Han Kang là một người kể chuyện đầy khắc khoải, dẫn dắt người đọc vào tận sâu thẳm của trải nghiệm con người, nơi cái riêng hòa quyện cùng cái chung. Tác giả của mười cuốn tiểu thuyết và tập thơ bằng tiếng mẹ đẻ Hàn Quốc, các tác phẩm thách thức lẽ thường của Han đã được đưa lên sân khấu văn chương Anh ngữ qua sự hợp tác chặt chẽ với dịch giả tài năng Deborah Smith. Những bản dịch tinh tế của Smith từ các tiểu thuyết Bản chất của người (2016) và Người ăn chay (2015) là một phần trong làn sóng quan tâm mới mẻ của thế giới đến văn học Hàn Quốc; Thư viện Văn học Hàn Quốc của Dalkey Archive ra mắt năm 2013 đã bao gồm 25 bản dịch cho đến nay.

Ban đầu được xuất bản dưới dạng một tập ba truyện ngắn tại Hàn Quốc gần một thập kỷ trước, Han Kang từng nói rằng Người ăn chay khi mới ra mắt đã được đón nhận như một tác phẩm “rất cực đoan và kỳ quặc” tại xứ sở Kim Chi. Giờ đây, cuốn sách này đã trở thành một tác phẩm bán chạy đình đám, với bản quyền dịch thuật được bán tại hai mươi quốc gia và truyện ngắn trung tâm, Vết chàm Mông Cổ, đã giành được giải thưởng Văn học Yi Sang danh giá năm 2005. Tác phẩm mới nhất của bà, Bản chất của người, đã được trao giải Văn học Manhae Korean vào năm ngoái, và đã bổ sung vào bộ sưu tập các giải thưởng phong phú của bà.
“Tôi tin rằng loài người nên trở thành cây cối.” Câu thơ của nhà thơ hiện đại vĩ đại Yi Sang, viết bằng chữ Hangeul bị cấm dưới thời Nhật chiếm đóng, đã ám ảnh Han suốt thời đại học và trở thành hạt giống cho cuốn Người ăn chay. Những hình ảnh mơ hồ của Yi gợi lên hành động bạo lực của chủ nghĩa đế quốc đối với người dân thuộc địa, phản ánh trong lối miêu tả siêu thực và mang đậm tính hội họa của Han về cuộc nổi loạn cá nhân của một người phụ nữ. Tiểu thuyết kể câu chuyện về Yeong-hye, một phụ nữ bị ám ảnh bởi những giấc mơ quái dị, ban đầu bỏ không ăn thịt, rồi sau đó bỏ cả thức ăn, thể hiện sự phản kháng mạnh mẽ trước sự tàn ác và hủy diệt của con người. Trong một xã hội phụ quyền nơi thực hành ăn chay là hiếm hoi, hành vi ăn chay của Yeong-hye cuối cùng khiến cô bị ép theo pháp luật và ép ăn. Suốt đời, Han không ngừng khám phá các chủ đề về bạo lực và nhân tính, và trong Người ăn chay, điều đó thể hiện qua hình ảnh cơ thể gầy gò, tạo nên một chân dung tâm lý khiêu khích về tính chính trị của cơ thể phụ nữ.
Bản chất của người tiếp tục những chủ đề này nhưng mở rộng ra bối cảnh toàn quốc, khai quật di sản chấn thương của cuộc thảm sát Gwangju trong lịch sử Hàn Quốc hậu chiến. Mở đầu tại Công xã Gwangju, hành động trong tiểu thuyết diễn ra trong lò lửa của phong trào dân chủ do sinh viên và công nhân lãnh đạo vào thập niên 1980. Năm 1979, khi nhà độc tài quân sự Park Chung-Hee, cha của tổng thống đương nhiệm Park Geun-Hye, bị ám sát, người “thủ túc” của ông, tướng Chun Doo-Hwan, kế nhiệm và mở rộng thiết quân luật trên toàn quốc, đóng cửa các trường đại học, hạn chế tự do báo chí, cấm tổ chức chính trị. Vào ngày 18 tháng 5 năm 1980, khi sinh viên tập trung tại Gwangju để phản đối các biện pháp này, chính phủ đã phản ứng bằng cách dàn quân, nổ súng vào đám đông. Một đội quân nhân dân đã đẩy lùi quân đội và trong những ngày tiếp theo, gần như toàn bộ thành phố đã cùng nhau tạo nên một cộng đồng tự trị, tương tự như Công xã Paris. Cuộc nổi dậy kéo dài trong vài ngày trước khi bị nghiền nát bởi một cuộc tấn công quân sự được Mỹ chấp thuận vào ngày 27 tháng 5, khiến hàng ngàn người bị giết và bị thương.
Cuộc thảm sát đã để lại một dấu ấn sâu sắc trong ký ức của nền văn hóa Hàn Quốc, một phần vì sự thật về các sự kiện như thế đã bị che giấu trong suốt nhiều năm sau đó. Các bản ghi chép theo phái bảo thủ cho rằng sự kiện này là một âm mưu cộng sản do những người ủng hộ Bắc Triều Tiên kích động, và số người chết vẫn còn gây tranh cãi. Han nói rằng “Gwangju” đã trở thành từ đồng nghĩa với “mọi thứ đã bị cắt đứt không thể hàn gắn được. Sự phân rã tựa như phóng xạ vẫn đang tiếp diễn.” Do đó, Bản chất của người là một cuốn sách với cánh cửa đập mạnh, cuốn tiểu thuyết này giống như một cuốn sử ký, ghi lại một quá khứ chưa được giải quyết tiếp tục làm ô nhiễm hiện tại. Đối với Han, “Gwangju” giống như một danh từ chung chỉ khả năng con người thực hiện các hành động bạo lực tột cùng cũng như các hành động nhân đạo vĩ đại. Quả thật, lịch sử đầy biến động của Hàn Quốc đã chứng kiến một chuỗi những “Gwangju”, chẳng hạn, có rất ít sự hàn gắn vết thương cho các phụ nữ Hàn Quốc bị buộc phải làm nô lệ tình dục dưới ách thống trị của Nhật, hay cho các gia đình bị chia cắt bởi Chiến tranh Triều Tiên, khi hai miền Triều Tiên bị ngăn cách bởi Khu Phi Quân sự khi Chiến tranh Lạnh bùng nổ trên bán đảo.
Ngôn ngữ mang trong bản thân nó là cả nền văn hóa, và Han khéo léo truyền tải những phức tạp đa dạng của lịch sử Hàn Quốc qua văn phong ngắn gọn của mình. Tuy nhiên, Bản chất của người, giống như Người ăn chay, thường nói về thất bại của ngôn ngữ trong việc truyền tải đầy đủ trải nghiệm. Trong một phân cảnh đặc biệt, một nạn nhân sống sót sau cuộc tra tấn đã hỏi, “Liệu anh có thể xâu chuỗi liên tục các từ ngữ, im lặng, ho và ngập ngừng, để cái mảnh ghép ấy có thể chứa đựng tất cả mọi điều anh muốn nói không?” Han chắc chắn đã nỗ lực làm điều đó, cả trong các tác phẩm trữ tình của bà và trong cuộc phỏng vấn này, được thực hiện qua email và do Deborah Smith biên dịch.
* Lịch sử của đất nước Hàn Quốc trong suốt thế kỷ XX chất chứa quá nhiều chấn thương, tại sao bà lại chọn viết về Cuộc nổi dậy Gwangju cụ thể tới như vậy?
– Thế kỷ XX đã để lại những vết thương sâu thẳm không chỉ cho Hàn Quốc mà cho toàn bộ nhân loại. Vì tôi chào đời vào năm 1970, cho nên tôi không trải qua thời kỳ chiếm đóng của Nhật Bản kéo dài từ năm 1910 đến năm 1945, cũng như không chứng kiến Chiến tranh Triều Tiên bắt đầu vào năm 1950 và kết thúc bằng hiệp định đình chiến năm 1953. Tôi bắt đầu xuất bản thơ và tiểu thuyết vào năm 1993, khi tôi 23 tuổi; đó là năm đầu tiên sau cuộc đảo chính quân sự năm 1961 mà một tổng thống không xuất thân từ quân đội, mà là một người dân thường, lên nắm quyền. Nhờ đó, tôi và những nhà văn thuộc thế hệ của tôi cảm thấy chúng tôi đã có được quyền tự do để khám phá nội tâm con người mà không còn cảm giác tội lỗi rằng ta phải cất tiếng nói chính trị thông qua tác phẩm.
Vì vậy, văn chương của tôi tập trung vào nội tâm con người như thế. Con người không ngần ngại hy sinh cả mạng sống của mình để cứu một đứa trẻ ngã xuống đường ray xe lửa, nhưng cũng chính họ là những kẻ thực hiện những hành động bạo lực kinh khủng như trong trại tập trung Auschwitz. Biên độ của nhân tính, từ cao cả đến tàn ác, đối với tôi, như một bài toán khó kể từ khi tôi còn nhỏ. Có thể nói rằng các cuốn sách của tôi là những biến thể về chủ đề bạo lực con người. Khi muốn tìm nguyên nhân gốc rễ tại sao việc chấp nhận nhân tính lại là điều đau đớn với tôi, tôi đã lần mò trong chính nội tâm mình và ở đó, tôi gặp Gwangju, một sự kiện tôi trải nghiệm gián tiếp vào năm 1980.
* Bà xuất hiện như một nhân vật trong tiểu thuyết, ghi dấu dòng ký ức của chính bà trong đó. Đó là một phương pháp hiệu quả kết nối giữa đời sống và nghệ thuật, giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Bà đã tiếp cận sự kiện đó lần đầu tiên như thế nào?
– Tôi sinh ra ở Gwangju và chuyển lên Seoul cùng gia đình khi tôi chín tuổi, chỉ vài tháng trước khi cuộc thảm sát diễn ra. Chúng tôi chuyển đi hoàn toàn do tình cờ, và nhờ quyết định tưởng chừng nhỏ nhặt ấy, chúng tôi đã thoát khỏi nguy hiểm. Điều đó đã trở thành một loại cảm giác tội lỗi của những người còn sống sót và đã khiến cho gia đình tôi trăn trở khó nguôn ngoai suốt một thời gian dài. Khi tôi mười hai tuổi, lần đầu tiên tôi nhìn thấy một cuốn sách ảnh, được xuất bản và lưu hành bí mật, ghi lại cuộc thảm sát. Bố tôi đã mang nó về sau khi đến thăm Gwangju. Sau khi cuốn sách được truyền tay nhau trong giới người lớn, nó được giấu kín vào trong kệ sách, bìa quay vào trong. Tôi vô tình mở nó ra, không hề biết nó chứa đựng những gì. Lúc đó, tôi còn quá trẻ để hiểu làm sao một minh chứng cho bạo lực khủng khiếp kia lại nằm gọn trong những trang sách đó.
Làm sao con người có thể làm ra những hành động tàn ác đến như vậy với nhau? Ngay sau câu hỏi đầu tiên, một câu hỏi khác nhanh chóng nối tiếp cất lên: Chúng ta có thể làm gì trước bạo lực như thế? Tôi vẫn chưa bao giờ quên một bức ảnh chụp hàng dài người xếp hàng trước bệnh viện đáp lại lời kêu gọi công chúng cần người hiến máu. Rất nhiều người bình thường đã rời khỏi mái nhà an toàn của mình để giúp đỡ những người bị thương trong bạo lực. Khi quân đội thiết quân luật quay trở lại văn phòng tỉnh lị, chấm dứt mười ngày chính quyền dân sự của Công xã Gwangju, quyết định của những người dân mà cho đến vài ngày trước đó vẫn chỉ là những người dân bình thường là ở lại đó dù biết rằng có thể sẽ có kết cục là cái chết, cũng được ghi lại trong cuốn sách ảnh. Theo đó, tôi đã đối diện với hai câu đố không có lời giải là câu đố về bạo lực con người và câu đố về phẩm giá con người, khắc sâu trong tim tôi như một con dấu. Bản chất của người là một bản ghi chép về cuộc hành trình mò mẫm của bản thân tôi hướng về hai câu đố đó.
* Bà bắt đầu viết Bản chất của người vào năm 2013, ngay sau cuộc bầu cử của Park Geun-Hye vào cuối năm 2012. Với nhiều người, nhiệm kỳ của bà ấy có thể được coi là ví dụ điển hình của tình hình hội tụ căng thẳng tương tự như tình hình của Hàn Quốc năm 1980 vào thời điểm diễn ra Cuộc thảm sát Gwangju, “một đống củi khô chỉ chờ có tia lửa”, như Deborah Smith đã viết ở phần giới thiệu. Cuộc bầu cử của Park Geun-Hye đã ảnh hưởng như thế nào tới quá trình xây dựng tiểu thuyết Bản chất của người?
– Đúng là tôi đã bắt đầu tập hợp các tài liệu liên quan đến Gwangju vào tháng 12 năm 2012. Nhưng cảm giác đây là điều tôi cần phải viết đã đến với tôi từ tháng 1 năm 2009. Khi đó, một tòa nhà ở quận Yongsan, Seoul, bị đánh dấu để đập đi xây lại, và những người thuê hộ kinh doanh nhỏ đã tổ chức biểu tình ngồi trên mái nhà nhằm phản đối số tiền bồi thường ít ỏi được nhận. Chính phủ đã sử dụng vũ lực thái quá để giải tán cuộc biểu tình, và trong quá trình đó, một vụ hỏa hoạn đã xảy ra, cướp đi sinh mạng của năm người biểu tình và một cảnh sát. Tôi đã thấy tòa nhà bốc cháy trên bản tin và nghĩ đến Gwangju. Tôi cảm thấy Gwangju đã trở lại với chúng tôi dưới một hình hài khác, không còn là danh từ riêng mà là một danh từ chung; rằng chúng tôi đã vô tình sống giữa Gwangju suốt thời gian này; rằng Gwangju đang tự phơi bày trong ngọn lửa ngắn ngủi đó. Bởi tôi tin rằng Gwangju giờ đây là cái tên biểu thị điều gì đó mang tính toàn cầu, chứ không chỉ thuộc về một nơi hay quốc gia cụ thể nào, nên các tài liệu tôi đọc sau đó không chỉ liên quan tới Gwangju, mà còn tới Auschwitz, Bosnia, Nam Kinh, và cuộc thảm sát người Mỹ bản địa.
* Gần đây, Seoul đã xảy ra những cuộc biểu tình lớn nhất trong nhiều năm qua. Trong cuộc đàn áp người biểu tình của chính phủ, hàng chục người đã bị thương, trong đó có một người nông dân 69 tuổi hiện đang hôn mê do bị thương khi bị cảnh sát xô ngã bằng vòi rồng. Người đàn ông này đã xuống đường phản đối việc cải cách hoạt động thương mại nông nghiệp. Thật không thể tin nổi, Park Geun-Hye đã so sánh những người biểu tình này với các thành viên của ISIS! Bà có coi tình hình chính trị hiện nay ở Hàn Quốc là một ví dụ của việc lịch sử lặp lại, “lần đầu là bi kịch, sau đó là hài kịch” không?
– Vào đầu năm 2013, khi Park Geun-Hye vừa được bầu, đã xảy ra một sự kiện mang tính biểu tượng: chính phủ đã huy động lực lượng quy mô lớn để đối phó với cuộc biểu tình của công nhân đường sắt phản đối việc tư nhân hóa ngành đường sắt. Điều này giống như một tín hiệu cảnh báo, phơi bày thái độ của chính quyền hiện tại đối với các nhóm người yếu thế trong xã hội và các vấn đề lao động đang ngày càng đẩy các nhóm này vào ngõ cụt. Đặc biệt, bạo lực trong cách chính phủ trấn áp các cuộc biểu tình đã khiến nông dân Baek Nam-ki hôn mê bất tỉnh. Tôi thực sự bị sốc khi nhìn thấy bức ảnh người đàn ông 69 tuổi tay không tấc sắt, chỉ đứng đó với hai bàn tay trắng, bị thổi ngã vì dòng nước mạnh của vòi rồng. Hơn nữa, việc sự kiện lịch sử mà trẻ em Hàn Quốc từng được học từ tám cuốn sách giáo khoa chính thống giờ đây đang bị che phủ bởi một màn sương mù, và một cuốn sách giáo khoa duy nhất do chính phủ phê duyệt đang được các cá nhân không rõ danh tính viết nên, khiến tôi vô cùng lo lắng. Trong lĩnh vực sân khấu, lĩnh vực rất phụ thuộc vào các khoản trợ cấp từ chính phủ, nhiều người đã rất sốc khi biết rằng các khoản hỗ trợ này đã bị cắt đối với một số đạo diễn và nhà sản xuất từng chỉ trích chính phủ.
Nhưng điều tôi muốn nói ở đây là có rất nhiều người đang tham gia vào một cuộc đấu tranh mãnh liệt để tìm ra phương thức phản đối tất cả những điều “không thể nói ra” nhưng đang thực sự xảy ra, những nỗ lực đáng kinh ngạc nhằm đưa lịch sử quay trở lại một cách khó tin. Nếu chúng ta cảm thấy đau đớn khi chứng kiến cảnh một ông lão bị vòi rồng hất ngã, nếu niềm tin cho rằng “điều này không thể chấp nhận được” vẫn tồn tại trong chúng ta, thì lịch sử sẽ không thể dễ dàng và hoàn toàn bị quay ngược lại như vậy.

* Tình hình chính trị đã phát triển như thế nào kể từ khi bà bắt đầu viết cuốn sách này? Bản chất của người đã được công chúng đón nhận ra sao và liệu bà có nghĩ rằng phản ứng sẽ khác đi nếu như cuốn sách này được xuất bản vào thời điểm hiện tại?
– Cho đến khi Bản chất của người được xuất bản, tôi vẫn không chắc cuốn sách này sẽ được đón nhận thế nào. Thế nhưng, trái với mong đợi của tôi, hầu như tất cả các phương tiện truyền thông (ngoại trừ các tờ báo cánh hữu cực đoan) đều đưa tin rộng rãi về cuốn sách. Phản hồi từ độc giả cũng rất tích cực, rằng “lúc này chúng tôi muốn ghi nhớ Gwangju, chúng tôi không muốn quên lãng.” Thời điểm đó là tháng 5 năm 2014; tôi tin rằng phản ứng có lẽ cũng sẽ rất giống nếu cuốn sách xuất bản trong hiện tại. Tình hình đã trở nên tồi tệ hơn kể từ đó, và vì có vẻ như nó sẽ còn tệ hơn nữa, nên thật nghịch lý và đáng tiếc, tôi nghĩ rằng mọi người sẽ càng nhắc đến cái tên Gwangju như một danh từ chung, một cái tên cho thấy bạo lực và phẩm giá của con người không thể tách rời.
* Bà từng nói rằng tất cả các tác phẩm của bà đều xoay quanh câu hỏi về ý nghĩa của việc làm người. Bản chất của người mang một tầm vóc bao la, trải dài từ sự man rợ đến sự cao cả. Ở cái vẻ bề ngoài thì Bản chất của người khắc họa sự trưởng thành của một đất nước non trẻ sau chiến tranh đang chật vật tiến tới dân chủ, dường như rất khác biệt với Người ăn chay, một tiểu thuyết có không gian cá nhân, riêng tư mãnh liệt.
– Đúng vậy, dù hai cuốn tiểu thuyết này có vẻ rất khác nhau, nhưng thực tế có thể được xem như một cặp, với các gốc rễ đan xen lẫn nhau. Khi viết Người ăn chay, tôi đã ôm ấp những câu hỏi về bạo lực của con người và khả tính (hay bất khả tính) của sự vô tội. Phía sau nỗ lực cực đoan của nhân vật chính Yeong-hye khi từ bỏ bạo lực bằng cách rũ bỏ cơ thể con người của mình và biến thành một cái cây là nỗi tuyệt vọng sâu sắc và sự nghi ngờ về nhân tính. Trong một cuốn sách khác của tôi, Bài học Hy Lạp, nhân vật chính mất đi khả năng ngôn ngữ như một cách để từ chối bạo lực tràn ngập trong ngôn từ.
Cử chỉ từ chối cũng đồng thời chứa đựng một nỗ lực phục hồi, một cách chi li, một cách đầy khó khăn và gian khổ, đó là nỗ lực phục hồi phẩm giá thông qua hành động tự hủy hoại. Bản chất của người cũng bắt đầu từ nỗi đau đớn về bạo lực của con người, nhưng cuối cùng tôi muốn vươn tới phẩm giá con người, là nơi sáng rỡ, nơi những bông hoa nở rộ. Đó là động lực lớn nhất để tôi tiếp tục viết cuốn tiểu thuyết này.
* Cấu trúc của Bản chất của người, với các chương đan xen kể câu chuyện theo các quan điểm khác nhau, gợi cho chúng ta hồi tưởng đến tác phẩm Rashomon, nơi mỗi lời kể mở ra, phơi bày phần nào câu chuyện. Tại sao bà lại chọn cấu trúc này để kể câu chuyện về những giờ phút cuối trong cuộc đời nhân vật trung tâm, Dong-ho?
– Cuộc sống và cái chết của Dong-ho là một câu chuyện chỉ có thể kể theo cách như vậy. Bằng cách tập hợp các mảnh vỡ rải rác của những giờ phút cuối của Dong-ho, người đọc có thể ghép lại một gương mặt mà sự thật chỉ hiện lên mờ nhạt, chỉ có thể thoáng nhìn trước khi tan biến. Tôi cũng đã sử dụng hình thức này trong Người ăn chay. Yeong-hye chỉ có giọng nói trong các đoạn độc thoại ngắn ngủi của giấc mơ, nên hình ảnh người phụ nữ kiên cường và quyết liệt này được ghép lại thành một tổng thể bất toàn qua ánh nhìn và giọng nói của những người quanh cô. Tôi luôn quan tâm đến các câu chuyện và khoảnh khắc của sự thật mà không thể được kể bằng các lối kể truyền thống.
* Trong hình thức đa thanh đa giọng kể này, nhân vật Dong-ho xuất hiện trong phần lớn cuốn tiểu thuyết dưới ngôi kể thứ hai. Tại sao bà lại quyết định như vậy?
– Ngôi thứ hai “bạn” là một cá thể được một ngôi “tôi” khác gọi tên, và người này khác với người kể chuyện ngôi thứ ba. Qua lời gọi đó, “bạn” hiện hữu trong không gian và thời gian mà “tôi” đang sống. Mặc dù cậu bé 15 tuổi Dong-ho không thể vượt qua được tháng 5 năm 1980, nhưng việc gọi tên liên tục có thể khiến cậu xuất hiện ở đây, phá vỡ màn đêm và thấm vào hiện tại. Và vì thế, Dong-ho được những người kể chuyện khác nhau liên tiếp gọi tên và nhớ lại, một nhân vật khác nhau cho mỗi chương, mỗi chương là một lát cắt thời gian khác nhau, và cuối cùng, sau hơn ba mươi năm, cậu bước vào hiện tại của chúng ta. Trong tiếng Hàn, tựa đề cuốn sách đúng ra là Cậu bé đang đến gần.
* Trong chương “Biên tập viên”, biên tập viên của một vở kịch bị nhà nước kiểm duyệt lặp lại một nghi thức quay về với một vụ tra tấn nhằm cố gắng “nhớ để quên”. Vở kịch bị kiểm duyệt nặng nề sau đó đã được trình diễn trong không gian câm lặng trong tiểu thuyết. Lý thuyết chấn thương văn học cổ điển có thể cho rằng việc nhân vật biên tập viên lặp đi lặp lại và việc bà, là người viết, quay lại với cái chết của Dong-ho để biến cái chết đó thành văn chương, là những nỗ lực tiếp cận với một thế giới không thể diễn tả, vốn đã tiềm tàng trong trải nghiệm của chấn thương ban đầu.
– Tôi tin chấn thương cần được ôm ấp mà không cần chữa lành hay hồi phục. Tôi tin nỗi đau là thứ định vị chỗ đứng của người đã khuất trong lòng kẻ sống; và rằng, qua việc quay lại nơi đó nhiều lần, qua việc chúng ta ôm lấy nó trong đau đớn và lặng lẽ suốt cả cuộc đời, sự sống có thể, một cách nghịch lý, trở thành hiện thực.
Trong Chương Ba, Eun-sook đã biến cuộc đời mình thành một đám tang để cô có thể tỏ lòng thương tiếc cho Dong-ho và các nạn nhân khác của cuộc thảm sát, theo một cách bền bỉ và dai dẳng. Vở kịch này được viết cho những người đã chết mà không được tổ chức lễ chôn cất, được trình diễn trong im lặng sau khi các kiểm duyệt viên xóa gần hết nội dung, khiến đôi môi của các diễn viên chỉ mấp máy thay cho lời nói. Cảnh im lặng này dĩ nhiên là một phần của hoàn cảnh thực trong thời kỳ kiểm duyệt diễn ra; một nỗi tuyệt vọng, và đồng thời là một hành động tưởng nhớ đầy bất khả.
* Cách bà sử dụng yếu tố thời gian trong Bản chất của người rất thú vị. Mỗi chương diễn ra trong những khoảng thời gian kế tiếp nhau sau cuộc thảm sát năm 1980 cho đến khi câu chuyện chấm dứt trong hiện tại, khi bà viết cuốn sách này vào năm 2013, nhưng quá trrình tiến triển này không hoàn toàn là tuyến tính. Chẳng hạn, người đọc phải ghép lại câu chuyện rời rạc về cái chết của Dong-ho, và trải nghiệm của người đọc về thời gian vì thế là thời gian với tư cách là một sản phẩm được kiến tạo từ ký ức. Bằng cách này, một loạt nhân vật được tạo ra liên kết quá khứ và hiện tại. Bà có thể nói thêm về yếu tố thời gian này không? Quyết định này có mang tính đạo đức không?
– Khi bạn nhắc đến quá khứ và hiện tại, tôi hồi tưởng lại một thời điểm trong những năm tháng tuổi đôi mươi của mình. Mặc dù vào thời điểm đó tôi hoàn toàn không có ý định viết tiểu thuyết về cuộc thảm sát Gwangju, nhưng đây là chuyện luôn ẩn sâu trong tâm khảm của tôi, như một mảnh vỡ hoặc cái bóng của một cơn ác mộng. Khoảng thời gian đó, mỗi khi tôi viết đầy một cuốn nhật ký và bắt đầu một cuốn mới, tôi sẽ viết lại cùng một đoạn trên trang giấy trắng đầu tiên. “Liệu hiện tại có thể cứu rỗi quá khứ? Liệu người sống có thể cứu rỗi người chết không?” Khi, gần hai mươi năm sau, tôi viết Bản chất của người, tôi đã suy ngẫm kỹ càng lại những câu hỏi đó.
Có lẽ tôi cần phải nói về những thay đổi mà tôi đã trải qua trong quá trình viết Bản chất của người. Suốt ba tháng sau tháng 12 năm 2012, tôi dành tám hoặc chín tiếng mỗi ngày để đọc các tài liệu tàn khốc liên quan đến sự kiện Gwangju, sau đó là đọc về các trường hợp khác về các hành động tàn ác mà loài người đã thực hiện trong suốt thế kỷ XX; càng đọc, niềm tin vào nhân loại mà tôi từng có dần tan vỡ. Tôi cảm thấy bất lực, không thể tiếp tục viết, và suýt nữa đã từ bỏ. Rồi một ngày, tôi tình cờ đọc được những dòng nhật ký cuối cùng của một dân quân đã ở lại trong Văn phòng tỉnh lị vào rạng sáng ngày 27 tháng 5 năm 1980 và đã qua đời. Đó là một người đàn ông 27 tuổi, tính tình trầm lặng, nhạy cảm, từng làm nghề dạy học ban đêm. Những dòng nhật ký là một lời cầu nguyện, bắt đầu bằng: “Lạy Chúa, tại sao cái gọi là lương tâm lại đâm nhói và làm tôi đau đớn đến vậy? Tôi muốn sống.” Khi đọc những dòng đó, tôi nhận ra điều mà mình đã bỏ lỡ trong những lần đọc trước đó. Và tôi nghĩ rằng, dù tiểu thuyết này bắt đầu từ tính tàn bạo và bạo lực của con người, nó phải tiến tới phẩm giá con người. Tôi cảm thấy đó là con đường duy nhất, và tôi phải đi theo hướng đó càng xa càng tốt.
* Thật ấn tượng khi cuốn sách mở đầu và kết thúc với hình ảnh một ngọn nến thắp lên để tưởng nhớ bao người đã khuất, vậy vai trò của sự tưởng niệm là gì?
– Tôi muốn thắp lên một ngọn nến ở ngay đầu và cuối cuốn sách này, để tưởng niệm theo cách tốt nhất mà tôi có thể. Bởi vì các hình ảnh được tái hiện của một người hay nhiều người trở về với chúng ta qua tim của một ngọn lửa đang lụi tàn, vượt qua quãng thời gian ba mươi năm. Theo cách đó, tôi muốn để quá khứ và hiện tại, người đã khuất và người sống, gặp nhau trong ngọn nến ấy. Đột nhiên, tôi thấy rõ trong tâm trí mình rằng mình nên sắp xếp các chương như thế nào, và tôi đã có thể bắt đầu viết vào tháng 3 năm 2013. Khi tôi bắt đầu đúng cách, điều tôi sớm nhận ra là trong cuốn sách này, tôi không quan trọng. Một cách tự nhiên đầy chất ngạc nhiên, ý thức về bản thân tôi biến mất. Tôi muốn dâng hiến tình cảm, cơ thể và cả cuộc sống của mình cho họ.
* Chương “Cô công nhân nhà máy” là một chương có sự đan xen phức tạp giữa ký ức, những giấc mơ và hiện tại. Người công nhân cũ của nhà máy tên là Lim, đã bị liệt vào danh sách đen và bị tra tấn vì cô tham gia tích cực trong một nhóm phụ nữ ly khai khỏi công đoàn chính thống, đã từ chối cung cấp lời khai cho một luận án học thuật. Bà nghĩ rằng hành động viết lách có mối quan hệ như thế nào với hành động làm chứng, dưới góc nhìn của bà, “Người viết”, trong chương cuối của cuốn sách?
– Chương đó, Chương Năm, tôi viết rất nhọc. Dù ban đầu tôi nghĩ muốn dành tình cảm, cơ thể và cuộc sống cho “họ”, nhưng khi viết về cuộc đời Lim Seon-ju, là ngườii sống sót sau những đòn tra tấn, tôi lại một lần nữa trải qua các cảm giác mà dường như, với tư cách một người phụ nữ như cô ấy, tôi không muốn phải chịu đựng. Và vì vậy, lúc đầu chương này mang tông giọng của kẻ quan sát Seon-ju từ xa, vào một đêm tháng Tám năm 2002. Sau đó, tôi nhận ra rằng có chuyện đó là bởi vì tôi đã cố gắng tạo ra khoảng cách với cô ấy, và vì vậy tôi đã viết lại toàn bộ chương từ đầu. Tôi đã cố gắng viết thật chính xác cảm giác của cô ấy khi không thể nhấn nút ghi âm. Và tôi viết câu cuối cùng của chương, “xin đừng chết”, bằng giọng của Seon-ju. Đừng chết; đó là điều tôi muốn nói với cô ấy, với tất cả những người sống, với cả chính chúng ta.
Mặc dù viết chương đó rất khó, nhưng nỗi đau ở lời khai của Seon-ju tuyệt đối không thể so với nỗi đau người viết trải qua. Bởi dù người viết cảm thấy đau khi dành cảm xúc và cuộc đời cho các nhân vật để viết lời khai, nhưng cuối cùng người viết vẫn là người sống sót sau cuốn sách này. Những ngày này, tôi cảm thấy rằng sự dằn vặt của người sống không thể nào biến mất, ngay cả sau khi cuốn sách ra đời.
* Thật sai lầm nếu gọi Bản chất của người là tiểu thuyết lịch sử vì quá khứ trong cuốn sách này không yên vị mà vẫn tiếp tục len lỏi vào hiện tại qua những ký ức và những vết sẹo. Ngày nay, cuộc thảm sát tồn tại cả trong trí nhớ sống động lẫn trong tài liệu, vậy quá trình nghiên cứu và lập kế hoạch của bà diễn ra như thế nào? Bà có sử dụng các tài liệu lưu trữ lịch sử trong quá trình nghiên cứu của bà không?
– Khi viết cuốn sách này, tôi cố gắng xem xét kỹ lưỡng bối cảnh lịch sử của Gwangju. Nói cách khác, thay vì để tháng Năm năm 1980 bùng nổ bất ngờ, tôi muốn cho người đọc thấy được việc chính quyền quân sự đã đàn áp hoạt động nhân quyền trong thập niên 1970, và phong trào lao động đã trở thành mồi lửa thế nào.
Nếu tôi viết cuốn sách này vào thập niên 1990, việc thu thập tài liệu sẽ là thách thức lớn. Nhưng vì tôi bắt đầu viết vào mùa đông năm 2012, tôi đã thu thập rất nhiều tài liệu từ các tổ chức như Trung tâm Nghiên cứu 5.18 và Quỹ Văn hóa 5.18. Vì thế, trên thực tế, khó khăn mà tôi gặp phải là làm thế nào để đọc núi tài liệu này. Đặc biệt, có những lời khai của hàng trăm người, và tất cả là hơn hai ngàn trang; đọc kỹ lưỡng các tài liệu đó là rất quan trọng đối với tôi. Nhưng cuối cùng, tôi muốn cuốn tiểu thuyết không phải là một tài liệu mà là một tác phẩm văn học thấm đẫm tính nhân văn.
* Bà có thực hiện các cuộc phỏng vấn không?
– Tôi không muốn khiến gia đình của những người đã khuất hay những người bị chấn thương phải chịu đựng thêm một cuộc phỏng vấn nào nữa, bởi họ đã nhiều lần cung cấp những lời khai. Tôi cảm thấy điều đó sẽ không đúng đắn. Nhưng tôi đã gặp những người bình thường mà tôi quen biết và hỏi họ về sự kiện Gwangju. Họ biết đến sự kiện đó lần đầu tiên là khi nào? Việc biết đó đã thay đổi cuộc đời họ như thế nào? Và tôi đã nhận được sự giúp đỡ bất ngờ về nhiều việc. Từ thông tin về những tài liệu quý giá mà tôi chưa từng biết đến; bản mô tả về không khí trong các trường đại học đầu thập niên 1980, điều mà khi còn nhỏ tôi chưa thể tự mình trải nghiệm; đến các chi tiết về không khí của văn phòng kiểm duyệt trong thời kỳ đó. Những chi tiết đó chính là những gì tôi cần. Tôi thấy biết ơn những người đã mở lòng với tôi bằng cách như vậy.
* Bản chất của người ám ảnh đầy những hồn ma lang thang vất vưởng trong từng trang sách, đó là những nạn nhân đau đơns của cuộc thảm sát. Bà có thể nói về truyền thống viết về ma quỷ trong văn học và văn hóa dân gian Hàn Quốc? Sự xuất hiện của các hồn ma trong Bản chất của người có liên quan gì đến sự đứt gãy giữa quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng và niềm tin truyền thống của Hàn Quốc không?
– Những linh hồn lang thang vất vưởng này không hoàn toàn liên quan đến hệ thống niềm tin truyền thống của Hàn Quốc. Ngay cả ở Hàn Quốc, hình ảnh của những “hon” (không hoàn toàn là hồn ma hay linh hồn trong tiếng Anh) cũng được hiểu như một điều gì đó khác thường, và tôi thường được hỏi về nó. Trong Chương Hai, các hon có khả năng nhận biết liệu một người đã chết hay chưa, mặc dù không biết họ là ai, và cảm nhận sự hiện diện của nhau như một điều gì đó mỏng manh và mềm mại khi chạm vào. Trong Chương Năm, khi Seon-ju tưởng tượng bước chân nhẹ nhàng của hon của Dong-ho đang tiến gần, cô cảm nhận chúng bằng cảm giác của một hon như vậy.
Ngay cả trước khi viết Bản chất của người, mỗi khi tôi có những suy nghĩ về hon, tôi luôn tưởng tượng chúng theo kiểu như thế này, như những thực thể mềm mại và nhợt nhạt. Một tiền bối của tôi ở trường đại học, một nhà thơ, từng nói: “Nếu có một thứ như linh hồn, có lẽ chúng sẽ giống như khuôn mặt của ai đó bền bỉ lấp lánh trong trái tim một người khi họ đã yêu say đắm.” Những suy nghĩ của tôi cũng giống như vậy. Hon dường như là một thứ mỏng manh và lung linh, như một cái bóng.
Trong Bản chất của người, thế giới sau cái chết không có thần thánh cũng không có đấng cứu rỗi nào cả. Các hon chỉ lơ lửng trên thân xác của họ như những bóng mờ mảnh dẻ không có giới hạn, nhớ lại cuộc sống và cái chết của chính họ. Chính vì điều này mà chúng ta, những con người đang sống, đều phải chịu trách nhiệm.
* Có tồn tại một nền văn học “quốc gia” Hàn Quốc đương đại không, và nếu có, bà nghĩ Bản chất của người có chủ đề nào chung hoặc nói về chủ đề nào?
Tôi không thấy một khái niệm cụ thể về “văn học quốc gia” hay “văn học dân tộc”. Mà tôi luôn bị cuốn hút vào ngôn ngữ. Tôi thích suy ngẫm về chiều sâu, tính phức tạp và tinh tế của các lớp văn hóa mà một ngôn ngữ ẩn chứa. Tôi chịu ơn sâu thơ ca và tiểu thuyết tiếng Hàn, vì tôi đã trải qua thanh xuân chìm đắm trong đó.
Bản chất của người có các chủ đề chung với Trăm năm quán trọ của Lim Cheol-woo. Khi còn trẻ, Lim đã trực tiếp tham gia vào cuộc Nổi dậy Gwangju, và với tư cách là một nhà văn, ông đã dành phần đời còn lại để xem xét tỉ mỉ việc làm chứng về Gwangju. Ngày xuân, có thể coi là tác phẩm đại diện của ông, một tiểu thuyết năm tập tái hiện mười ngày chính quyền dân sự của Gwangju. Trăm năm quán trọ, xuất bản tiếp theo, là một tác phẩm đẹp đến lạ kỳ, dù ngắn hơn nhiều so với Ngày xuân, nhưng thương tiếc không chỉ cho Gwangju mà cho toàn bộ thế kỷ XX của Hàn Quốc. Tuy nhiên, dù vậy, tôi không chắc đó có thể được gọi là “văn học quốc gia” hay không.
* Cuối cùng, bà có thể chia sẻ về cuốn sách tiếp theo của bà không?
– Một thời gian trước, tôi đã viết một cuốn sách rất ngắn, khó phân loại, một kiểu tiểu luận pha thơ văn xuôi. Dự kiến sẽ xuất bản vào tháng 6 này tại Hàn Quốc. Có một nghệ sĩ thực hiện các tác phẩm sắp đặt thị giác và video hiện đang chuẩn bị một tác phẩm dựa trên cuốn sách này, vì vậy sẽ có một triển lãm ở Seoul để trùng với thời gian phát hành của nó.
Về cuốn tiểu thuyết hoàn chỉnh tiếp theo, tôi đang viết một tác phẩm ba phần khác. Giống như Người ăn chay, đó sẽ là ba truyện ngắn độc lập hợp thành một tiểu thuyết; tôi đã hoàn thành phần truyện ngắn đầu tiên và hiện đang viết phần thứ hai.
VIÊN MINH dịch
Viết & Đọc xuân 2025

















