Mỹ nhân nơi đồng cỏ – Tiểu thuyết của Lê Hoài Nam – Kỳ 1

Nhà văn Lê Hoài Nam

VHSG- Tiểu thuyết Mỹ nhân nơi đồng cỏ (NXB Hội Nhà văn, 2017) của nhà văn Lê Hoài Nam tái hiện một giai đoạn ngắn trong lịch sử dân tộc dưới triều nhà Lê, kể từ lúc vua Lê Thái Tông đột ngột băng hà cho tới khi Hoàng tử Lê Tư Thành lên ngôi trở thành minh quân Lê Thánh Tông. Thông qua nhân vật trung tâm là cô gái cắt cỏ xinh đẹp và sắc sảo trở thành Thái hậu Nguyễn Thị Anh, tác giả đã khai mở và lý giải nhiều vấn đề còn ẩn khuất của lịch sử bằng góc nhìn của nhà tiểu thuyết giàu kiến văn và sức liên tưởng. VHSG xin cảm ơn nhà văn Lê Hoài Nam và trân trọng giới thiệu bạn đọc một số chương trích từ tiểu thuyết.

 

Chương mười bảy

 

Trong khuôn viên cung Diên Khánh có một căn phòng kê hai bộ salông gỗ gụ khảm trai, trên tường gắn những bức tranh vẽ thiếu nữ xinh đẹp của các họa sĩ Trung Hoa. Khi thiết triều có đông đủ văn võ bá quan thường diễn ra ở điện Kính Thiên. Nhưng phiên thiết triều ấy cho dù Hoàng thái hậu chính là tác giả của những điều nhà vua ban bố thì bà cũng chỉ ngồi ở vị trí nhiếp chính. Sinh ra căn phòng khách trong cung Diên Khánh là để những khi bà lấy quyền hành của chính bà, quyền của mẹ vua để nói với vua và các quan điều này điều khác. Tỷ dụ như sáng hôm nay Hoàng thái hậu cho gọi Đức vua Bang Cơ, Bình Nguyên vương Lê Tư Thành, Nhập nội đô đốc Đinh Liệt, Thiếu bảo tri quân sự Nguyễn Xí, Nội quan Đào Biểu, Trưởng cung nữ Lưu Bích đến phòng khách này để bà phủ dụ. Bà

– Ta được người trong Lam Kinh báo ra rằng, mấy hôm nay nước đầm trước cửa lăng miếu có sắc đỏ như máu, Đức vua và các khanh thử đoán xem vì sao như

Mọi người còn đang ngẫm nghĩ tìm câu trả lời thì Nguyễn Thị Anh đã nói:

– Đó là điềm báo không lành! Lăng tẩm ở Lam Kinh xây xong mà Đức vua và Bình Nguyên vương chưa vào đó làm lễ tế cáo nên các bậc tổ tiên có ý trách giận. Ngay sáng mai Đức vua và Bình Nguyên vương hãy xa giá vào Lam Kinh cúng tế làm trọn đạo hiếu nghe chưa?

Bang Cơ chưa kịp đáp lời thì Tư Thành đã nhanh nhảu nói:

– Bẩm Hoàng thái hậu, chúng con xin lĩnh ý!

Hoàng thái hậu nhìn sang phía Đinh Liệt và Nguyễn Xí, nói:

– Đức vua và Bình Nguyên vương còn ít tuổi, chưa hiểu nhiều về việc cúng tế nên  Nhập nội đo đốc và Thiếu bảo hãy đi cùng giúp đỡ họ. Ngoài ra hai ông phải có trách nhiệm hướng dẫn cho các quan đi cùng nữa. Bệ hạ, Điện hạ và hai ông  đích thân hướng  dẫn bá quan bái yết Sơ Lăng và ra lệnh cho quan coi lăng ở Lam Sơn rằng: “Mọi việc ở đền thờ cần phải thành kính, tinh khiết như ngả cây, chặt che, kiếm củi…”. Tế tẩm miếu thì dùng bốn trâu, đánh trống đồng, cho quân lính reo hò hưởng ứng. Về nhạc: võ thì múa điệu “Bình Ngô phá trận”, văn thì múa điệu “Chư hầu lai triều”. Đức vua và các khanh nhớ rồi chứ?

– Thưa mẫu hậu, trẫm nhớ rồi – Bang Cơ nói – Mẫu hậu hãy an lòng.

– Còn nữa – Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh nói tiếp – Tế xong thì  ban yến cho các quan hộ giá, các quan nhận chức ở ngoài và các quan trí sĩ ở hành điện Lam Kinh, thưởng tiền cho họ theo thứ bậc khác nhau. Ra sắc chỉ để các đại thần bàn định đặt tên hiệu cho các miếu điện. Ta có hỏi ý kiến của các quan văn – sử, họ nói nên đặt Chính điện là điện Quang Đức, điện Sùng Hiếu, hậu điện gọi là Diên Khánh. Đức vua và các khanh hãy tham khảo. Một việc nữa là hãy sai quân phủ Thanh Hóa làm tẩm cung thờ Thái hoàng thái phi ở phía tây điện lăng Lam Kinh. Đức vua và các khanh nhớ cả rồi chứ?

-Dạ, chúng thần đã ghi nhớ lời người – Đinh Liệt và Nguyễn Xí cùng đáp.

Sáng hôm sau, Hoàng đế  Lê Bang Cơ, Bình nguyên vương Lê Tư Thành thì ngồi chiếc xe song mã có trang trí riềm vàng rồng phượng. Đinh Liệt, Nguyễn Xí và các quan văn võ ngồi vừa ba xe. Xe sau cùng chở Đào Biểu, Lưu Bích và bốn cung nữ theo hầu. Lính cấm vệ đi trong  ba xe, một xe dẫn đầu, một xe đi giữa và một xe khóa đuôi. Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh ra tận cổng Hoàng cung tiễn họ. Hoàng thái hậu nhìn khắp lượt xem còn thiếu ai không. Tất cả những ai có quan hệ thân tín với Trịnh Khả và Trịnh Khắc Phục, đều được bà phân công đi trong chuyến này. Họ đều đã có mặt trong đoàn xa giá.

Đoàn đi Lam Kinh buổi sáng thì buổi chiều Nguyễn Thị Anh ra lệnh cho Tòa Đại Hình:

– Các khanh hãy bắt giam ngay hai cặp cha con: Nhập nội thiếu úy Trịnh Khả cùng con trai là Trịnh Quát, Tư khấu Trịnh Khắc Phục cùng con là Phò mã đô úy Trịnh Bá Nhai.

Tây đạo đô đốc Lê Lựu cũng được triệu vào cung Diên Khánh nghe thấy việc đó liền quỳ xuống tâu:

– Bẩm Hoàng thái hậu, Trịnh Khả và Trịnh Khắc Phục mắc tội gì ạ?

– Tội phản quốc! – Nguyễn Thị Anh nói như quát lên – Nhưng chuyện này không phải việc của khanh thì đừng biết sâu làm gì? Hử?

Lê Lựu cũng là một công huân của Hoàng triều, ông chưa chịu cách hành xử của Nguyễn Thị Anh, nói:

– Nhưng thưa Hoàng thái hậu, cha làm cha chịu; con làm con chịu, cớ sao lại cho bắt cả con của họ?

– Tây đạo đô đốc hỏi nhiều quá đấy – Nguyễn Thị Anh tỏ ra không hài lòng nhưng trước một vị đại thần có tính thật thà, sòng phẳng như Lê Lựu, sẽ rất bất lợi cho bà nếu bà không không trả lời – Hai cặp cha con này rất giống nhau, ăn ý với nhau, giống như câu trong dân gian “giỏ nhà ai, quai nhà ấy”, hay “hổ phụ sinh hổ tử”. Từ những câu ấy mà xét thì cha làm gì, con theo thế. Nếu trừng phạt cha mà để con thì hãy coi chừng, hai đứa con ấy hiện cũng làm quan trong triều, chúng sẽ phá từ trong phá ra, triều đình nghiêng ngả, thậm chí đổ nhào vì chúng…Ngài hiểu chưa, ngài Tây đạo đô đốc?

Biết có hỏi thêm cũng không cải thiện được tình hình, Lê Lựu đành thi lễ rồi cáo lui.

***

Tòa Đại Hình ngự trên một mảnh đất rộng khoảng hai sào bắc bộ, cách cổng hậu Hoàng cung mấy khu vườn với những giống cây tạp mọc tự do. Phía bắc là một tòa nhà rất kì lạ: tầng  dưới là tầng hầm, gồm rất nhiều  phòng giam.  Những người tử tù đã được điều chuyển đến đây thì hầu hết là không còn hy vọng có ngày về. Những người xử xong mà được sống để ngồi tù thì chuyển về nhà ngục gần vườn hoa thành phố, cách nơi này vài đạc đường.

Sở dĩ Tòa Đại Hình ở ngay sau lưng Hoàng cung là bởi không ít trường hợp trong buổi thiết triều, khi người phạm tội đã rõ, Đức vua và Hoàng thái hậu ra lệnh xử chém tức thì, đao phủ chỉ việc lôi tội nhân ra cổng hậu, đi thêm một quãng qua vườn cây là đến Tòa Đại Hình, tội nhân sẽ bị chém ở dưới cái sân cỏ đó.

Hai cặp cha con Trịnh Khả – Trịnh Quát, Trịnh Khắc Phục – Trịnh Bá Nhai bị bắt không cần phải điệu đến nơi tạm giam tra xét mà đưa thẳng đến nhà hầm trong Tòa Đại Hình chờ xét xử.

Bên trên mái khu nhà hầm tạm giam tử tội nhô lên khỏi mặt sân cỏ hơn một thước là một lớp sân nền ghép gạch với vữa mật mía, có tấm bình phong phía sau mang hình thù chiếc khánh , đắp nổi ba chữ Tòa Đại Hình. Mỗi khi xử án, các nội quan lại bê lên cái “sân thượng” ấy một chiếc ghế rất to, bằng gỗ gụ, trạm trổ hoa văn, khảm trai. Quan tòa phiên ấy dù là Đức vua, Hoàng thái hậu hay các quan của Tòa Đại Hình đều ngồi trên cái ghế ấy. Hai bên là bốn chiếc ghế cũng đóng theo mẫu như chiếc ghế quan tòa nhưng kích thước nhỏ hơn dành cho các quan ngự sử và gián quan. Khi tòa xử, tội nhân quỳ bên dưới trả lời những câu hỏi của quan tòa. Nếu tội nhân bị án tử thì cũng chém ngay tại chỗ để quan tòa , các quan ngự sử,   gián quan chứng kiến. Xung quanh sân Tòa Đại Hình có tường xây, để một cổng nhỏ nối với con đường lát gạch thất dẫn về cổng hậu Hoàng cung, một cổng lớn để dân chúng vào xem, và cũng là để di quan tài tội nhân ra con đường dẫn đến nghĩa địa. Thời Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông thì con đường này rải gạch vỡ lẫn đá dăm, hai  ven đường để cỏ mọc, cứ vài chục bước lại có một cây bàng. Giống bàng ở kinh đô Đông Quan thường rất nhiều lá. Lá xanh mướt mát suốt từ tháng ba cho đến tận tiết tiểu hàn, có gió bấc về lá mới ngả vàng. Đến tiết đại hàn thì lá ngả màu đỏ thắm. Sang thời Nhân Tông tuyên Hoàng đế có Tuyên từ Nguyễn Thị Anh nhiếp chính, phiên tòa xử Đinh Liệtcùng vợ và các con ông diễn ra vào tháng 8 mà chẳng hiểu sao ngày hôm đó những tán lá bàng đã đỏ thẫm như máu người. Các nhà phong thủy cho rằng đó là điềm gở, sẽ có tai ương chướng họa giáng xuống kinh thành. Tuyên từ Nguyễn Thị Anh ra lệnh cho cấm binh chặt hạ tất cả những cây bàng lá đỏ quái gở đó. Bà sai Văn Lão và Xương Lê về quê Bố Vệ của bà nhổ những cây huyết dụ ngoài nghĩa địa làng, xếp lên xe song mã, chở ra kinh đô trồng hai bên con đường này thay thế những cây bàng đã bị chặt.

Nghe nói thủa nhỏ Nguyễn Thị Anh hay quẩy đôi quang sọt ra khu nghĩa địa làng cắt cỏ cho bò. Gia đình bà nuôi hai con bò kéo. Vào thời vụ, chúng kéo cày, kéo bừa làm đất ngoài đồng trồng lúa, trồng khoai lang, lạc, vừng…Khi nông nhàn chúng lại kéo hai chiếc xe đi chở hàng thuê. Bố và anh trai Nguyễn Thị Anh, mỗi người điều khiển một xe. Còn nàng, quanh năm gắn bó với cánh đồng cỏ rộng mênh mông, giữa cánh đồng cỏ ấy là mọt khu nghĩa địa có rất nhiều cây huyết dụ màu đỏ thẫm. Vẻ đẹp trời cho của cô thiếu nữ cắt cỏ Nguyễn Thị Anh đã biến khu nghĩa địa xã Bố Vệ quê kiểng, hoang vắng trở thành nơi đi về dập dìu của các giai nhân, thề non hẹn biển với nàng. Nhưng mãnh liệt nhất phải kể đến chàng Lê Sủng. Chàng cao to như ông hộ pháp. Cứ mỗi lần ra nghĩa địa tìm nàng, chàng lại ôm nghiến lấy nàng đè xuống thảm cỏ. Chàng lột phăng quần áo của nàng ném lên khóm huyết dụ.  Chàng giao cấu với nàng, cảm giác sung sướng tột cùng khiến chàng cứ kêu o o rống lên như con bò. Nếu trong vùng không có viên quan phiên trấn phát hiện ra  nàng có một vẻ đẹp sắc nước hương trời tiến cử vào Hoàng cung làm vợ Thái Tông để lĩnh thưởng, hẳn là Nguyễn Thị Anh đã nên đôi lứa với Lê Sủng!

Đó là căn nguyên những cây huyết dụ và những cây dùng dành người ta trồng đánh dấu mộ ở nghĩa địa Bố Vệ trở nên thân thuộc với nàng. Khi ra Đông Đô và được tiến vào cung làm vợ Thái Tông, lụa là phủ đầy người, ăn uống thì chẳng thiếu cao lương mĩ vị, nhưng đôi khi nhớ về cố quận thì cái màu đỏ thẫm của những cây huyết dụ ở khu nghĩa địa làng lại hiện lên trong ký ức khiến nàng nhớ đến nao lòng. Nàng đưa huyết dụ về kinh đô trồng trên con đường từ Tòa Đại Hình dẫn ra khu nghĩa địa cũng là để nàng luôn được nhìn ngắm rồi hoài niệm về những năm tháng với mối tình đầu không dễ quên ấy.

Văn Lão và Xương Lê nhổ huyết dụ xếp lên xe song mã chở từ Bố Vệ ra Đông Quan nhiều lần mới trồng đủ hai bên con đường ấy. Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh  đã ra lệnh chi cho hai ông một khoản tiền rất hậu để làm việc này khiến Trịnh Khả và Trịnh Khắc Phục tỏ ý không hài lòng. Nhưng vì đích thân Nguyễn Thị Anh ra lệnh chi tiền nên hai ông chỉ dám nói xa xôi, bóng gió với Đức vua Bang Cơ để ngài liệu đường chi tiêu ngân khố quốc gia sao cho hợp lý.

Văn Lão và Xương Lê cho trồng cách hai bước một cây huyết dụ. Hồi mới trồng trông con đường chỉ thấy loáng thoáng những châm đỏ. Cái giống huyết dụ đẹp thì có đẹp, nhưng dường như nó phải được trồng nơi tha ma nghĩa địa, có mùi tử khí thì nó mới mau lớn và sống lâu. Vì nó sống lâu nên người ta trồng nó để đánh dấu mộ từ đời này sang đời khác mà không bị thất lạc. Hai hàng huyết dụ Văn Lão, Xương Lê mới trồng dăm tháng đã lên cao quá đầu người, tốt um tùm, nhuốm con đường thành một màu đỏ thẫm trông rất lạ mắt.

Thường thì các phiên xử, vua đều cho mở của sân tòa cho dân chúng vào xem, để cho phiên tòa mang tính quang minh chính đại, lại răn đe những ai đang có ý đồ phạm tội. Nhưng phiên tòa xử hai căp cha con: Trịnh Khả – Trịnh Quát, Trịnh Khắc Phục – Trịnh Bá Nhai thì những người lính cấm vệ gác ngoài cổng không cho một ai vào, với lý do: “ảnh hưởng tới an ninh Hoàng triều”!

Hai cặp cha – con bị bắt giam mới có một ngày nên thần sắc của họ chưa thay đổi là mấy so với trước khi bị bắt. Lúc bị trói quặt hai tay về đàng sau đưa ra khỏi ngục, họ vẫn bước đi nhanh nhẹn, đôi mắt nhìn bình thản, tinh anh như hàng ngày họ vào Hoàng cung thiết triều. Trịnh Khả và Trịnh Khắc Phục quỳ nơi chính diện. Trịnh Quát và Trịnh Bá Nhai quỳ hai bên, sát nách hai người cha của họ. Các quan Tòa Đại Hình, các ngự sử và gián quan cũng đã ngồi vào vị trí của mình. Những người lính cấm vệ tuốt gươm đứng nghiêm như tượng. Bốn tên đao phủ đeo bốn thanh gươm đứng túc trực ngay sau lưng bốn tội nhân.

Phiên tòa bắt đầu. Nguyễn Thị Anh hỏi:

-Bốn tội nhân nghe cho rõ đây. Các người đã biết tội của mình nghiêm trọng đến mức nào chưa?

Trịnh Khả và Trịnh Khắc Phục không đáp, chỉ hướng đôi mắt trợn trừng nhìn sói vào mặt Nguyễn Thị Anh. Cái nhìn như muốn nói: Ta đã hết lòng cung phụng triều đình để rồi kết cục phải nhận một hình phạt như thế này ư? Hỡi con đàn bà đẹp mã kia, mới hôm nào ngươi còn ngợi khen hai chúng ta hết lời, nay đã trở mặt lôi chúng ta ra Tòa Đại Hình là nguyên cớ gì? Không, ta không thể tin được ta lại phạm một cái tội để đến nỗi bị đối xử thế này. Sự bất công khiến hai ông như chết lâm sàng, không sao mở miệng được.

– Sao, các người đã phạm trọng tội nên không thể há miệng ra trả lời được sao?

Lần này, Nguyễn Thị Anh vừa dứt lời thì Trinh Quát, con Trịnh Khả lên tiếng:

– Nguyễn Thị Anh, bà nghe cho rõ đây: Cha con chúng ta không có tội! Người có tội với Hoàng triều chính là bà!

Trịnh Bá Nhai, con Trịnh Khắc Phục tiếp lời, giọng dữ dằn hơn:

– Nguyễn Thị Anh, bà là một con lươn đội lốt rồng! Cái ghế bà đang ngồi là của người khác chứ không phải của bà. Hãy đứng lên và bước xuống đi. Dơ dáy lắm!

– Chém đầu!

Sau tiếng hét của Nguyễn Thị Anh, bốn tên đao phủ tiến đến từ phía sau các tội nhân, rút kiếm chém ngang cổ. Hình như còn nhiều nỗi niềm ẩn ức với cuộc sống nên hai cái đầu của Trịnh Khả và Trịnh Khắc Phục chỉ ngả ra phía sau và sang bên trái mà không rơi xuống đất, máu từ cổ phun lên thành hình cầu vồng. Hai cái đầu của Trịnh Quát và Trịnh Bá Nhai thì văng xuống đất lăn long lóc trên nền cỏ, máu từ cổ phun thẳng lên trời. Phải một lúc sau, kẻ trước người sau mới đổ gục xuống, chết hẳn.

-Các đô tùy đâu, bỏ chúng vào quan tài đưa ra nghĩa địa!

Nguyễn Thị Anh nói thế rồi rời khỏi ghế. Hai cung nữ đỡ bà đi xuống sân mà tay họ run như cầy sấy.

Chương mười tám

 

Đoàn xe song mã xa giá Đức vua Lê Bang Cơ, Bình Nguyên vương Lê Tư Thành, Nhập nội đô đốc Đinh Liệt, Thiếu bảo Nguyễn Xí và quần thần từ Lam Kinh trở về đến Cửa Nam thì gặp một tốp khoảng  ba chục người, có cả người lớn và trẻ con, mặc đồ tang ngồi phủ phục ngang đường. Nhập nội đô đốc Đinh Liệt vội xuống xe bước đến quát:

– Các ngươi là ai mà dám ngồi ngáng đường của Đức vua thế này, hử?

Tất cả đám người ngẩng mặt lên. Đinh Liệt bần thần cả người khi nhận ra là người quen: phu nhân Trịnh Khả, phu nhân Trịnh Khắc Phục, hai nàng dâu của họ là vợ Trịnh Quát và vợ Trịnh Bá Nhai, cùng những người con, người cháu khác nữa.

– Kìa, hai phu nhân, đã có chuyện gì xẩy ra vậy?

– Quan Nhập nội đô đốc ơi, ông Trịnh Khả bị xử chết rồi! – Vợ Trịnh Khả nói.

– Ông Trịnh Khắc Phục chồng tôi cũng bị chém cùng lúc với ông Trịnh Khả – công chúa Ngọc Lan, vợ Trịnh Khắc Phục nói.

– Cả Trịnh Quát, con trai tôi và Trịnh Bá Nhai, con trai Trịnh Khắc Phục cũng bị chém cùng với bố chúng nó – Vợ Trịnh Khả nói tiếp, rồi chỉ vào hai cô gái ngồi bên cạnh đang khóc sụt sùi – Hai nàng dâu của chúng tôi đây. Một đứa đang mang thai. Một đứa mới cưới được hai tuần! Hai gia đình chúng tôi đã đến cổng Hoàng cung xin vào hỏi xem chồng con chúng tôi mắc tội gì mà bị đối xử như thế, nhưng quân cấm vệ không cho vào. Chúng tôi đành phải đón Đức vua và các quan lớn ở đây…

Đức vua Bang Cơ ngồi trên xe sau nhưng nghe thấy hết, mặt chàng tái nhợt, tỏ ra khó xử. Đinh Liệt biết ý, liền nói với đám người:

– Bệ hạ và chúng tôi đi công cán Lam Kinh mấy hôm rồi nên chưa biết ở Hoàng cung xẩy ra những chuyện gì. Bây giờ hai phu nhân và các cháu hãy cứ đứng lên nhường đường cho Thánh thượng đi đã. Nếu có oan khiên gì xẽ tra xét sau!

Phu nhân của Trịnh Khả và phu nhân của Trịnh Khắc Phục đều biết Đinh Liệt là bạn thân thiết của chồng họ; hai người đứng lên bước sang bên vệ đường; hai cô con dâu và những người còn lại cũng lặng lẽ làm theo. Tiếng khóc cũng nhỏ lại. Nhìn thấy Đức vua  ngồi xe sau, họ cùng cúi rạp xuống thi lễ, nhưng Bang Cơ đang rất sốt ruột, tâm trạng rồi bời, cảm thấy rất khó nói với họ, chàng chỉ xua xua tay ra hiệu đã miễn lễ cho họ, rồi bảo người xà ích đánh xe đi.

***

 Bang Cơ cố kìm nén nỗi tức giận đang ngùn ngụt bốc lên khi bước vào cung Diên Khánh. Chàng chưa kịp ngồi xuống đã hỏi:

– Mẫu hậu! Mẫu hậu có muốn để cho con làm vua nữa hay không?

Nguyễn Thị Anh giữ một thái độ bình thản, như biết lỗi:

– Bệ hạ sao hỏi câu kỳ lạ vậy? Bệ hạ không làm vua thì còn ai vào đây?

– Con là vua mà mẫu hậu lại lừa con. Mẫu hậu bảo con đi vào Lam Kinh viếng lăng để ở nhà mẫu hậu rảnh tay sát hại Trịnh Khả và Trịnh Khắc Phục! Mẫu hậu có biết rằng con yêu kính hai ông ấy đến mức nào không? Nhờ hai ông ấy, cùng với Nguyễn Xí và Đinh Liệt kèm cặp, dậy dỗ con và Lê Tư Thành, chúng con mới trưởng thành lên được. Họ là những trung thần thực sự!

– Bệ hạ không được phép nặng lời với bậc sinh thành như vậy – Nguyễn Thị Anh vẫn nhẹ giọng – Bệ hạ đang phạm vào đạo thánh hiền, người có biết không? Chính vì cái lòng yêu kính còn bồng bột của Bệ hạ mà ta phải bố trí cho Bệ hạ vào Lam Kinh để ta thực thi quyền hành chính đáng của Hoàng triều.

–  Cả hai người con trai của hai ông ấy nữa, họ đã bộc lộ những khả năng và phẩm hạnh mà con muốn đào tạo, tiến cử vào những vị trí rường cột sau này, thế mà mẫu hậu cũng ra tay sát hại!

– Bang Cơ! Bệ hạ nói lại đi! – Nguyễn Thị Anh nổi nóng quát – Ta xử tội họ chứ không sát hại họ!

– Kể từ ngày mai con sẽ không thiết triều, không làm vua nữa. Mẫu hậu muốn làm gì thì làm! – Bang Cơ đứng dậy toan bỏ đi thì Nguyễn Thị Anh vội chạy đến quỳ xuống trước mặt chàng. Bà lạy chàng như lạy Phật:

– Mẹ xin con! Có những việc mà ở tuổi con mẹ chưa thể nói cho con biết được – giọng nói của Nguyễn Thị Anh khàn đi nghe như giọng một người khác – Con hãy cứ trưởng thành lên, rồi con sẽ biết, rằng mọi việc mẹ làm đều có lý lẽ của nó, đều vì sự bảo vệ ngai vàng cho con. Con gắng suy nghĩ và hiểu cho mẹ!

Bang Cơ nhìn thấy hai dòng lệ hai bên khóe mắt Nguyễn Thị Anh lăn nhanh xuống hai bên gò má. Bang Cơ chưa từng nhìn thấy bà khóc bao giờ. Cũng chưa bao giờ bà quỳ xuống trước mặt chàng. Hôm nay bà làm thế hẳn cũng phải có một căn nguyên gì đó không hề đơn giản? Vậy thì việc bà giết Trịnh Khả, Trịnh Khắc Phục và hai người con trai của họ không phải không có những căn nguyên xác đáng?

Nỗi giận như lắng xuống nhường chỗ cho một tình thương vừa nhen lên. Chàng thấy thương mẹ. Mẫu hậu có làm gì thì cũng vì mình chứ đâu phải vì bà ấy?

– Mẫu hậu đứng dậy đi! Xin mẫu hậu cho con về điện Trường Xuân nghỉ ngơi. Con sẽ suy nghĩ thêm về chuuyện này…

Năm ấy Bang Cơ mới 10 tuổi.

***

Đoàn xe song mã đi qua trước cửa nhà Đinh Liệt thì dừng lại cho ông xuống, rồi họ đi tiếp về Hoàng cung. Phu nhân Lương Minh Nguyệt ra cổng ngóng ông từ trước đó, dường như có một linh cảm nào đó mách bảo bà rằng ông sắp về đến nơi. Bà mở cánh cổng cho ông bước vào sân, nói:

– Trịnh Khả và Trịnh Khắc Phục cùng hai con trai của họ bị xử chết rồi, phu quân biết chưa?

– Tôi biết rồi – Đinh Liệt đáp – Cũng vừa đây thôi. Hai gia đình của họ ra Cửa Nam chặn đường đón Hoàng thượng, chỉ muốn hỏi một câu: “Chồng con họ bị xử chết vì tôi gì?”. Hoàng thượng không trả lời. Tôi phải động viên họ, rồi nói với họ đứng dậy dẹp sang hai bên lấy lối cho Hoàng thượng và đoàn xa giá đi! Mọi chuyện sẽ xem xét sau!

Nguyễn Thị Hằng đang giặt quần áo bên bể nước sau nhà, chạy ra khoanh tay cúi chào bố nuôi, rồi lại trở vào tiếp tục công việc của nó.

– Hôm ấy họ chém hai ông và hai con của hai ông xong thì bỏ xác vào bốn cái quan tài, mỗi cái chằng ba sợi dây thừng, luồn vào ba cái đòn tre để sáu người khiêng ra nghĩa địa – Lương Minh Nguyệt tường thuật – Trong cung đình có mười cái xe đòn, mười cái kiệu mà họ không dùng, lại khiêng các ông ấy như khiêng lợn. Ngoài hai mươi bốn viên đô tùy, một quan nội thị và đội cấm binh thì không có một người nhà nào được phép đi theo. Chắc họ ngại cho người nhà đi theo khóc lóc rồi nói năng thiếu kiềm chế xúc phạm triều đình! Nghĩa tử là nghĩa tận! Ông cha đã dậy như thế đâu có sai. Vậy mà họ đối xử với công thần bạc bẽo thế. Thật là ngao ngán!

– Lúc này tôi cũng chẳng biết nói gì – Đinh Liêt nghẹn ngào – Chỉ thấy thương bạn quá thể, mình ạ.

– Họ sống oanh liệt như thế mà phải chết khổ nhục như thế,  đến những vật vô tri vô giác còn thương huống chi là con người! – Lương Minh Nguyệt chỉ tay về phía xa xa ngoài nghĩa địa có con đường nối với Tòa Đại Hình – Ông hãy nhìn xem, trên con đường dẫn từ Tòa Đại Hình ra nghĩa địa có gì khác lạ đâu, nhưng hôm người ta khiêng bốn cái quan tài đi trên ấy, tôi trông hai hàng cây huyết dụ giống hệt như hai dòng máu lớn đang tuôn chảy. Lúc tòa đang xử thì trời vẫn nắng. Khi chặt đầu họ thì trời đổ mưa. Mưa sụt sùi như khóc suốt thời gian đám tang diễn ra. Mưa rửa hết bụi bặm trên những tán lá huyết dụ nên nó mới đỏ thẫm màu máu như thế…

– Quả thật, ngay lúc này tôi cũng thấy hai hàng cây huyết dụ giống hai dòng máu thật – Đinh Liệt nhìn về phía nghĩa địa thừa nhận, rồi nói.

– Nhưng tôi muốn hỏi ông, rằng ông có biết tội của ông Khả, ông Phục và hai con của họ là gì không?

– Lúc này tôi cũng chưa đoán ra – Đinh Liệt nói – Chắc Tuyên từ lại buộc cho hai ông ấy cái tội kết bè kéo phái âm mưu phản loạn, phản quốc gì đó thì mới giết cả hai người con của họ!

– Ông là bạn thân của ông Khả và ông Phục, ông có tin hai ông ấy dám làm chuyện phản loạn, phản quốc không?

– Họ thừa dũng khí để làm – Đinh Liệt đáp – Nhưng nếu họ làm thì đã làm rồi. Còn lúc này bảo họ làm thế, tôi không tin!

Đinh Liệt bước vào nhà, Lương Minh Nguyệt đi sau. Bà còn muốn giãi bày gì đó nhưng ông ngăn lại, nói:

– Này phu nhân, khoan hãy nói chuyện của họ, tôi thấy rất cần phải bàn ngay với phu nhân một việc của nhà mình. Sau khi Trịnh Khả và Trịnh Khắc Phục bị xử chết, e có loạn, chắc chắn đội quân gián điệp của Tuyên từ Nguyễn Thị Anh sẽ hoạt động mạnh. Rất có thể chúng kiểm tra hộ tịch, sẽ truy đến cùng nguồn gốc Nguyễn Thị Hằng,  con gái nuôi của chúng ta. Tôi với phu nhân giờ có chết cũng không còn là vấn đề nữa, nhưng mạng sống của Hằng thì phải bảo trọng. Đấy là một nghĩa vụ thiêng liêng của vợ chồng mình. Phu nhân chắc đã hiểu ý của tôi!

– Hay ta tạm gửi Hằng sang nhà Thiếu úy Nguyễn Đức Trung? Dẫu sao Nguyễn Đức Trung cũng còn anh em họ xa với Nguyễn Trãi, ông ấy không thể không tìm mọi cách để bảo vệ nó!?

– Không được đâu – Đinh Liệt nói – Phu nhân không nhớ rằng chỉ vì còn anh em họ xa với Nguyễn Trãi mà sau vụ Lệ Chi Viên, Nguyễn Đưc Trung đã bị vô hiệu hóa; Nguyễn Thị Anh đẩy ông đi làm Điện tiền chỉ huy xứ từ ngày ấy đến giờ sao? Cho bé Hằng đến đấy khác gì “Lạy ông tôi ở bụi này!”!

– À, hay là thế này – Lương Minh Nguyệt như sực nhớ ra điều gì – Phu quân còn nhớ đã có lần tôi kể với ông rằng, cái hôm tôi cho Nguyễn Thị Hằng đi chùa An Quốc, gặp một đào nương ca trù tên là Cúc Phương ở phường Khán Xuân. Người cha của Cúc Phương đã quá già, tay chơi đàn đáy bị run làm cho tiếng đàn không có hồn, tôi cho Hằng cầm đàn thay ông cụ. Khi Hằng chơi đàn, Cúc Phương rất phục, ngỏ ý muốn mời nó tham gia nhóm ca trù với cô ấy. Cúc Phương còn ghi cho tôi địa chỉ, hẹn nếu tôi nếu đồng ý thì quay lại. Hay là tôi cho con đến đấy?

– Vậy thì phu nhân cho con đến đấy đi – Đinh Liệt nói – Chậm ngày nào nguy hiểm cho tính mạng của nó ngày ấy!

Nguyễn Thị Hằng ngồi giặt quần áo bên bể nước nhưng tai nó nghe hết câu chuyện bố mẹ nuôi nói với nhau. Đến khi hai ông bà quyết định cho nó đi theo ca nương Cúc Phương ở phường Khán Xuân thì nó chạy ra quỳ xuống ôm lấy hai chân bà Lương Minh Nguyệt như có ý nói nó không muốn xa bố mẹ. Đinh Liệt hiểu ý tứ con bé, đỡ nó đứng dậy nói:

– Con chỉ tạm lánh ra đó một thời gian, khi yên hàn, mẹ lại đón con về với bố mẹ thôi mà!

Khi ấy nó mới gạt nước mắt, đứng lên.

Tối hôm ấy, Lương Minh Nguyệt kín đáo dẫn Nguyễn Thị Hằng đến ngõ Cây Duối, đường bờ hồ Dâm Đàm, phường Khán Xuân. Lúc hai mẹ con  vào nhà, ca nương Cúc Phương đang tập một bài hát mới soạn theo lời thơ của Nguyễn Mộng Tuân. Nhìn thấy bà Lương Minh Nguyệt và Nguyễn Thị Hằng, Cúc Phương không giấu được niềm vui.

– Ôi thế là phu nhân đã cho cháu đến với hạ nhân – Cúc Phương nói như reo lên – Sau cái đêm gặp phu nhân và cháu ở chùa An Quốc, cha hạ nhân bị quỵ hẳn, phải nằm một chỗ dưỡng lão. Cứ mỗi khi có nơi mời hát, hạ nhân lại phải sang gánh hát bầu bạn mượn người chơi đàn. Thỉnh thoảng mới có lần mời được tay đàn chính, còn thì chỉ là tay đàn phụ. Không ai so được với ngón đàn của con gái phu nhân đâu ạ.

– Tuy nhiên, tôi cũng phải nói trước, vì dạo này chúng tôi có việc hay đi vắng nên chỉ cho cháu ra đây giúp cô một thời gian trong khi cô chưa tìm được người chơi đàn chính thức thôi – Lương Minh Nguyệt nói – Nhưng dù cháu ở đây lâu hay chóng, chúng tôi cũng muốn cô coi cháu như con, ai hỏi cô cũng trả lời cháu là con cô. Cháu bị bệnh tật, dễ tủi thân. Cô hiểu ý tôi chứ?

– Vâng, thưa phu nhân, hạ nhân hiểu rồi!

Phu nhân Lương Minh Nguyệt ngồi nói chuyện thêm với Cúc Phương một lúc nữa rồi xin cáo lui. Nguyễn Thị Hằng theo bà ra đến cổng, bịn rịn muốn khóc, bà phải xoa tay lên tóc nó, âu yếm nói:

– Chịu khó và mạnh dạn lên con nhé. Thỉnh thoảng mẹ sẽ ra thăm con!

LÊ HOÀI NAM

(Còn tiếp)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *