Kỳ 4: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

Từ thực tế bông sen tàn trong bình hoa để rồi tác giả như giúp ta liên tưởng đến sự hy sinh mà dồn chất cho những gì cần tồn tại “rụng cánh để nhụy tươi”. Và cái sự “rụng cánh” của hoa kia cũng được nhìn qua lăng kính lãng mạn vô cùng đẹp. Ấy là vẻ đẹp của sự hi sinh tôn nền tạo đà. Nhân hóa để lí giải điều chi “sen rùng mình trút giấc mùa thiên thần/ xuống mặt bàn loang ố”?

Nhà phê bình Khang Quốc Ngọc

>> Kỳ 1: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

>> Kỳ 2: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

>> Kỳ 3: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

 

Trong thế giới chữ có nhiều đường đi và phương tiện” vang lên như một mệnh đề xác quyết đầu tiên của bài thơ ở người làm nghệ thuật ngôn từ. Hành trình ấy luôn phong phú và đa dạng. Gạn đục khơi trong là tùy ở anh, chọn đường đi nước bước nào nhằm đạt mục đích cuộc đời là ở tùy từng người “Mỗi loại bút mang một màu mực tùy ý thích mà dùng/ Áo xanh áo hoa người nhiều ý kẻ lắm lời cùng bước”. Đấy là tự do, mà có tự do thì mới thật sự là cuộc đời. Nhưng nếu anh chọn sai anh sẽ phải trả giá, một cái giá rất đắt, bởi lẽ thành công ở cuộc đời là sự chắt lọc của cả một quá trình tìm đường và khai triển. Hơn nữa, văn hào Lỗ Tấn từng nói “trên bước đường thành công không có vết chân của kẻ lười biếng”. Cuộc sống vốn dĩ vô cùng đa dạng,  đôi khi nó còn là một sự phức hợp đến khó hiểu, song sự thành công trong cuộc đời thì luôn không chấp nhận kẻ lười biếng và những kẻ đi bằng đôi chân người khác “Những kẻ lười chọn đường tắt rơi xuống vực sâu không đáy/ Những kẻ trên lưng người khác bị bão trời ném xuống vách núi”. Nếu cuộc đời chỉ chăm chắm dựa thế “trên lưng người khác” cốt để kiếm chác vơ cào mong cầu kết quả thì đó cũng chỉ là sự láu cá vặt vãnh sao có thể đủ sức mà mơ tựu thành viên mãn? Cho nên, cuối cùng còn lại trên con đường nghệ thuật là những người dám dấn thân và đương đầu với mọi chông gai “chỉ những người tim loét máu và lệ của đời tiếp tục đi”. Dĩ nhiên, cái giá phải trả cho sự dấn thân là không hề nhẹ, nó có thể là cả đau khổ lẫn hy sinh “tim loét máu và lệ của đời”. Sự tôi luyện ấy đã cho họ đủ dũng mãnh để “tiếp tục đi” trên con đường họ đã chọn. Ý thơ mạnh. Giọng thơ rắn rỏi, đanh chắc. Lời thơ mang màu sắc tự sự vang ngân. Bài thơ như một xâu chuỗi những so sánh đan cài để cuối cùng vút lên giọng điệu tự hào về con người dám làm, dám chịu, dám dấn thân.

Trong thế giới chữ có nhiều đường đi và phương tiện

 

Mỗi loại bút mang một màu mực tùy ý thích mà dùng

Áo xanh áo hoa người nhiều ý kẻ lắm lời cùng bước

 

Những kẻ lười chọn đường tắt rơi xuống vực sâu không đáy

Những kẻ trên lưng người khác bị bão trời ném xuống vách núi

Chỉ những người tim loét máu và lệ của đời tiếp tục đi

(Vũ Tuyết Nhung – Thanh Hóa)

Giọng thơ siêu thực của Lê Đỗ Lan Anh lại tiếp tục “nhấp nháy” đa nghĩa và độc đáo dẫn dụ trong bài thơ “Chúng ta sẽ chết khi tất cả còn nguyên vẹn”. Ngay câu đầu đã thấy sự đa nghĩa chớp nhá rồi. Tại sao “chúng ta sẽ chết”? Khẳng định như vậy để nói cái gì khi “tất cả còn nguyên vẹn”? Quy luật sinh lão bệnh tử của cuộc đời chăng? Ý thơ hé ra ở câu thơ thứ hai mang hình ảnh chìa khóa mở tìm câu trả lời cho câu thơ trên chăng “sự sợ hãi khép nép trong khuôn khổ”? À thì ra vậy! Cái chết là do sự tẻ nhạt nhàm chán tạo ra bởi khuôn mẫu đã làm nảy sinh tâm lí “sợ hãi khép nép trong khuôn khổ” ấy rồi. Chi tiết “những vết dao nhấp nháy như hàm răng quỷ” là cách diễn tả hình ảnh hóa sự ám ảnh từng bị nỗi sợ hãi vô hình đeo đẳng. Sự vùng thoát nếu không đủ nội lực, cuộc đời sẽ luôn tù đọng, nhạt phèo chiếm lĩnh thì sống khác gì chết? Không phải ngẫu nhiên mà tác giả lại đặt “quyên sinh và tái tạo” đi liền nhau kiểu cái cụp cái xòe. Anh không dám từ bỏ lối cũ, có thể là hào quang quá khứ, suốt ngày ôm ấp quá khứ kiểu “ăn mày dĩ vãng” (Chu Lai) thì sao có thể mơ đến sự “tái tạo” và bứt phá? Anh chủ trương vây hãm cả đến những khoái lạc mang bản thể người “nụ hôn bị tống giam trong lồng kín” thì tránh sao hiện trạng đen ngòm kia không vây bủa “luồng sáng cắt ngang bóng bù hông (bù hong?) đen trắng phận người” hỡi anh? Ở đây, rõ ràng khát vọng đã được đặt ra ẩn bên trong hiện trạng vây hãm ghê gớm ấy. Nên giọng thơ tưởng như lạnh lùng nhưng lại chất chứa bao khát khao giải tỏa. Quy luật nhân quả trong nghệ thuật, trong cuộc đời xoắn quyện vào nhau, thấy cứ lấp lánh lên bởi sự diễn tả ấy là cực kì xác đáng và ấn tượng. Anh có dám, có đủ bản lĩnh tự cắt, tự đoạn tuyệt với những cái lỗi thời lạc hậu kia không? Hay là anh luôn luôn “khép nép trong khuôn khổ” để rồi chấp nhận cả cuộc đời “bù hông đen trắng phận người”? Câu thơ gợi tả. Nhịp thơ chậm. Lấy cái nền nhìn ngắm hiện sinh mà suy tưởng, khát khao! Ôi, đáng trân trọng thay những suy nghĩ sâu sắc và táo bạo!

Chúng ta sẽ chết khi tất cả còn nguyên vẹn

 

Sự sợ hãi khép nép trong khuôn khổ

Những vết dao nhấp nháy như hàm răng quỷ

 

Quyên sinh và tái tạo

Nụ hôn bị tống giam trong lồng kín

Luồng sáng cắt ngang bóng bù hông đen trắng phận người.

(Lê Đỗ Lan Anh – Vĩnh Long)

Bài thơ là cái nhìn chia sẻ đẫm nỗi bâng khuâng qua những lát cắt ghi hình để hiển lộ đặc thù khoảng cách của cuộc sống như nó vốn dĩ hiện hữu ngàn đời nơi xứ sở “nghìn lẻ một đêm”. Phía ấy là sự “huyền bí” đầy “bí ẩn” và chỉ có “gió say sưa kể nghìn lẻ chuyện tình”, “trên sa mạc”. Sự bao quát qua cái nhìn từ xa “hoàng hôn trên sa mạc/ bóng lạc đà nhấp nhô trên sóng cát”,“gió say sưa kể” đến thu hẹp về gần “thăm thăm thẳm ánh nhìn”. Điều đó cho thấy, bài thơ rất giàu chất điện ảnh. Điểm dừng nghỉ và nhấn nhá của bài thơ cũng là lúc ý thơ tụ lại ở chi tiết miêu tả đôi mắt “thăm thăm thẳm ánh nhìn”. Tụ mà trượt dài bởi ba chữ mang vóc dáng của từ láy ba đầy sáng tạo “thăm thăm thẳm”. Bình thường“thăm thẳm” đã là diệu vợi rồi, ở đây con chữ bung ra thêm một lần “thăm” nữa thì phải chăng tác giả muốn diễn tả điều chi đó sâu thẳm và miên viễn đến vô cùng? Cửa sổ tâm hồn ngàn năm “bí ẩn”. Đến câu cuối, ý thơ như giãy lên biểu tình làm cho tác giả đành phải buông ra một câu y hệt như tiếng thở dài chát chua xác nhận “Ngàn đời nỗi niềm em chất chứa lặng im…”. Ngàn đời lặng im nỗi niềm kia, dường như đã và đang được chất chứa trong ánh mắt thăm thẳm ấy, nghe sao mà ám ảnh! Rung lắc tâm can cũng chỉ đến thế là cùng! Bởi vậy cho nên, tác giả đã rất có lí khi viết “thăm thăm thẳm”. Lời thơ gợi tả. Giọng thơ lặng. Ý thơ mênh mang. Những nỗi niềm, những ẩn ức, những khát khao, những tâm tư, những chất chứa… đều chỉ có thể được nói lên bằng ánh mắt. Tưởng đóng lại tất cả nhưng tất cả lại như đang được mở ra đấy thôi! Ánh mắt “thăm thăm thẳm” đầy những dồn nén! Vây kín, bít bùng nhưng lại tràn ngập những năng lượng khao khát, tỏ bày. Là vẫn say sưa đó. Là vẫn mênh mông đó. Cực kì đặc thù của xứ sở “sóng cát/ sa mạc”“lạc đà” đầy những “bí ẩn”, “huyền bí” và mênh mang…!

Huyền bí hoàng hôn trên sa mạc

 

Bóng lạc đà nhấp nhô sóng cát

Gió say sưa kể nghìn lẻ chuyện tình

 

Thăm thăm thẳm ánh nhìn

Dưới chiếc khăn trùm đen bí ẩn

Ngàn đời nỗi niềm em chất chứa lặng im…

(Chử Lê Hoàng Điệp – Kuwait)

Sự khắc khoải ríu chân người bởi thực tế đã hiện hữu chứ âu lo không còn xa vắng mơ hồ nữa. Mọi sự thay đổi đều để lại những ám ảnh hoặc vui hoặc buồn. Chuyển dịch nào không có những xa xôi lo lắng? Bài thơ “Bất chợt tháng Chạp diễm ảo trăng ngà” nói rất ấn tượng dòng suy nghĩ ấy. Người ở quê thì mong ngóng đoàn tụ. Tác giả khắc họa không gian lung linh “diễm ảo trăng ngà” khi “tháng chạp” về là có ý nhắc sự vẹn nguyên đẹp đẽ của lòng người là còn nguyên đó, phải chăng sự thủy chung đã và đang được kích hoạt? Nhưng “người mong ngóng, lá cuối chiều chợt rụng/ Bến sông trôi câu hẹn không về” thì thực tế ấy dẫn đến một nỗi lo lớn hơn “Bỏ lại quê nhà, những câu thơ Nguyễn Bính/ Thương hội làng còn ai nhặt tiếng mưa”! Sự khắc khoải âu lo vượt lên tầm thời cuộc, đâu chỉ nằm trong khoảng thở than nam nữ thường tình? Tác giả có cài đặt Nguyễn Bính vào bài thì phải chăng cũng là để vãi thêm một tí giống chênh vênh cho bài thơ khi gợi nhắc “nhiều em ra phố”? Bởi ở đó có tí chút bóng dáng nhân vật trữ tình của thi sĩ Nguyễn Bính: “Hôm qua em đi tỉnh về/ đợi em ở mãi con đê đầu làng” (Chân quê) để rồi cuối bài thơ bung tóe ra là một sự thật xót dạ “hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” (Chân quê) chăng? Ý thơ giãi bày sự lo lắng khi mà hiện giờ họ đang sống trong một sự tách bạch đến lạnh lùng “bỏ lại quê nhà, những câu thơ Nguyễn Bính” cũng có nghĩa rằng không còn cơ hội để quay về với “hội làng” với sinh hoạt văn hóa cội nguồn nên tâm tình bật ra, ngậm ngùi và xa xót “thương hội làng còn ai nhặt tiếng mưa”? Bài thơ lóng lánh như mưa xuân mà cũng đau đáu tâm tình như Nguyễn Bính. Giọng thơ da diết, khắc khoải. Ý thơ trĩu nặng tâm tư.

Bất chợt tháng Chạp diễm ảo trăng ngà

 

Người mong ngóng, lá cuối chiều chợt rụng

Bến sông trôi câu hẹn không về

 

Để mê mải giêng hai thật nhiều em ra phố

Bỏ lại quê nhà, những câu thơ Nguyễn Bính

Thương hội làng còn ai nhặt tiếng mưa.

(Võ Văn Trường – Quảng Nam)

Có thể xem bài thơ “Giữa bóng tối và ánh sáng” là tiếng nói phản biện cuộc đời về tình yêu ngồ ngộ được cất lên mạnh mẽ kiểu tương phản trong thơ nữ sĩ vùng cao nguyên đất đỏ Trần Nguyệt Ánh. Một cách nói ngược cực duyên. “Đàn ông nông nổi giếng khơi/ Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu (Ca dao). Có thể tác giả đã khai thác khá triệt để câu ca dao trên để làm chất liệu tạo tác nên bài thơ hay chỉ là sự nhập liệu có sẵn bởi trong tâm thức người giáo viên nữ sĩ ấy đã vốn ắp đầy kho tàng ca dao tục ngữ? Hiểu cách nào thì cũng đáng trân trọng cái nhìn na ná ngược sáng kia. Đôi lúc, trong cuộc sống cái ta thấy hiển nhiên mười mươi đúng lại chưa chắc đúng, cái ta thấy nó như vô lí ầm ầm thì hóa ra, có thể lại rất có lí. Ngạc nhiên ư? Cuộc sống vốn dĩ chứa đựng những điều ngạc nhiên mà. Ngạc nhiên để vỡ òa, ngạc nhiên để thổn thức, ngạc nhiên để tri ngộ, ngạc nhiên để tri giác… cũng đều là cần thiết cho cuộc sống cả. Bắt được cái mạch nguồn ấy, nữ sĩ phố núi đặt ra một sự chọn lựa ngay trong phần đầu bài thơ “giữa bóng tối và ánh sáng/ Em chọn lối nào cho chúng ta/ Để trái tim không bị tù đày”? Dĩ nhiên nhân vật trữ tình “em” sẽ chọn lối đi là “ánh sáng”. Đây cũng là sự lựa chọn phổ quát cho tất cả chúng ta. Chả ai dại gì đâm đầu vô chọn “bóng tối”. Phổ quát nên dĩ nhiên là thế, chắc chắn thế, bởi không thể khác. Nói gì nói, trong cuộc sống, nhất là tình duyên, thì “ánh sáng” luôn được ưu ái, luôn được đặt lên phía trên “bóng tối” kể cả xét ở nghĩa gốc lẫn nghĩa biểu tượng. Nhưng sau khi đã chọn “ánh sáng” rồi thì sao? “Ánh sáng kia làm mắt chói loà/ Không thấy đường đi khiến em vấp ngã”. Một sự thực đã xảy ra, “ánh sáng kia” quá gắt nên “làm mắt em chói lòa” chăng? Vấn đề cốt lõi cũng là chìa khóa ở đây được ẩn sau hai chữ “chói lòa”. Thế thì đâu phải “ánh sáng” nào cũng có thể dẫn đường cho ta bước tới, bước lên? “Ánh sáng” đó chẳng qua chỉ là sự chói ngợp nhất thời đã làm cho nhân vật trữ tình “em” loạng choạng, để rồi “không thấy đường đi khiến em vấp ngã”. Một cú “vấp ngã” xứng đáng được nêu lên như là bài học quý báu cho những ai mù mờ lao theo “ánh sáng” phù hoa dẫn lối. Bởi thế, ngay câu thơ cuối, xuất hiện với vai trò là để hà hơi, tiếp sức cho đoạn thơ, nó làm dịu đi sự “vấp ngã” đau đớn phía trên, bởi nó xác quyết một sự thật đáng trân trọng rằng “trong bóng tối, anh dẫn đường, tâm hồn được hồi sinh!”. Một sự nhấn mạnh cần thiết hỗ trợ đắc lực cho mệnh đề chọn lựa tưởng như đúng mà sai lầm phía trên. Lời thơ mang bóng dáng mệnh đề đảo đã được chứng minh. Đến đây “có anh dẫn đường” là có tình yêu, vì có anh là có hai ta, có hạnh phúc. Hạnh phúc mở đường dẫn lối là từ “anh”, bởi “anh” đã dám bước từ “trong bóng tối” bước ra. Đến đây, thấy lấp lánh vẻ đẹp của sự bao dung và độ lượng. Ý thơ tưởng ngược đấy, nhưng rồi lại đâu có ngược! Thơ nén lời, ý lùi lại như lấy đà, sau đó ý bung ra thật mạnh. Giọng thơ tự nhiên, đằm thắm giàu nữ tính và lấp lánh bài học hiện sinh.

Giữa bóng tối và ánh sáng 

 

Em chọn lối nào cho chúng ta

Để trái tim không bị tù đày

 

Ánh sáng kia làm mắt chói loà

Không thấy đường đi khiến em vấp ngã

Trong bóng tối, anh dẫn đường, tâm hồn được hồi sinh!

(Trần Nguyệt Ánh – Đăk Lăk)

Chất triết lí cuộc đời ăm ắp trong “Bạch liên rụng cánh để nhụy tươi” của tác giả Vũ Thanh Thủy. Từ thực tế bông sen tàn trong bình hoa để rồi tác giả như giúp ta liên tưởng đến sự hy sinh mà dồn chất cho những gì cần tồn tại “rụng cánh để nhụy tươi”. Và cái sự “rụng cánh” của hoa kia cũng được nhìn qua lăng kính lãng mạn vô cùng đẹp. Ấy là vẻ đẹp của sự hi sinh tôn nền tạo đà. Nhân hóa để lí giải điều chi “sen rùng mình trút giấc mùa thiên thần/ xuống mặt bàn loang ố”? Thì ra, sen tàn chứ đâu phải rã bỏ. “Trút giấc mùa thiên thần” của hoa sen qua một chút “rùng mình/ xuống mặt bàn loang ố” thì đủ thấy sự thay đổi luôn nằm trong chuỗi chủ ý lột mình. Chấp nhận cho cánh sen rơi “xuống mặt bàn loang ố” là cái nhìn chấp nhận sự chuyển hóa của quy luật vô thường. Một sự chuyển hóa giàu giá trị bản thể. Từ cánh sen đẹp, ngát hương tới mặt bàn loang ố là phải qua một giai đoạn “rùng mình” như “trút giấc”. Cái đẹp rơi xuống vẫn trong tư thế đẹp. Phía dưới “người châm trà” nhìn “bạch liên” (hoa sen trắng) bong rơi từng lớp đời tri kỉ là cái nhìn của tri âm Bá Nha Tử Kì. Để từ đó nâng lên một quan điểm nhân sinh sâu sắc “Thác về nơi hoa không được sinh ra/ Uống cả nỗi buồn tha hương chưa kịp tới”. Từ hình ảnh cánh sen tàn trên bình hoa mà tác giả đã nâng lên thành nỗi buồn quá lớn đối với kẻ tha hương. Quê nhà đăm đắm. Quê nhà diệu vợi. Quê nhà chất chứa. “Quê hương nếu ai không nhớ/ Sẽ không lớn nổi thành người” (Đỗ Trung Quân). Người tha hương tâm hồn luôn thăm thẳm? Ý thơ nặng. Lời thơ chan chứa. Giọng suy lắng giàu chất triết lí nhân sinh:

Bạch liên rụng cánh để nhụy tươi

 

Sen rùng mình trút giấc mùa thiên thần

Xuống mặt bàn loang ố

 

Người châm trà nhìn bạch liên bong từng lớp đời tri kỷ

Thác về nơi hoa không được sinh ra

Uống cả nỗi buồn tha hương chưa kịp tới

(Vũ Thanh Thủy – Phú Thọ)

Sài Gòn 22.12.2021

KHANG QUỐC NGỌC

(Còn tiếp…)

2 thoughts on “Kỳ 4: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

  1. Phương says:

    Tôi xin trích lại đoạn câu cuối:.Vậy là sao ta?Tôi không biết đây là câu của tác giả bài viết KHANG QUỐC NGỌC(22/12/2021)hay là của BBT vanhocsaigon.com???”…mùa thiên thần là mùa gì???Nếu dùng biện pháp tu từ nhân hóa trong thơ thì không thể lý giải về nghĩa,vì “thiên thần” là không phải “con người” rồi phải không???Còn “mặt bàn loang ố” nếu xét về đối câu,đối từ,đối nghĩa thì không phải đối nhau giữa “sen rụng” ><"loang ố" trong câu: "sen rùng mình trút giấc mùa thiên thần/ xuống mặt bàn loang ố” ?Thôi,vài lời góp ý cho anh Khang Quốc Ngọc.Rất mong anh chú ý trong cách dùng từ,ngữ & biện pháp tu từ "nhân hóa" trong văn-thơ để người đọc hiểu & rung động sâu sắc hơn.Còn nếu anh dùng sai thì bài viết của anh trở thành "vô giá trị"đối với độc giả.Tôi cũng mong BBT vanhocsaigon.com thứ lỗi.Tôi xin chào trân trọng.
    pnguyenminh37@gmail.com

  2. Phương says:

    Tôi trích lại câu: “sen rùng mình trút giấc mùa thiên thần/ xuống mặt bàn loang ố”?
    Vậy là sao ta?Tôi không biết đây là câu của tác giả bài viết KHANG QUỐC NGỌC(22/12/2021)hay là của BBT vanhocsaigon.com??? ”…mùa thiên thần là mùa gì???Nếu dùng biện pháp tu từ nhân hóa trong thơ thì không thể lý giải về nghĩa,vì “thiên thần” là không phải “con người” rồi phải không???Còn “mặt bàn loang ố” nếu xét về đối câu,đối từ,đối nghĩa thì không phải đối nhau giữa “sen rụng” ><"loang ố" trong câu: "sen rùng mình trút giấc mùa thiên thần/ xuống mặt bàn loang ố” ?Thôi,vài lời góp ý cho anh Khang Quốc Ngọc.Rất mong anh chú ý trong cách dùng từ,ngữ & biện pháp tu từ "nhân hóa" trong văn-thơ để người đọc hiểu & rung động sâu sắc hơn.Còn nếu anh dùng sai thì bài viết của anh trở thành "vô giá trị"đối với độc giả.Tôi cũng mong BBT vanhocsaigon.com thứ lỗi.Tôi xin chào trân trọng.
    pnguyenminh37@gmail.com

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *