …

Mười lăm năm ăn học nước ngoài, tôi đã trở thành nhà khoa học có tên tuổi tình nguyện về Việt Nam phục vụ theo nguyện vọng của ba tôi.

Sau khi hoàn thành thủ tục nhập cảnh, việc đầu tiên là thuê xe về thăm lại quê cô, tìm lai những kỷ niệm thân thương của thời dĩ vãng.

Gữa buổi chiều quê ồn ào náo động bởi những âm thanh phát ra từ cửa hàng karaoke vi tính, quán nhậu bình dân, quầy trò chơi điện tử, cửa hiệu sửa chữa xe gắn máy…tôi thong thả cuốc bộ dọc theo thị trấn một lúc rồi ghé vào cửa hiệu uốn tóc hỏi thăm một cô gái mặt còn non choẹt, diện quần bò, áo thun ba lỗ đang ngồi tự giũa gọt móng tay:

– Cháu chỉ giúp chú nhà chị Thưa?.

Cô bé giương mắt nhìn tôi một thoáng rồi lắc đầu:

– Ở đây không có ai tên Thưa chú à!

Một giọng đàn bà từ phía sau tấm vải màn cũ kỹ, đầy cáu bẩn:

– Thưa là Ngọc Ánh đấy con.

Cô bé “à” lên một tiếng rồi đứng lên bước ra khỏi cửa, sốt sắng:

– Đó, cái nhà hai mê ở tận đầu hồi đó. Cô bé nheo mắt nhìn tôi ra vẻ giễu cợt – Chú muốn hát phải không ?

Đến nhà chị Thưa, thấy có tấm bảng nhỏ treo ngay ngắn trước cửa: “Phòng Karaoke vi tính”. Tôi hồi hộp đưa tay gõ cửa khẽ khàng rồi chờ đợi nỗi vui mừng ập đến. Một lúc sau, cánh cửa bật mở, âm thanh xập xình với giọng hát ồm ồm tuông ra cùng lúc với cô gái xinh xắn, đầu hớt tóc tém, quần áo hở hang khiêu khích, mặt dày son phấn nhìn tôi dò xét. Trời ơi! Chị Thưa của tôi đây sao? Phép lạ nào đã thay đổi chị Thưa xinh đẹp, dịu dàng, nhân hậu thành cô Ngọc Ánh mắt xanh mỏ đỏ, tay chân đầy móng vuốt?! Trong lúc lòng hoang mang dao động thì chị vẫn vô tình nhoẻn miệng cười duyên – theo tôi nghĩ – như chị thường làm khi tiếp khách :

– Anh thông cảm, em đang tiếp các sếp lớn.

Tôi định cất tiếng gọi chị thì chị tỏ lời an ủi :

– Tối trở lại em sẽ lấy giá mềm hơn.

Nói xong, cánh cửa phòng khép kín, chị khuất hẳn sau lớp kính mờ để lại trong tôi sự xót xa lẫn thất vọng.

Rời nhà chị Thưa, tôi lầm lũi đến bến đò ngày trước. Nhìn lại ngôi nhà của cô, ngôi nhà tôi đã trải qua thời thơ ấu nhiều kỷ niệm mà tim tôi đau nhói. Cô tôi mất cách đây gần mười năm. Ngày cô mất, ba tôi có về chịu tang. Riêng tôi, lúc ấy đang bận kỳ thi tốt nghiệp. Ngôi nhà từ đó thay đổi chủ. Bến đò Trường thi bây giờ cỏ dại um tùm, phủ dày lau trắng. Cảnh cũ hoang vắng tiêu điều!

Tất cả chỉ còn là kỷ niệm !

Tôi đứng vào vị trí mà chị Thưa đã đứng tiễn tôi ngày xưa, lặng lẽ nhìn quãng sông chiều vỡ vụn ánh hoàng hôn. Hình như có tiếng gọi đò văng vẳng mơ hồ vọng về từ trong thẳm sâu ký ức.

 TRẦN QUANG LỘC

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *