Truyện ngắn của Võ Minh: Quang Còm

Trần Văn Quang, đấy là tên đầy đủ của thằng bạn tôi. Có lẽ, chẳng bao giờ chúng tôi lại gọi nó một câu tử tế như vậy. Quang “còm” là được lắm rồi! Cái tên như thế vừa mộc mạc, vừa thân thiện lại hợp với hình hài của nó.

Trong nhóm bạn cùng lứa cùng quê với tôi, sau cuộc chiến may mắn sót lại, ngoài Quang “còm” chỉ còn thêm thằng Lượng. Hồi ấy, chúng tôi có mười lăm thằng tất cả, cùng một ngày khăn gói nhập ngũ, hí hửng kéo nhau đi, cứ ngỡ đánh giặc xong thì lại dắt díu nhau về cày ruộng, cưới vợ, đẻ con như người ta. Nào ngờ chiến tranh đâu có hiền lành như thế. Mới mấy năm lăn lóc ngoài mặt trận, mười hai thằng đã lần lượt nằm lại ở những miền quê xa ngái, phơi nắng phơi sương, gửi tuổi hai mươi cho cỏ mọc.

Nhà văn Võ Minh (Hà Nội)

Ngày đất nước yên tiếng súng, Quang “còm” với thằng Lượng khăn gói về làng, lại cắm cúi với thửa ruộng, bờ ao như chưa từng đi qua lửa đạn. Còn tôi, tiếp nối giấc mộng bút nghiên một thời dang dở, rồi ở lại Thủ đô lập nghiệp cho đến nay. Đời người cũng lạ. Kẻ cắm rễ ở quê mà lòng cứ ngóng xa. Kẻ phiêu bạt ở chốn thị thành như tôi, lắm đêm nằm nghe tiếng xe ngoài phố, lại thèm da diết một tiếng ếch kêu đồng nội đến quặn lòng.

Giờ đây, tôi cũng đã ngồi vào hàng cán bộ cao cấp của Nhà nước, đi đến đâu người ta cũng kính cẩn “thưa anh”, “bẩm thủ trưởng”, nghe riết thành quen tai. Chỉ có Quang “còm” và Lượng, hai lão nông chân đất quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” vẫn giữ nguyên cái nết bạn bè từ thủa để chỏm. Hễ gặp nhau là oang oang: “Ê, mày!”, rồi tỉnh queo xưng “tao”. Chẳng kiêng nể, chẳng rào trước đón sau lấy nửa lời. Lắm lúc giữa chốn đông người, nghe chúng nó réo ầm lên như gọi thằng chăn trâu năm nào, tôi cũng thấy nóng ran cả mặt.

Thiên hạ xung quanh cứ tròn mắt nhìn, chắc bụng nghĩ: Ông này làm to thế mà vẫn còn có người dám gọi xách ménhư gọi thằng cu con đầu làng. Nghĩ cũng ngồ ngộ. Tuổi tác bây giờ đứa nào đứa nấy cũng ngấp nghe sáu mươi, tóc bạc lốm đốm như rạ phơi sương. Chúng nó cũng đã lên ông nội, ông ngoại cả rồi, cháu bám đầy chân. Tôi cũng chẳng trẻ trung gì cho cam. Bởi thế, nhiều lúc tôi cũng phát ngượng với những người xung quanh về những câu ào ào mà không phải ở đâu cũng gọi nhau như vậy. Trong hai đứa, thằng Lượng còn có vẻ biết ý biết tứ đôi chút, chứ Quang “còm” thì… thôi rồi. Cái tính nó xưa nay vẫn thế, thẳng như cây cọc rào, nghĩ sao nói vậy, chẳng bao giờ biết uốn nắn câu chữ cho vừa tai người khác. Ấy như cái lần nó lóc cóc ra tận nhà tôi, nhờ xin việc cho thằng con trai đầu ở Hà Nội. Nhắc lại chuyện ấy, tôi vẫn nhớ như in lời vợ với con gái ngồi xúm vào phê bình, nghe vừa buồn cười vừa thấy hai mẹ con nói cũng có phần phải. Vợ tôi lắc đầu:

– Cái bác Quang này lạ thật. Đến nhờ vả mà như cấp trên xuống giao nhiệm vụ. Người ta đã cất công xin cho con bác ấy vào làm việc ở doanh nghiệp nước ngoài, lương cao ngất, thế mà bác ấy còn vặc lại tỉnh bơ: “Con tao không đi làm cho đế quốc sài lang. Nó chỉ làm cho công ty trong nước thôi. Tao nhờ mày là nhờ chỗ ấy!”. May mà ông còn nhẫn nãi ngồi phân tích thiệt hơn, nói mãi bác ấy mới nghe. Không giờ thằng cu ấy vẫn ngồi nhà… kế nghiệp bố.

Con gái tôi được đà phụ họa ngay:

– Mà bác Quang cứ vào nhà mình như vào sân hội trường ấy bố ạ. Miệng oang oang, nói câu nào là nhà rung câu ấy. Người ngoài không biết, khéo lại tưởng nhà mình đang họp kiểm điểm nhau. – Nó còn phụng phịu kể tiếp:

– Con vừa lau cái cầu thang bóng loáng, quay đi quay lại đã thấy in chi chít dấu dép nhựa cáu bẩn của bác ấy. Lê quèn quẹt như cày trên nền gạch. Đã thế, bác còn ngồi chễm chệ, một chân ghếch tướng lên ghế, chân kia thõng xuống đất, ung dung rít điếu cày. Tiếng rít rèn rẹt nghe mà phát khiếp. Rồi bác ấy xì một hơi bã thuốc đen sì bắn vào góc chân tường, nín thở, mặt đỏ gay như gấc chín. Một lát sau bỗng trợn mắt, hai tay chới với giữa không trung như bắt chuồn chuồn, mãi mới vịn được vào thành ghế. – Nó vừa kể vừa ôm bụng cười:

– Con nhìn thấy vừa sợ vừa buồn cười. Cứ ngỡ bác ấy sắp cưỡi khói để bay lên trần nhà. Con ghét nhất là cái mùi thuốc lào. Bác hút xong, người bác hôi đã đành, lây sang cả nhà mình. Đến cái rèm cửa cũng ám mùi khó chịu ấy.

Được thế, vợ tôi lại chêm thêm, giọng nửa đùa nửa thật mà nghe gai cả tai:

– Mẹ cũng bực bác ấy lắm chứ, chẳng qua là nể bạn nối khố của bố nên không tiện nói ra thôi. Con thử nghĩ mà xem, thiên hạ bước chân vào nhà mình, gặp bố đứa nào chẳng “dạ, thưa anh”, “báo cáo anh”, nghe còn lọt tai. Có ai như bác ấy đâu, cứ oang oang “mày”, “tao” như đang đứng giữa bờ ruộng gọi nhau đi tát nước. Thế mà bố mày vẫn tỉnh bơ, chịu được cũng tài.

Nghe đến đó thì tôi không nhịn nổi nữa. Bao nhiêu bực dọc chẳng hiểu từ đâu đỏ dồn lên mặt, khiến tôi quát khá to:

– Bố cấm hai mẹ con từ nay không được nói thế này nữa! Đây là lần cuối bố nghe chuyện này đấy! Bác Quang là bạn sống chết có nhau của bố. Hồi chiến tranh, không có bác ấy thì chưa chắc bố còn lành lặn mà ngồi đây cho hai mẹ con cằn nhằn đâu. Người ta thân lắm mới xưng hô nhau như thế!

Căn phòng bỗng im bặt. Vợ tôi khựng lại. Con gái đang bĩu môi cũng tròn xoe mắt nhìn mẹ. Hai mẹ con ngơ ngác nhìn nhau, chẳng nói thêm lời nào nữa. Cái im lặng ấy khiến tôi thấy hơi ân hận. Mình nóng nảy quá chăng? Nhưng lạ một nỗi, ngay lúc ấy, giữa cái cảm giác bênh vực bạn vừa có chút day dứt với vợ con, tôi lại bỗng thấy… ghét, ghét Quang “còm”. Ừ ghét thật. Thằng cha này nhiều khi cũng chẳng biết điều. Bạn thì bạn thật, sống chết có nhau thật, nhưng ngày xưa khác, bây giờ khác chứ. Người ta ai rồi cũng phải đổi thay theo cảnh ngộ. Mình đã có cương vị, có thể diện, đi đâu thiên hạ cũng kính trên nhường dưới. Nó cứ giữ cái lối xồng xộc ấy mãi, nhiều khi làm mình khó xử.

Nghĩ thế, tôi lại thấy ngượng với chính mình. Bởi, thẳm sâu trong bụng, tôi biết rõ một điều: thứ là tôi bực không phải cái giọng oang oang của Quang, cũng chẳng phải tiếng “mày tao” trống không ấy. Mà là bởi mỗi lần nghe nó gọi thế, tôi lại giật mình nhớ ra thằng “tôi” ngày xưa, thời còn là lũ trẻ quần áo thủng đít cùng nhau chăn trâu chăn bò, đánh khăng, đánh đáo. Thời cái thằng lính quèn chân đất ngày xưa… Hóa ra vẫn còn đâu đó, chưa chịu chết hẳn dưới lớp áo quần bảnh bao và những lời “thưa gửi” bóng bẩy của hôm nay.

Bao chuyện về Quang “còm” làm tôi cứ nghĩ miên man mãi, mà sao từ trong lắng sâu vẫn thấy thương nó nhiều hơn, nhất là vào những lúc như thế này, không có nó bên cạnh. Tiếng gọi mày tao sao gần gũi thân thương thế, nó ẩn sâu trong tâm khảm tôi từ những ngày ấu thơ cho đến nay, không thể dễ dàng gột bỏ hết được. Đã nhiều lần tôi muốn quên nó đi, nhưng sao khó thế. Vào những lúc cô đơn như lúc này, tôi lại da diết muốn được nghe tiếng gọi “mày tao” của hai đứa Quang “còm” và Lượng. Thế nhưng, quanh tôi, tất cả vẫn lặng im.

***

Giá như chiều hôm qua cậu Lượng không đột ngột từ quê khăn gói ra nhà tìm tôi, có lẽ những gì còn đọng lại trong tôi về thằng Quang “còm” vẫn nguyên vẹn là một miền ký ức đẹp. Vừa lem nhem bùn đất vừa thơm mùi rơm rạ, thứ ký ức chỉ cần chạm nhẹ cũng đủ nghe lòng ấm ran như bếp lửa ngày đông. Nhưng đời vốn hay có chữ “ai ngờ”. Nó bé tí teo vậy thôi mà nhiều khi sắc hơn cả mũi dao, bất thần chọc thẳng vào tim người ta một nhát, đau nhói. Đấy, cậu Lượng ngồi trước mặt tôi chiều qua, mặt đỏ gay, hai gò má giật giật, cánh tay cứ lia trong không khí như đang vung dao phát cây, giọng nói cộc lốc, ngắt quãng, như từng tiếng bị nén cơn tức tối lâu ngày:

–  Ông biết không? Tôi đau đầu với thằng Quang lắm! – Nói rồi cậu ta chống hai tay xuống bàn, nghiến răng như thể chỉ cần nhắc đến tên bạn lại sôi lên:

– Này nhé! Nó có bà vợ khoẻ mạnh như trâu mộng, tháo vát khỏi chê, đảm đang chiều chồng, chăm con hết nước hết cái. Nó hơn đứt hai đứa mình là đã lên chức ông nội của ba đứa cháu kháu khỉnh, con hai thằng lớn cả. Còn thằng út thứ ba cũng đã cưới vợ, ra ở riêng từ đầu năm rồi. Ba đứa con, đứa nào cũng đều có công ăn việc làm  tử tế, thu nhập khấm khá. Một nhà ở vùng quê được thế, thiên hạ nhìn vào chỉ có thèm nhỏ dại. Ấy vậy, đúng cái số “sướng mà không biết sướng”, để rồi lú lẫn, trượt chân đến cuối đời còn làm trò cho làng trên xóm dưới đàm tiếu!

Lượng dừng lại, nhấc chén nước trà uống một ngụm mà cổ họng vẫn chưa trôi hết cục tức. Đặt mạnh cái chén xuống bàn, cậu ta nói tiếp, giọng hạ thấp hơn nhưng càng nghe càng gai người:

– Mọi chuyện bắt đầu từ ngày con dâu út báo có thai. Hôm ấy thằng út vừa sang Hàn được mấy bữa. Đáng lẽ nghe tin ấy nó phải mừng húm, phải chạy đi khoe khắp làng mới phải. Đằng này mặt nó cứ sầm sầm như có đám. Cả ngày lầm lầm lì lì, đi ra đi vào như mất hồn. Nhiều lúc ngồi đờ ra, mắt nhìn đâu đâu, nom như trong bụng có ổ mối đang đục khoét. – Lượng ngừng hẳn. Cái cách cậu ta lặng đi làm tôi thấy sống lưng lạnh ngắt. Một lúc khá lâu, Lượng mới chậm rãi cất lời, từng chữ như rơi xuống nặng trịch:

– Thú thực với ông, ở quê người ta bảo thằng Quang “còm” đã hết thuốc chữa rồi. Ban đầu hàng xóm ì xào chuyện nó có ý tứ nhằng nhịt với con dâu, tôi còn gạt phắt đi. Nghĩ bụng thiên hạ rỗi hơi đặt điều, ai lại thế. Bạn bè với nhau bao năm, tôi biết nó chứ. – Cậu ta cười nhạt. Nụ cười méo xệch như một vết rạn:

– Nhưng rồi cái chuyện “à ơi” ấy ngày một phình ra như men rượu gặp nắng. Không thể làm ngơ được nữa. Tôi đành phải giở lại ngón nghề trinh sát ngày xưa, lặng lẽ theo dõi, bí mật điều tra. Mất cả tháng trời mới nắm được chứng cứ trong tay… đủ để lột mặt cái thằng mất nết ấy ra giữa thanh thiên bạch nhật.

Nói đến đó, Lượng nghiến chặt quai hàm. Còn tôi thì chết lặng, cứ ngồi trân ra nhìn cậu ta, lòng rối như tơ vò. Trong đầu, cái bóng gầy nhẳng của thằng Quang “còm”, ngày nào vẫn đang toe toét cười, gọi tôi một tiếng “mày” thân thiết. Mà sao giờ nghe xa ngái như vọng về từ một kiếp khác.

Tranh của họa sĩ Trần Lưu Hậu

Rít một hơi thuốc lào thật sâu, Lượng ngửa cổ nhìn lên trần nhà, nhả một dải khói trắng đặc quánh bay lên. Khói chưa kịp tan thì cơn ho sù sụ đã kéo đến, làm cả thân hình gầy gò của cậu ta rung lên bần bật như cây tre gặp gió mạnh. Ho xong, Lượng quẹt khóe miệng, ngồi thừ ra một lát, rồi mới thủng thẳng cất lời, cái giọng chậm rãi ấy nghe còn nặng nề hơn cả lúc cậu ấy quát tháo:

–  Tôi để ý nó lâu rồi, cái thằng Quang “còm” chăm con dâu lạ lắm ông ạ. Nó cứ thập thò thậm thụt bên ấy suốt. Lúc thì xách cân hoa quả, lúc thì dúi túi sữa, khi lại lẳng lặng mang về cái nọ cái kia, mà toàn dành riêng cho con dâu đó. Đành rằng phận bố chồng ở nhà đỡ đần con cái, nhưng nói gì thì nói cũng phải biết giữ ý, biết chừng mực, phải có khoảng cách cho thiên hạ nể. Nhất là lúc chồng nó đang đi xa biền biệt. Những việc ấy, đàn bà trong nhà lo liệu mới phải, chứ can hệ gì đến nó mà xăng xái như mèo thấy mỡ thế? – Lượng chép miệng, cái tiếng “chậc” nghe khô khốc như que củi mục gãy ngang:

– Tôi đã mấy lần vì tình nghĩ bạn bè mà gọi riêng nó ra, lựa lời nói điều hơn lẽ thiệt. Nào ngờ cái thằng ấy chẳng những không biết nghe, lại còn trợn mắt quát át: “Mày biết cái gì mà nói! Việc tao, tao lo. Đừng xía vào!”. – Lượng ngừng lại. Mắt cậu ta đỏ quạch, quai hàm bành ra như cố ghìm một cơn giận đang sôi. Một lúc lâu, cậu ta mới lắc đầu cười nhạt, cái cười méo mó như vừa tự giễu mình vừa giễu đời:

– Ông nghe có tức không cơ chứ! Lúc ấy tôi muốn tát bốp vào cái mặt nó rồi chửi thẳng: “Thế mày không biết nhục à? Tháng nào cũng lén la lén lút đạp xe chở con dâu lên tận bệnh viện huyện để khám! Mày tưởng cái trò ấy che nổi mắt thiên hạ chắc? Không có mờ ám thì việc quái gì phải dắt díu nhau lên tận nơi xa xôi ấy? Ở xã thiếu gì trạm xá! Tao với thằng Hoàng coi mày là bạn chí cốt nên mới nhẫn nại kéo mày lại, cứu mày khỏi trượt dài. Chứ như đứa khác, ai hơi đâu mà nhọc lòng! Mày còn chút liêm sỉ thì nghĩ đến vợ mày, nghĩ đến mặt mũi bọn tao, tỉnh ra trước khi quá muộn!”. – Nói đến đó, Lượng lại rít mạnh một hơi thuốc nữa, nhưng lần này không nhả khói ngay. Cậu ta ngậm chặt miệng, như thể nuốt cả cục tức vào lòng. Mãi sau mới buông ra từng làn mỏng tang, giọng hạ xuống, pha chút chua chát đến buồn cười:

– Mà cũng lạ thật ông ạ! Bà vợ nó hiền lành, tinh ý thế, vậy mà cứ trơ ra như tượng đất. Tôi nhiều phen nghĩ bụng, chắc thằng Quang “còm” cho bà ấy uống phải thứ thuốc lú gì, làm thần kinh ghen tuông tê dại cả. Chứ đàn bà đời nào thấy chồng lăng xăng bên con dâu mà vẫn tỉnh bơ như không? Nếu là vợ tôi, chắc nó cầm  chổi quét tôi ra tận đầu làng từ lâu rồi!

Lượng cười khẩy một tiếng. Tiếng cười ngắn ngủi khô đét. Còn tôi thì ngồi chết lặng. Trong làn thuốc bảng lảng trước mặt, cái bóng Quang “còm” ngày xưa vẫn hiện lên gầy nhẳng, mắt sáng ranh mãnh, miệng toe toét gọi tôi một tiếng “mày” thân thuộc. Vậy mà giờ đây, những lời Lượng vừa nói cứ như ai lặng lẽ lấy bùn trát dần lên gương mặt ký ức ấy, làm tôi muốn gạt đi mà không sao gạt nổi.

Lượng hẳn đã ấm ức lắm. Cái nỗi ấm ức vì bị dồn nén bao ngày, nay mới có dịp vỡ òa như đập nước lâu năm bật tung cửa xả. Cậu ta vẫn nói, môi vẫn động, hai bàn tay vẫn vung lên hạ xuống như muốn xé toạc cả khoảng không  trước mặt. Nhưng hai tai tôi lúc ấy đã ù đặc, chẳng còn nghe rõ thêm được mấy nữa. Tiếng cậu ta xa dần, nhòe dần, như vọng từ một bờ bên kia hun hút. Trong đầu tôi chỉ còn quanh đi quẩn lại một câu hỏi, nặng như tảng đá đè ngang ngực: Vậy là thằng Quang “còm” của chúng tôi hỏng thật rồi sao? Người đời vẫn bảo: “Thức đêm mới biết đêm dài, ở lâu mới biết lòng người cạn sâu”. Nghĩ mà chát.

Một cái thằng Quang “còm” xưa nay vẫn sống hết lòng vì bạn, cái gì khó cũng giành lấy phần mình, cái gì ngon lại nhường cho kẻ khác. Nó đâu phải tử tế một sớm một chiều cho thiên hạ nhìn thấy rồi khen lấy khen để. Cái nết đó từ thủa còn cởi truồng tắm sông, lớn lên giữa bùn đất quê mùa mà vẫn sạch như cây lúa mới trổ đòng. Rồi những năm ở chiến trường nơi mưa bom bão đạn. Giữa cái thời “giọt nước cuối cùng, viên thuốc cuối cùng” cũng quý hơn vàng, nó vẫn lặng lẽ dúi phần mình sang cho bạn, miệng cười tỉnh queo:

– Tao hết khát rồi, mày uống đi.

Cho dù lúc ấy khát đến khô khốc cả họng, đói đến mắt hoa lên mà nó vẫn nói cứng. Có lần bom dội sát mép hầm, đất đá trút xuống ào ào như trời sập. Tôi co rúm trong góc, chân tay cứng đờ, còn nó cứ gan lì đứng chặn ngay cửa hầm, lưng khom xuống như muốn lấy thân mình che hết mảnh gang mảnh thép cho tôi. Đạn réo trên đầu mà mặt nó tỉnh bơ, cứ như đứng ngoài hiên ngó cơn mưa rào đầu hạ. Sau trận ấy tôi hỏi:

– Mày không sợ chết à?

Nó cười hềnh hệch, chìa hàm răng khấp khểnh:

– Sợ chứ! Nhưng nếu chết hết cả thì phí, thôi tao đứng ngoài, may ra còn cứu được mày. – Nó nói nhẹ tênh, như kể chuyện bắt được con cá rô ngoài ruộng.

Trong đám bạn bè chúng tôi, ai mà chẳng quý, chẳng nể thằng Quang “còm”. Cái dáng gầy nhẳng như cọng rơm ấy vậy mà sống hiên ngang, tử tế, đến mức nhiều khi người khác thấy xấu hổ vì không tốt được như nó. Thế mà giờ đây… Chỉ mấy lời nói của Lượng đã làm cho quãng đời tôi nghĩ về nó chao đảo. Tôi thấy như có ai đó vừa cầm búa nện đánh “choang” một nhát vào bức tường đẹp mình gìn giữ suốt bao năm, để từ đó những đường rạn nhỏ bắt đầu bò ra chằng chịt. Không, tôi vẫn không tin. Tôi không tin cái thằng từng nhường bạn giọt nước cuối cùng giữa lằn ranh sống chết, lại làm ra thứ chuyện nhơ nhuốc đến thế. Hay là đâu đó, giữa những điều Lượng kể, còn một khúc quanh nào chưa ai nhìn ấy? Một góc khuất nào đó mà người đời vì quá vội phán xét bỏ quên? Nghĩ vậy mà lòng tôi càng rối lên như canh hẹ. Ngoài kia, chiều đã sụp xuống tự lúc nào. Khói thuốc lào vẫn lơ lửng bay, quẩn quanh trên trần nhà như những dấu hỏi không lời, càng nhìn càng thấy nặng.

***

Bẵng đi một thời gian dài, ba đứa chúng tôi không liên lạc với nhau được. Không phải vì nhạt nghĩa, cũng chẳng phải bởi lòng người đổi khác, mà cái guồng quay cuộc sống cứ thế cuốn mỗi đứa một phương. Công việc của tôi ngày một bộn bề, hết cuộc họp này đến chuyến công tác khác, nhiều phen vừa kịp đặt chân xuống sân bay trong nước lại tất tả lên đường sang xứ người. Đến hôm nay tôi mới có dịp về làm việc với lãnh đạo tỉnh nhà. Chuyện của Quang “còm” lại ập đến, ứa lên trong tôi một nỗi buồn khó nói. Có lẽ, nhân dịp này mình tranh thủ về quê tìm hiểu lại một lần nữa, rồi cho cậu ta ra bã, trắng đen phải thật rõ ràng. Là bạn bè càng có trách nhiệm với nhau, nếu thật sự nó mắc lỗi lầm như thế, không thể nhân nhượng và tha thứ được. Phải…?

– Ơ! Thằng Hoàng đúng không? Trưa nay tao xem tivi thấy mày về làm việc với tỉnh, thế là vội vàng đạp xe từ nhà lên đây tìm ngay. Sợ chậm tí nữa hụt mất! – Tiếng ai như tiếng của Quang “còm” reo lên sau lưng tôi.

Nghe tiếng gọi, tôi ngoảnh mặt lại chạm ngay đúng mặt nó. Sao mà ghét thế! Thằng này trơ trẽn quá, chẳng có một chút gì gọi là xấu hổ cả. Nghe giọng nói và nhìn qua gương mặt của Quang “còm” cứ câng câng vô tư đến lạ. Chưa kịp để tôi phản ứng, nó đã sấn tới, dang tay ôm ghì lấy tôi. Cái ôm siết chặt chân chất, nồng mùi nắng đồng nội và mồ hôi của nó khiến tôi nhất thời khựng lại. Nó cười hề hề, giọng hồ hởi:

– Gặp được mày tao mừng quá! Ngày mai chủ nhật, vợ chồng tao mời mày về nhà dự một sự kiện mới của gia đình nhé! Tin vui to đấy! Con dâu út của tao vừa sinh con trai, mẹ tròn con vuông rồi!

Tôi ẫm ờ trả lời lúng búng trong miệng rồi mỉa nó: – Ờ… ờ… Chuyện của nhà mày cả thôn có ai lại không biết, chắc mọi người vui lắm đấy nhỉ? Phải không? Mày đúng là thằng…

Tôi định nói tiếp thì Quang “còm” cướp lời:

– Vui quá đi chứ! Mày tính xem – Hơn chín tháng trời qua tao lo lắng, bồn chồn mất ăn, mất ngủ, kể từ ngày nghe tin cô con dâu út mang thai. Trong lúc đó, thằng chồng nó hồi còn bé, thỉnh thoảng lại lên một cơn động kinh. Mày có nhớ không? Thời còn quân ngũ chúng mình đã vượt Trường sơn qua bao nhiêu cánh rừng khô xác bởi máy bay Mỹ rải chất độc da cam. Nhưng phải ăn rau rừng ở đấy, uống nước sông nước suối ở đấy. Bây giờ ai dám bảo chắc chắn rằng trong chúng ta không có ai bị nhiễm độc. Người ta nói: Thứ đó nó di truyền đến mấy thế hệ sau ấy chứ? Đấy, mày thấy gương thằng Hoà đó, vợ nó sinh ra ba đứa con đều ngây ngây, dại dại sống dở, chết dở. Khổ chưa? Nên khi vừa nghe được tiếng khóc oa oa chào đời của thằng cháu, tao mừng đến rơi nước mắt, lao ngay vào sở mục hết hình hài thằng bé. Thấy nó đầy đủ bình thường như bao nhiêu đứa trẻ trên đời này, không có một chút dị tật nào cả. Mừng lắm! Tao thở phào nhẹ nhõm, ôm chặt lấy bà vợ và cứ thế hét toáng lên: “Cảm ơn ông bà tổ tiên, cảm ơn trời đất! Vợ chồng con sung sướng và hạnh phúc quá…!”

Quang “còm” nheo mắt, nhoẻn miệng cười mãn nguyện rồi buông tôi ra, vội vàng quay xe trở về nhà. Nhưng còn cố ngoái đầu lại nói khẳng định:

– Cả nhà tao đợi mày đấy! Nhớ nhé…!

Tôi bất ngờ, sửng sốt và đứng yên như trời trồng. Cái miệng ú ớ cứng đơ, trố mắt nhìn theo cái dáng còm nhom tất bật đạp xe của nó. Quần xắn móng lợn ống thấp, ống cao. Lưng áo bạc trắng của mồ hôi muối đang hoà vào dòng người tấp nập, hối hả ngược xuôi trên đường phố của chiều cuối thu se se lạnh.

  VÕ MINH

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *