Thái Thanh – Tiếng hát vẫn ở lại

VHSG- Ban nhạc hài hước AVT trong bài “Ba bà mẹ chồng” có câu hát nói lên thực trạng của các ca sĩ phòng trà thời gian 1960-70 “Còn mẹ chồng lại tố khổ nàng dâu như hai cô ca sĩ có khen nhau bao giờ”.

      Danh ca Thái Thanh

Mỗi khi hát đến đoạn đó, khán gỉ trong khán phòng vỗ tay huýt sáo, tỏ lòng ủng hộ. Thực trạng các cô ca sĩ thời ấy chẳng ai khen ai. Nhất là hai “mặt trời” Khánh Ly và “mặt trăng” Lệ Thu. Nhưng cả hai mặt trời và mặt trăng ấy đều nhất mực một lòng kính nể người đứng ngoài vòng “thái dương hệ ca sĩ”: Thái Thanh, như câu thơ của Du Tử Lê  “Con chim ngứa cổ mà, không hát Trời, đất lui về cõi lặng, thinh gỗ lên nước gỗ;vân lên ngọc. Tiếng hát lên mầm/nắng, gió/riêng (Thái Thanh/ khúc/ Năm Bảy)

THÁI HẰNG LÀ CHỊ, EM LÀ THÁI THANH.

Nhại theo hai câu trong Kiều để nói về hai ái nữ của ông Phạm Đình Phụng với bà vợ hai. Cả hai có dòng máu âm nhạc trong người, kẻ chơi đàn nguyệt kẻ chơi tỳ bà nên sinh được hai nàng Thái: Hằng và Thanh. “Thái Hằng là chị, em là Thái thanh”. Cô em tên thật là Phạm Thị Băng Thanh sinh năm 1934 tại làng Bạch Mai, Hà Nội sống và lớn lên trong tiếng đàn của song thân nhạc cổ.

Lúc 10 tuổi, theo lời Thái Thanh kể cho Đỗ Tiến Đức thì đã được dạy hát. ““Tôi hát trong cái hoàn cảnh anh Phạm Đình Chương chơi đàn với bạn của anh ấy là ông Nguyễn Cao Kỳ. Hồi nhỏ ở Hà Nội, ông Kỳ thường hay đến nhà tôi đánh đàn. Hai ông ấy là bạn học với nhau, chơi thân nhau lắm. Rồi tới một ngày không biết nổi hứng sao đó, anh Chương lôi tôi ra dạy cho tôi hát và hai ông ấy đệm đàn”.

Hà Nội năm 1946 – tiêu thổ kháng chiến. 12 tuổi, Thái Thanh cùng gia đình lên Sơn Tây tản cư.  Rồi sau đó gia đình lên vùng Việt Bắc mở quán phở Thăng Long (vì nhớ Hà Nội) tại chợ Đại. Quán phở chắc ngon (vùng Việt Bắc có phở là ngon rồi) nhưng lại có hai cô gái bắt đầu nở nụ tầm xuân. Nhiều văn nghệ sĩ kháng chiến, vừa muốn xơi phở vừa muốn nghe nhạc lại vừa muốn hái nụ tầm xuân đang nở ra xanh biếc nên thường ghé quán. Trong số nầy có đại kỳ tài nhạc sĩ tương lai Phạm Duy đang lang thang theo kháng chiến nhưng khi ghé quán lại “chip” ngay Thái Hằng. Muốn cò cưa cô chị thì nhờ cô em bắc cầu ô thước (sách o gái thường dạy thế). Đây là gia đình âm nhạc “chính chủ”, nên Phạm Duy viết lời Việt bản Danube Bleu thành Dòng sông xanh cho cô em gái Thái Thanh 14 tuổi hát để lấy lòng cô chị. Cô em gái càng hát càng hay và hay đến nỗi Phạm Duy chấm dứt sự cò cưa bằng một hôn lễ giữa chàng và cô chị Thái Hằng vào năm 1948.

Ca sĩ Thái Thanh và nhạc sĩ Phạm Duy

Cứ tưởng sau khi lấy được vợ thì cô em gái “hết xôi rồi việc”. Nhưng không, khi lấy đựơc vợ rồi Duy càng khám phá ra giọng hát cô em vợ “rằng hay thì thật… quá xá là hay” nên sáng tác rất nhiều nhạc cho cô hát trong thời kỳ nầy. Nhạc anh rể Phạm Duy do cô em vợ Thái Thanh hát và cô em chỉ hát nhạc của ông anh rể – một quy trình khép kín của gia đình Thăng Long. Trải qua 60 năm, Phạm Duy cho rằng chỉ có Thái Thanh mới đủ khả năng nâng bổng nhạc của Phạm Duy lên và chỉ có nhạc của Phạm Duy mới đáng để Thái Thanh hát. Nhiều ca khúc của Phạm Duy được Thái Thanh thể hiện đúng chất và đúng tầm hơn hẳn những ca sĩ khác cùng thời. Nhạc sĩ Phạm Duy còn “hạ mình” trước giọng ca cô em: “Nếu không có Thái Thanh thì nhạc Phạm Duy cũng không được hay và nổi lên được như vậy”. Ông nhận xét: “Thái Thanh là giọng ca duy nhất hát nổi hai cao độ chạy dài tới 2 bát âm trong nhạc của tôi. Không những thế, cô có giọng hát rất truyền cảm”. Đúng là “Đến, như vệt sáng xuyên âm, vực…” (Du Tử Lê)

BAN THĂNG LONG VÀ “THÁI HÀNH, THÁI TIÊU”…

Cho quá giang thời kỳ hồi đó của tôi một chút. Ba tôi mua được cái may quay dĩa nhựa nhỏ xíu. Không hiểu sao trong cơ số dĩa cải lương lại lọt vào một cái dĩa của hãng Việt Nam có bài “Tình ca” với giọng ca của một nữ ca sĩ cứ hàng ngày vang ra từ cái ô pạc lơ “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời…” Tôi chẳng để ý, và lớn lên khi bắt đầu hiểu cái sự đau đớn vì… yêu tôi lại càng thấm thía “Kiếp nào có yêu nhau”, “Đừng nhìn nhau nữa” qua giọng ca cao vút đến não lòng, tôi mới biết đến giọng ca Thái Thanh.

Có một cơ duyên, tôi được đến phòng trà Đêm Màu Hồng vào cuối năm 71 tại đường Nguyễn Huệ và tôi đã thấy đã nghe nữ ca sĩ Thái Thanh hát theo yêu cầu của tôi bài hát “Tình ca” (ghê chưa). Tại sao Thái Thanh hát bài “Tình ca” hay đến như vậy. Có phải là vì như thế nầy chăng, như bà tâm niệm “Điều đầu tiên tôi muốn nói là người ca sĩ phải biết yêu tiếng nói của nước mình, phải yêu tiếng Việt của mình. Người ca sĩ còn phải yêu đất nước mình nữa. Khi trong bài hát có nói đến những xứ sở, những vùng nào đó trên đất nước mình, thì mình cũng phải cảm thấy yêu cả những địa danh đó nữa, miền Trung, miền Nam, miền Bắc. Đặc biệt tôi sinh ra ở Hà Nội thì khi đọc đến hai chữ Hà Nội tôi cảm thấy một tình cảm yêu mến vô bờ. Nếu mình không yêu chữ của nước mình thì giống như mình hát một bài hát ngoại quốc vậy. Thí dụ đọc đến chữ “em bé quê” là mình cảm thấy dào dạt tình thương yêu các em nhỏ sống ở những vùng quê nghèo nàn, tôi nói yêu chữ nước mình là vậy. Còn một chuyện nữa là tôi yêu người nghe, luôn luôn tôn trọng khán thính giả. Tôi rất thận trọng khi hát”. (Dẫn theo Mạnh Kim)

Ban hợp ca Thăng Long với Hoài Bắc, Hoài Trung, Thái Thanh, Thái Hằng

Theo tôi được biết, năm 1967, nhạc sĩ Hoài Bắc (Phạm Đình Chương) nhận tổ chức và điều khiển phòng trà Đêm Mầu Hồng (cũng là tên của một ca khúc mà ông phổ nhạc từ thơ của Thanh Tâm Tuyền). Những sáng tác nổi danh của ông và sự trình diễn điêu luyện của Ban hợp ca Thăng Long đã biến phòng trà này một chỗ nổi tiếng nhất và là nơi tụ tập của những nghệ sĩ hàng đầu của đô thành Sài Gòn.

Thoạt đầu Ban hợp ca Thăng Long gồm Hoài Trung-Phạm Đình Viêm, Hoài Bắc-Phạm Đình Chương, Thái Hằng (vợ nhạc sĩ Phạm Duy) và Thái Thanh, sau nầy có thêm giọng ca Khánh Ngọc (vợ của Phạm Đình Chương). Nghệ thuật hợp ca của họ dựa trên kỹ thuật già dặn, lối diễn tả linh hoạt và truyền cảm. Họ hợp ca bản nào là bản đó nổi lên một một sắc thái đậm đà như những món gia vị bỏ vào tô phở có phải vì vậy chăng mà giới ca nhạc phòng trà đã gọi họ bằng những cái biệt hiệu thật ngộ nghĩnh: Hoài Chanh, Hoài Ớt, Thái Tiêu, Thái Hành . Trong hai Thái nầy nầy thì Thái Thanh là giọng ca vơ-đét. Nhà văn  Hồ Trường An (mới mất) đã viết về Thái Thanh (người vừa mất) như sau: “Hơn 15 năm phục vụ ca nhạc, nàng đã tạo nhiều thành tích rực rỡ. Tiếng hát của Thái Thanh trong và tỏa ngời ánh sáng. Bản chất giọng hát của nàng là kim cương quý báu:Âm lượng dồi dào, âm sắc bén ngót và ngọt ngào, làn hơi dũng mãnh, phong phú…Giọng hát đó cộng thêm sự diễn tả truyền cảm đã làm nên một tên tuổi Thái Thanh.”(Báo Sinh Hoạt Nghệ Thuật-sài gòn 71).

Danh hiệu “Tiếng Hát Vượt Thời Gian” củaThái Thanh do một hãng băng nhạc đặt cho và đến này hôm nay nó còn vượt cả không gian. Nhà văn Mai Thảo (cũng đã mất ô-hô…Thời gian-Rồi người tình cũng bỏ ta đi , để gặp nhau chốn suối vàng…) đã bay bướm chữ nghĩa khi giới thiệu giọng ca của bà trong băng nhạc Tơ Vàng 4 (Năm 1971) “Hát, với Thái Thanh, là một tình yêu muốn cháy đỏ một đời, phải được làm mới từng ngày”

Như nhiều người si mê giọng ca Thái Thanh, Mai Thảo cũng si mê nhưng một kiểu si mê của tình yêu, để rồi nhận từ tài tử Lê Quỳnh một cái đấm cũng của tình yêu của sự ghen tuông. Mai Thảo là giọt nước tràn ly làm tan vỡ gia đình Lê Quỳnh và Thái Thanh cùng với năm mặt con sau 9 năm chung sống (1956-1965). Nữ ca sĩ Ý Lan và Quỳnh Hương (tên thật Quỳnh Dao) là hai đứa con đang nối bước theo tiếng hát của mẹ.

Hoàng Trúc Ly đã làm thơ về tiếng hát Thanh Thúy “Từ em giọng hát lên trời” nhiều người đã trích dẫn câu thơ nầy để nói về giọng hát của Thái Thanh khi hay tin bà đã đi vào cõi vĩnh hằng trong năm covid 19. Không, giọng hát của bà không về trời đâu. Giọng hát của bà vẫn ở lại với chúng ta nhờ dĩa, nhờ băng, nhờ ký ức của một thời Sài Gòn luôn hát “Tình ca”. Với tôi, một thằng nhỏ khi nghe “Tình ca”, bây giờ già vẫn không thể quên được “Tiếng nước tôi…” Không, giọng hát của Thái Thanh vẫn muôn đời ở lại. Dù bà đã lên trời!

LÊ VĂN NGHĨA

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *